Chuyển đổi số trong công tác văn phòng đáp ứng yêu cầu quản trị mới

ThS. Hoàng Hồng Nhung
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, chuyển đổi số vừa là nhu cầu, vừa là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, chuyển đổi số được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ứng dụng chuyển đổi số đã có mặt trên khắp các lĩnh vực, trong đó công tác quản trị hành chính văn phòng tại các cơ quan hành chính nhà nước là một trong những hoạt động áp dụng chuyển đổi số đạt được nhiều lợi ích thiết thực, đóng góp rất lớn vào công cuộc phát triển Việt Nam thành quốc gia thông minh với đầy đủ các thành phần, gồm: chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số.

Từ khóa: Tính tất yếu, chuyển đổi số, công tác văn phòng, yêu cầu quản trị mới.

1. Nội dung chuyển đổi số trong công tác văn phòng

Chuyển đổi số không phải đơn thuần thay đổi cách thực hiện công việc từ thủ công truyền thống (ghi chép trong sổ sách, họp trực tiếp…) sang vận dụng công nghệ để giảm thiểu sức người. Trên thực tế, chuyển đổi số đóng vai trò thay đổi tư duy kinh doanh, phương thức điều hành, văn hóa tổ chức… Trong các cơ quan hành chính nhà nước chuyển đổi số là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý, hoạt động cũng như theo dõi, điều hành của các cơ quan, ban ngành. Chuyển đổi số sử dụng dữ liệu và hệ thống công nghệ số nhằm thay đổi trải nghiệm người sử dụng với các dịch vụ công do Nhà nước cung cấp. Việc thay đổi hệ thống công nghệ cũng làm thay đổi nghiệp vụ, mô hình và phương thức hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.

Văn phòng được hiểu là bộ máy làm việc tổng hợp và trực tiếp của một cơ quan chức năng, phục vụ cho việc điều hành của lãnh đạo; là nơi thu thập, xử lý thông tin hỗ trợ cho hoạt động quản lý; đồng thời bảo đảm các điều kiện về vật chất kỹ thuật cho hoạt động chung của toàn cơ quan, tổ chức đó.

Về chức năng, văn phòng có chức năng giúp việc, điều hành: xây dựng ch­ương trình, kế hoạch, lịch làm việc; theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện kế hoạch; tổ chức, điều phối các hoạt động chung của cơ quan. Văn phòng thực hiện chức năng tham mưu tổng hợp: tổng hợp, xử lý và cung cấp thông tin mọi mặt về tình hình hoạt động của cơ quan; tham mưu cho lãnh đạo về các biện pháp giải quyết và xử lý. Văn phòng thực hiện chức năng hậu cần, quản trị, bảo đảm cơ sở vật chất và phư­ơng tiện, điều kiện làm việc cho cơ quan.

Về nhiệm vụ, xây dựng chương trình công tác của cơ quan và đôn đốc thực hiện chương trình đó; bố trí, sắp xếp chương trình làm việc hàng tuần, quý, 6 tháng, hằng năm của cơ quan, đơn vị; thu thập, xử lý, quản lý và tổ chức sử dụng thông tin để từ đó tổng hợp, báo cáo tình hình hoạt động trong đơn vị, đề xuất kiến nghị các biện pháp thực hiện, phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo cơ quan, đơn vị; thực hiện công tác văn thư lưu trữ tài liệu, văn bản. Tư vấn văn bản cho lãnh đạo, chiụ trách nhiệm pháp lý, kỹ thuật soạn thảo văn bản do cơ quan ban hành. Tổ chức giao tiếp đối nội, đối ngoại, giúp cơ quan tổ chức trong công tác thư từ, tiếp khách, giữ vai trò là chiếc cầu nối cơ quan, tổ chức mình với cơ quan, tổ chức khác.

