Đảng mạnh – Nước bền, quy luật tất yếu của Việt Nam phát triển, văn minh, hùng cường, thịnh vượng

A strong Party A resilient Nation: An inevitable path for Vietnam toward development, civilization, strength, and prosperity

PGS.TS. Đỗ Ngọc Hanh
Lê Thế Sơn
Đào Trọng Anh Dũng
Trường Sĩ quan Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: dohanh240hvct@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Từ ánh sáng của mùa Xuân năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa, giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Trên cơ sở nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bài viết đề xuất những giải pháp tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng để  hiện thực hóa khát vọng xây dựng nước Việt Nam phát triển, văn minh, hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Đảng mạnh; Nước bền; Việt Nam phát triển; kỷ nguyên mới; mùa Xuân 1930.

Abstract: Since the spring of 1930, under the leadership of the Communist Party of Vietnam, the country has steadfastly advanced along the socialist path, achieving historically significant accomplishments and enhancing Vietnam’s position and prestige in the international arena. Based on identifying and refuting erroneous and hostile viewpoints, this article proposes solutions to strengthen Party building and rectification in order to realize the aspiration of developing Vietnam into a prosperous, powerful, civilized, and developed nation in the new era.

Keywords: A strong Party; a resilient nation; a developed Vietnam; a new era; the Spring of 1930.

1. Đặt vấn đề

Kể từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, đây không chỉ là nhiệm vụ “then chốt của then chốt”, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn vong của Đảng, mà còn quyết định sự phát triển bền vững của đất nước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, văn minh là điều kiện quyết định mọi thắng lợi” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.34). Tuy nhiên, lợi dụng quyền “tự do ngôn luận”, trên internet, mạng xã hội thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đã gia tăng các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu tốt đẹp của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gây hoài nghi về vai trò lãnh đạo đất nước phát triển, văn minh, hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới của Đảng. Theo đó, nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chống phá, xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình mới.

2. Nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chống phá, xuyên tạc quy luật Đảng mạnh – Nước bền  

Một là, xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta. 

Thời gian qua, lợi dụng Đảng, Nhà nước ta đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên internet, mạng xã hội, các thế lực phản động đã “mượn gió bẻ măng”, “đục nước béo cò” để xuyên tạc trắng trợn, bóp méo sự thật. Chúng cho rằng “cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam là thanh trừng nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích”; vu cáo Đảng, Nhà nước ta đang “ở thế lưỡng nan đối nghịch” với suy nghĩ chủ quan “chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị”. Trong nhiệm kỳ 2020 – 2025, lợi dụng “các vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, Công ty AIC, Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB, Tập đoàn Phúc Sơn, Tập đoàn Thuận An hay các vụ án liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản, đấu thầu, đấu giá, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước xảy ra tại Bình Dương, Bình Thuận, Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Yên Bái, Vĩnh Phúc, Lâm Đồng, Đồng Nai, An Giang; các vụ án xảy ra tại Cục Đăng kiểm Việt Nam và trung tâm đăng kiểm các địa phương…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.370) của một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, các thế lực phản động đã lấy hiện tượng đánh đồng thành bản chất, quy chụp cái đặc thù với cái phổ biến rằng “toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam đang rơi vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất”. Chúng trắng trợn rêu rao “đó là bản chất, căn bệnh nan y, kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền”.

Tuy nhiên, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí của Đảng và Nhà nước ta đã minh chứng một cách rõ ràng, quyết liệt về tính triệt để, không khoan nhượng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Trong nhiệm kỳ 2020 – 2025, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã tiến hành kỷ luật hơn 2.380 đảng viên do phạm tội tham nhũng. Hơn 29.600 đảng viên do vi phạm trách nhiệm nêu gương và những điều đảng viên không được làm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong số đó, diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý là 176 cán bộ (gồm 49 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng và 24 sĩ quan cấp tướng Quân đội, Công an), cả đương chức hoặc đã nghỉ hưu đều bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự… (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.369-370). Những con số “biết nói” trên đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu xuyên tạc, vu khống Đảng, Nhà nước ta về “thanh trừng phe cánh” hay “đấu đá nội bộ” trong công tác phòng, chống tham nhũng. Đó là sự suy diễn độc địa, vô căn cứ hòng bôi nhọ sự quang minh chính đại của Đảng ta.