Lập kế hoạch tài chính, dự toán kinh phí hằng năm, quý, dự kiến phân phối hạn mức kinh phí, báo cáo kế toán, cân đối hằng quý, năm; chi trả tiền lương, thưởng, nghiệp vụ; mua sắm trang thiết bị cơ quan, xây dựng cơ bản, sửa chữa, quản lý cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện làm việc của cơ quan, bảo đảm yêu cầu hậu cần cho hoạt động và công tác của cơ quan; hướng dẫn nghiệp vụ văn phòng cho các văn phòng cấp dưới hoặc đơn vị chuyên môn khi cần thiết. Tổ chức và thực hiện công tác y tế, bảo vệ sức khỏe; bảo vệ trật tự an toàn cơ quan; tổ chức phục vụ các buổi họp, lễ nghi, khánh tiết, thực hiện công tác lễ tân, tiếp khách một các khoa học và văn minh.

Trong thời kỳ chuyển đổi số không còn giới hạn ở hồ sơ giấy tờ hay văn thư – lưu trữ truyền thống nữa mà ở thời kỳ này, văn phòng được mở rộng với mô hình quản trị, điều hành dựa trên dữ liệu, tích hợp công nghệ và hỗ trợ quá trình ra quyết định chính xác, thông minh hơn.

Một là, tập trung xây dựng văn phòng điện tử – văn phòng số. Đây là một nội dung rất quan trọng trong việc thực hiện chuyển đổi số trong công tác văn phòng. Văn phòng số tích hợp ứng dụng các phần mềm, giải pháp phục vụ các công tác quản lý, xử lý hồ sơ công việc, trao đổi thông tin, điều hành nội bộ, khởi tạo và quản lý văn bản tài liệu, công văn, báo cáo… Áp dụng văn phòng số, văn phòng điện tử gồm đầy đủ các phân hệ như: phân hệ văn thư, phân hệ văn bản đến, công việc, phân hệ văn bản giữa văn phòng và các đơn vị trong cơ quan, tổ chức; các tính năng nghiệp vụ mới nhằm đáp ứng đầy đủ các quy bản đi/phân hệ văn bản đi nội bộ, hồ sơ tài liệu, đánh giá, chấm điểm, tích hợp hệ thống gửi nhận văn định mới về công tác văn phòng và sẵn sàng cho việc mở rộng theo cải cách hành chính.

Hai là, công tác quản lý văn bản, hồ sơ tài liệu. Toàn bộ quy trình soạn thảo, ký số, phê duyệt, ban hành, tiếp nhận, lưu trữ văn bản đều được thực hiện trên môi trường số. Nhiều ứng dụng văn phòng đã được số hóa và liên kết với văn phòng số như lịch tuần công việc, đăng ký công tác, quản lý công tác… Với việc quản lý văn bản, hồ sơ tài liệu trên môi trường số, người quản lý cũng có thể dễ dàng nắm bắt, sắp xếp, đồng thời, nhắc nhở, đôn đốc và đưa ra ý kiến cho từng nội dung công việc. Vì vậy, tiến độ công việc được giám sát, mọi thông tin được truyền tải nhanh chóng, kịp thời.

Ba là, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ họp trực truyến, quản lý cuộc họp. Công tác xây dựng văn phòng điện tử đã khai thác tối đa các lợi ích mà chuyển đổi số mang lại trong đó cuộc họp không giấy tờ, hội họp không tập trung là một bước tiến lớn trong công tác văn phòng. Thông qua các nền tảng, ứng dụng kết nối trực tuyến, văn phòng đã tăng cường trao đổi, xử lý công việc trên môi trường mạng cũng như tổ chức các cuộc họp, hội nghị theo hình thức trực tuyến.