Hai là, xuyên tạc về cơ cấu tổ chức và công tác cán bộ của Đảng.

Nhiều tổ chức phản động như “Hội Anh em dân chủ”, Việt Tân; một số hãng truyền thông nước ngoài RFA, VOA, RFI, BBC (Có các chương trình phát sóng bằng tiếng Việt), Chân Trời Mới Media… đã tán phát nhiều bài viết trên internet, mạng xã hội (Facebook, Youtube, Zalo, X) xuyên tạc, cắt ghép nhiều hình ảnh giả mạo nhằm công kích, đả phá kịch liệt chủ trương của Đảng tinh gọn bộ máy, hệ thống chính trị. Chúng cho rằng, việc tinh gọn tổ chức bộ máy là “làm yếu hệ thống” hoặc việc luân chuyển cán bộ là “gây mất ổn định nội bộ”.

Rõ ràng, những luận điệu này là sự xuyên tạc trắng trợn về công cuộc cải cách tổ chức bộ máy và công tác cán bộ của Đảng. Bởi lẽ, những thành tựu rất đáng khích lệ từ thực tiễn sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp được các tỉnh, thành phố tổ chức hội nghị sơ kết đã chứng minh tính khoa học, sự đúng đắn của chủ trương này: “Mục tiêu gần dân, sát cơ sở, chuyển từ quản lý sang quản trị đã đạt kết quả tích cực” (Bảo Chi, 09/6/2026). Theo mục tiêu Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đề ra, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy qua một năm đã đạt ý nghĩa lịch sử và hoàn thành trước 5 năm. Kết quả cụ thể, như: toàn bộ hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước; các tổ chức chính trị – xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân… từ Trung ương đến địa phương được sắp xếp, tổ chức lại. Đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã được sắp xếp, sáp nhập (từ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giảm còn 34; từ 10.035 đơn vị hành chính cấp xã giảm còn 3.321); không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện; vận hành hệ thống chính quyền 3 cấp (Trung ương, tỉnh, xã) bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy đã được triển khai đồng bộ, toàn diện và triệt để trên phạm vi cả nước với quy mô rất lớn; không tổ chức cấp huyện (lần đầu tiên kể từ năm 1945), thực hiện chính quyền địa phương hai cấp; không tổ chức đảng đoàn, ban cán sự đảng mà thay bằng đảng ủy.

Những kết quả đạt được trong thời gian qua thể hiện sự quyết liệt, tinh thần quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong cải cách tổ chức bộ máy hệ thống chính trị: “…đã khẳng định sự đột phá, đổi mới tư duy trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, thực sự là cuộc cách mạng “sắp xếp lại giang sơn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.62). Rõ ràng, việc cải cách tổ chức bộ máy không phải “làm yếu hệ thống” mà là cuộc cải tổ toàn diện nhằm khắc phục sự cồng kềnh của bộ máy, chồng chéo giữa các bộ, ban, ngành; giúp tối ưu hóa bộ máy, tăng cường hiệu năng, hiệu lực, sức mạnh của hệ thống chính trị, giải phóng nguồn lực; tiết kiệm chi thường xuyên, tăng chi đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng an sinh xã hội. Sự tinh gọn này là tiền đề, cơ sở quyết định xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN văn minh, hiện đại, bộ máy của hệ thống chính trị hoạt động hiệu quả hơn, tạo sự đồng bộ cao hơn, bảo đảm sự lãnh đạo thông suốt từ Trung ương đến cơ sở.

Mặt khác, luận điệu “gây mất ổn định nội bộ” trong công tác luân chuyển cán bộ là hoàn toàn sai lầm, phản động. Bởi vì, Đảng ta đã chỉ rõ: “Tiếp tục triển khai chủ trương bố trí 100% các chức danh chủ tịch UBND, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra, chánh thanh tra tỉnh không phải là người địa phương, hoàn thành trước ngày 15/12/2025” (Ban Chấp hành Trung ương, 2025, tr.2). Chủ trương của Đảng được quán triệt, triển khai, tổ chức thực hiện một cách quyết liệt đã góp phần siết chặt kỷ cương, kiểm soát quyền lực, mang ý nghĩa chiến lược, lâu dài. Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “lần đầu tiên hoàn thành việc bố trí 100% bí thư tỉnh ủy, thành ủy, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp tỉnh, cấp xã không phải là người địa phương. Các chủ trương, giải pháp về công tác cán bộ được kịp thời thể chế, cụ thể hóa; việc sửa đổi, ban hành hệ thống các quy định về công tác cán bộ được triển khai toàn diện, đồng bộ với nhiều nội dung mới, đột phá, lần đầu được áp dụng, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, chặt chẽ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.57). Đây là một nguyên tắc cơ bản, chiến lược của Đảng nhằm chủ động phá vỡ các mối quan hệ lợi ích nhóm, tăng cường kiểm soát quyền lực, bảo đảm tính công tâm, khách quan trong công tác cán bộ. Tư duy và hành động quyết liệt của Đảng dựa trên nguyên tắc củng cố sự đoàn kết, kỷ cương và pháp luật, bảo đảm sự ổn định chứ không phải là sự xáo trộn vô nguyên tắc, gây mất ổn định. Tất nhiên, sự luân chuyển cán bộ theo quy hoạch và kỷ cương chặt chẽ này của Đảng để bảo đảm “Đảng mạnh” – tiền đề vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước – “Nước bền”.

Ba là, xuyên tạc về phương thức và tính hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.

Vẫn là những luận điệu của các thế lực thù địch chống phá, xuyên tạc nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, chúng cho rằng: “Đảng độc quyền lãnh đạo” để “Cản trở việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền”. Chúng rêu rao: “Đảng làm trì trệ việc giải quyết các vấn đề phức tạp”. Các thế lực thù địch, phản động đòi “góp ý” sửa đổi, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp, hiến định về Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội, nhằm mục đích xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng phê phán: “Đảng giữ độc quyền lãnh đạo”, “Đảng không đổi mới chính trị”, “Đảng không thực hiện đa nguyên chính trị”. Chúng xuyên tạc rằng: “Độc tài, Đảng trị là cái gốc sai chính của nhà cầm quyền Việt Nam hiện tại” và bao biện “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”.

Những luận điệu này hoàn toàn phản động, sai lầm và bị bác bỏ bởi thực tiễn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng thời gian qua. Với tư duy đổi mới, sự lãnh đạo quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, Đảng đã tự chỉnh sửa, tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo với mục tiêu cao nhất là bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của Nhân dân, thượng tôn pháp luật. Từ đó, Nhà nước pháp quyền XHCN vận hành hiệu quả hơn. Thực tiễn đó đã minh chứng, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền XHCN là bảo đảm tính chính trị, tính pháp quyền góp phần xây dựng nước mạnh, “Nhân dân ta mỗi ngày một ấm no, hạnh phúc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.403).

Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng tổ chức thực hiện kịp thời, hiệu quả với các giải pháp tháo gỡ những nút thắt, điểm nghẽn, của nhiều nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, phức tạp, chưa có tiền lệ trong lịch sử: trong bối cảnh “lửa thử vàng gian nan thử sức”, Đảng đã thể hiện bản lĩnh, năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu, tinh thần đoàn kết thống nhất; thể hiện ý chí, khát vọng phát triển, kiến tạo tương lai, tư duy đổi mới, hành động quyết liệt; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng với nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, đột phá, nhiều điểm sáng nổi bật, cơ bản hoàn thành các mục tiêu chủ yếu đã đề ra (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.17). Trước những thách thức toàn cầu như thiên tai, dịch bệnh Covid-19; an ninh phi truyền thống; đứt gãy chuỗi cung ứng, năng lượng; cạnh tranh chiến lược gay gắt… cùng với những nguy cơ tiềm ẩn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, Đảng đã đưa ra các quyết sách nhanh chóng, quyết liệt để ổn định chính trị, phát triển nền kinh tế trước những khó khăn, thách thức, ổn định vĩ mô, giữ vững độc lập tự chủ, tạo nền tảng quan trọng phát triển nhanh, bền vững hơn nữa trong kỷ nguyên mới.