Cùng với đó, đầu tư hạ tầng thông tin tại đơn vị cũng đã được hoàn thiện, như: hệ thống mạng LAN, mạng WAN, đường truyền thông tin dung lượng cao, thiết bị đầu cuối kết nối liên thông từ văn phòng trung tâm đến các đơn vị trực thuộc, đáp ứng cho công tác tổ chức các hội nghị truyền hình trực tuyến được diễn ra thuận lợi và thông suốt. Nhiều ứng dụng họp trực tuyến, như: Zoom Meeting, Google Meeting, Microsoft Teams… được đưa vào ứng dụng trong công tác văn phòng. Với tính năng kết nối đa điểm cùng các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, mã hóa bảo mật, những ứng dụng này đã được sử dụng thường xuyên trong công tác điều hành, làm việc tại văn phòng.

Bốn là, thực hiện ký số trong công tác văn phòng. Chữ ký số là dạng chữ ký điện tử thay thế chữ ký tay, con dấu truyền thống đang sử dụng trên văn bản giấy. Việc triển khai ứng dụng chữ ký số trong hoạt động văn phòng nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi, gửi nhận văn bản điện tử, hồ sơ, tài liệu điện tử của các cơ quan, tổ chức trong thời kỳ kỷ nguyên số đang phát triển mạnh mẽ hiện nay. Việc áp dụng chuyển đổi số vào trong công tác văn phòng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, thúc đẩy hiệu quả quản trị văn phòng là một bước đi đúng đắn tại các cơ quan hành chính nhà nước. Để thực hiện được công tác này một cách toàn diện, sâu sắc thì việc nhận được sự quan tâm, hướng dẫn, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước cùng các tổ chức chính trị – xã hội là một yếu tố không thể thiếu trong bước đường đi tới thành công của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ở nước ta hiện nay.

2. Định hướng công tác chuyển đổi số văn phòng

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nghiên cứu nắm bắt, nâng cao năng lực tiếp cận và chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Ngày 27/9/2019 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó, nhấn mạnh yêu cầu cấp bách để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số. Nghị quyết khẳng định, chủ động, tích cực tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; phải nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội để Việt Nam có thể “bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới”. Cơ bản hoàn thành chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, hoàn thành xây dựng Chính phủ số.

Với mục tiêu đề ra, Nghị quyết xác định một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các nội dung được đề cập đến gồm: đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình chuyển đổi số quốc gia; chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu; chính sách phát triển nguồn nhân lực; chính sách phát triển các ngành và công nghệ ưu tiên; chính sách hội nhập quốc tế; chính sách thúc đẩy chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội. Trong đó, nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số. Các cơ quan đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội tiên phong thực hiện chuyển đổi số bảo đảm thống nhất, kết nối liên thông và đồng bộ.

Với kỳ vọng là cuộc cách mạng số sẽ thực sự tạo ra được sự bứt phá cho đất nước trong những thập niên tới, Văn kiện Đại hội Đảng XIII đã đặt ra yêu cầu thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số để tạo bứt phá về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh xây dựng chính phủ điện tử, tiến tới chính phủ số, trong đó, tập trung phát triển hạ tầng số phục vụ các cơ quan nhà nước một cách tập trung, thông suốt; thiết kế đồng bộ, xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống tích hợp, kết nối liên thông các cơ sở dữ liệu lớn, nhất là dữ liệu về dân cư, y tế, giáo dục. Thực hiện chuyển đổi số quốc gia một cách toàn diện để phát triển kinh tế số, xây dựng xã hội số. Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành xây dựng chính phủ số; đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và thứ ba trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số.

Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW, đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 14/01/2020 về thúc đẩy phát triển công nghệ số Việt Nam, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó, xác định: chuyển đổi số trước tiên là chuyển đổi nhận thức. Một cơ quan, tổ chức có thể tiến hành chuyển đổi số ngay thông qua việc sử dụng nguồn lực, hệ thống kỹ thuật sẵn có để số hóa toàn bộ tài sản thông tin của mình, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, cơ cấu tổ chức và chuyển đổi các mối quan hệ từ môi trường truyền thống sang môi trường số. Đồng thời, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tạo nền móng thực hiện chuyển đổi số, một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và một số lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số.