3. Một số giải pháp hiện thực hóa quy luật “Đảng mạnh – Nước bền” trong kỷ nguyên mới

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua 40 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã tích lũy được “thế và lực”, sẵn sàng phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới. Năm 2025, quy mô nền kinh tế nước ta đạt khoảng 514 tỷ USD (GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD), vươn lên vị trí thứ 32 thế giới. So với giai đoạn đầu Đổi mới năm 1987, con số này tăng gấp hơn 100 lần. Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 193 nước thành viên của Liên Hợp quốc. Nước ta thiết lập mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực. Tính đến tháng 5/2026, Việt Nam có 46 đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược toàn diện tăng cường (Hoàng Hà, 31/01/2026). Tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước không ngừng được nâng cao. Việt Nam tích cực tham gia, đóng góp vào sự duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Trong sự biến động mau lẹ, có tính thời đại của thế giới; cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số… đem đến cả thời cơ và thách thức cho các quốc gia đang phát triển. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam được giữ vững; lợi ích bền vững của quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Đây chính là thời điểm Đảng mạnh – Nước bền, ý Đảng quyện lòng dân trong khát vọng xây dựng nước Việt Nam phát triển, văn minh, hùng cường, thịnh vượng.

Để hiện thực hóa quy luật này, cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, đổi mới phương thức, năng lực cầm quyền của Đảng.  

Tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi tổ chức, lực lượng đối với năng lực lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng. Với phương châm tuyệt đối không làm thay hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng: “Đảng lãnh đạo thông qua hệ thống chính trị mà Đảng là hạt nhân; lãnh đạo bằng tư tưởng, đường lối, chính sách và sự tiên phong gương mẫu, thường xuyên tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên; bằng thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật của Nhà nước; sự vận động, thuyết phục nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, giới thiệu đại biểu ưu tú vào bộ máy nhà nước và thông qua công tác kiểm tra – giám sát” (Tô Lâm, 16/9/2024). Theo đó, cần tiếp tục khẳng định Đảng lãnh đạo định ra Hiến pháp và pháp luật. Từng cán bộ, đảng viên của Đảng phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luận của Đảng. Với nguyên tắc, Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước thông qua chủ trương, đường lối. Nhà nước thực hiện, duy trì quyền lực quản lý xã hội trên cơ sở pháp luật. Về bản chất, Đảng lãnh đạo toàn diện Nhà nước để bảo đảm Nhà nước của dân, do dân và vì dân, quyền lực thực sự của Nhà nước thuộc về Nhân dân. Đảng chịu mọi trách nhiệm về thành tựu, hạn chế, thiếu sót trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thứ hai, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, giải quyết điểm nghẽn thể chế, mở đường cho đất nước phát triển.

Đây là “đột phá của đột phá”, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn thể chế để mở đường cho phát triển. Tạo lập hệ thống pháp luật minh bạch, khả thi, tôn trọng quyền con người, biến thể chế từ “điểm nghẽn” thành lợi thế cạnh tranh, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển theo hướng dân chủ, công bằng và hiện đại. Theo đó, Đảng, Nhà nước cần tiếp tục đổi mới phương thức quản trị theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch; xây dựng nền công vụ hành chính theo hướng phục vụ, chuyên nghiệp, liêm chính; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, gắn trách nhiệm, rõ sản phẩm; tăng cường kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương.  “Kiên quyết xóa bỏ cơ chế “xin – cho”, giảm tối đa thủ tục hành chính; đẩy mạnh số hóa toàn diện, toàn trình liên thông dữ liệu. Lấy thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách; bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.29). Khắc phục dứt điểm tình trạng: “Luật thì đúng mà làm thì khó”, “trên nghị trường thì thông, dưới cơ sở thì vướng”, “trên nóng, dưới lạnh”, “nói nhiều, làm ít”, “quyết sách đúng nhưng thực thi chậm”, gây lãng phí thời gian, nguồn lực, cơ hội, xói mòn niềm tin của doanh nghiệp và người dân.

Thứ ba, tiếp tục tinh gọn mạnh mẽ tổ chức bộ máy để tăng hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động.

Cần tiếp tục rà soát, chỉnh sửa, bổ sung các quy định liên quan đến tinh gọn tổ chức bộ máy, biên chế, vị trí việc làm, cơ chế, chính sách tài chính và các điều kiện bảo đảm thực thi. Đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của cải cách tổ chức bộ máy Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội một cách cụ thể, minh bạch; lấy mức độ hài lòng của người dân, hiệu suất công việc, hiệu quả kinh tế – xã hội làm thước đo. Đổi mới mô hình quản trị theo hướng phân cấp, phân quyền. Tăng cường trách nhiệm giải trình; có cơ chế kiểm tra, giám sát, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách về tinh gọn tổ chức bộ máy; có cơ chế sàng lọc đối với từng lĩnh vực. Xây dựng chế độ đãi ngộ theo vị trí việc làm, dựa trên hiệu quả công việc; xác định “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”. Xây dựng môi trường làm việc, nền văn hóa công vụ trong sạch, lành mạnh để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động được phát huy tối đa sở trường, sức sáng tạo trong công việc.

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng thành quả cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong phát triển đất nước.

Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế số và hạ tầng số đồng bộ. Xây dựng hành lang pháp lý linh hoạt, thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới (Sand-box), bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng. Tập trung đầu tư, nâng cấp hạ tầng mạng 5G/6G, hạ tầng dữ liệu quốc gia và trung tâm điện toán đám mây hiện đại. Đây là nền tảng cốt lõi để kết nối thông suốt và vận hành nền kinh tế số an toàn. Cải cách hành chính toàn diện thông qua số hóa 100% thủ tục công, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Thúc đẩy các ngành kinh tế trọng điểm như tài chính, logistics, nông nghiệp, sản xuất ứng dụng AI, dữ liệu lớn (Big Data) và chuỗi khối (Blockchain) để tăng năng suất. Xây dựng công dân số bằng cách phổ cập kỹ năng công nghệ, thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền.

Tiếp tục đổi mới chương trình giáo dục, đưa STEM và kỹ năng số vào mọi cấp học. Cơ cấu lại thị trường lao động để thích ứng với tự động hóa. Đồng thời, hỗ trợ mạnh mẽ các doanh nghiệp công nghệ số trong nước tự chủ công nghệ, tạo động lực nội sinh thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững. Theo đó, cần huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị vào thực hiện thành công “Cuộc cách mạng chuyển đổi số”. Khơi thông và phát huy tối đa mọi nguồn lực xã hội, nhất là nguồn lực con người – nhân tố quyết định của sự nghiệp đổi mới, của cuộc cách mạng – chuyển đổi số. Hiện thực hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; bảo đảm an ninh, an toàn trong quá trình thực hiện cuộc cách mạng – chuyển đổi số.

Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tiếp tục quán triệt, cụ thể hóa quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. “Xây dựng cơ chế lựa chọn, bố trí đúng cán bộ tốt, hội tụ đủ đức, đủ tài, đủ tâm, đủ tầm, đủ sức, đủ nhiệt huyết cách mạng vào các vị trí lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị để gánh vác trọng trách lịch sử của đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.405).Theo đó, công tác cán bộ cần được đổi mới theo hướng bố trí đúng người, đúng việc, đúng địa bàn; đánh giá cán bộ dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ và mức độ hài lòng của người dân thay vì chỉ căn cứ vào quá trình công tác. Xây dựng phương pháp và phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp theo hướng: “dân chủ, khoa học, hiệu quả, sâu sát thực tiễn, gần dân, sát dân, vì dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; kịp thời thay thế cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám quyết, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” (Bộ Chính trị, 2026, tr.2).

4. Kết luận

Quy luật Đảng mạnh – Nước bền là quy luật tất yếu, quyết định sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Hơn lúc nào hết, với sự thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng; với sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chúng ta nhất định sẽ “xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội… Việt Nam ta mỗi ngày một lớn mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn” (Tô Lâm, 17/5/2026).

Tài liệu tham khảo:
Bảo Chi (09/6/2026). Hà Nội sơ kết một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. https://dbndhanoi.gov.vn/bai-viet/ha-noi-so-ket-mot-nam-van-hanh-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap
Tô Lâm (17/5/2026). Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng đi. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/anh-sang-ho-chi-minh-soi-duong-cho-chung-ta-di-102260517102448777.htm
Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 201-KL/TW ngày 31/10/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình, kết quả công tác đại hội đảng bộ trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2025 – 2030 và một số nhiệm vụ thời gian tới.
Bộ Chính trị (2026). Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hoàng Hà (31/01/2026). 15 Đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/infographic-15-doi-tac-chien-luoc-toan-dien-cua-viet-nam-post940265.html
Tạp chí Quản lý nhà nước (29/7/2026). Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/07/29/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-va-trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-hoi-nghi-trung-uong-3/
Tô Lâm (16/9/2024). Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, yêu cầu cấp bách của giai đoạn cách mạng mới. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tiep-tuc-doi-moi-manh-me-phuong-thuc-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-yeu-cau-cap-bach-cua-giai-doan-cach-mang-moi