(1) Phát triển, hoàn thiện hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ kết nối với hệ thống thông tin báo cáo của các bộ, cơ quan, địa phương bảo đảm tích hợp, chia sẻ dữ liệu số phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chính quyền các cấp theo thời gian thực.

(2) Áp dụng công nghệ mới nhất về truyền thông xã hội (Social), cung cấp thông tin và dịch vụ hành chính công một cách đơn giản, thuận tiện trên di động (Mobile), phân tích dữ liệu lớn (Big Data Analytics), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo/thực tế tăng cường (VR/AR) để thực hiện chuyển đổi số toàn diện các mặt công tác chỉ đạo, điều hành của cơ quan nhà nước và cung cấp trải nghiệm tốt nhất, thân thiện nhất cho người dùng.

(3) Phát triển, hoàn thiện hệ thống Cổng Dịch vụ công quốc gia kết nối với Cổng Dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử của các bộ, ngành, địa phương để cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; đưa toàn bộ các dịch vụ công trực tuyến lên mức độ 3, 4. Thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo quy định tại Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ.

(4) Chuẩn hóa, điện tử hóa quy trình nghiệp vụ xử lý hồ sơ trên môi trường mạng, biểu mẫu, chế độ báo cáo; tăng cường gửi, nhận văn bản, báo cáo điện tử tích hợp chữ ký số giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội và các doanh nghiệp; thực hiện số hóa hồ sơ, lưu trữ hồ sơ công việc điện tử của các cơ quan nhà nước theo quy định.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách, triển khai hiệu quả Chiến lược chuyển đổi số quốc gia. Phát triển đồng bộ cả về thể chế, hạ tầng số, nền tảng số và nguồn nhân lực số. Triển khai các giải pháp nhằm nâng cao xếp hạng của Việt Nam về Chính phủ điện tử, đổi mới sáng tạo và Năng lực cạnh tranh toàn cầu theo tiêu chí của các tổ chức quốc tế.

Thứ hai, nâng cao tỷ lệ thủ tục hành chính xử lý trực tuyến. Tăng cường chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, nâng cao mức độ hài lòng của người dân. Tập trung triển khai Đề án Phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030 mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Tránh mọi tư duy cát cứ thông tin, số liệu, dữ liệu, cục bộ, sợ mất lợi ích và va chạm.

Thứ ba, thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số gắn với đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ. Chú trọng đào tạo kỹ năng số gắn với thị trường và đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số quốc gia.

Thứ tư, các doanh nghiệp cần đẩy nhanh việc đưa hoạt động sản xuất, kinh doanh lên môi trường số, thiết lập các kênh cung cấp dịch vụ số hiệu quả, nhất là thương mại điện tử, thanh toán trực tuyến… Đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng số, nhất là hạ tầng số dùng chung; chú trọng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; tăng cường hợp tác quốc tế trong chuyển đổi số. Đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Thứ năm, tăng cường truyền thông về lợi ích của chuyển đổi số để các cơ quan quản lý nhà nước, người dân, doanh nghiệp hiểu rõ về lợi ích và hiệu quả của chuyển đổi số, tích cực tham gia và thụ hưởng các lợi ích mà chuyển đổi số mang lại. Đẩy mạnh hướng dẫn, hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, các tiện ích, dịch vụ số an toàn, hiệu quả.

Chính nhờ những chủ trương chính sách, chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước mà thời gian qua, việc chuyển đổi số quốc gia của Việt Nam đã đạt được các kết quả tích cực: nhận thức và hành động về chuyển đổi số có nhiều chuyển biến; xây dựng chiến lược, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách được quan tâm chỉ đạo; hạ tầng số được tăng cường đầu tư, nhiều nền tảng số tiếp tục được phát triển; cơ sở dữ liệu tạo nền tảng cho Chính phủ số, công tác truyền thông được thúc đẩy; dịch vụ công trực tuyến triển khai ngày càng hiệu quả, sâu rộng; an ninh, an toàn thông tin tiếp tục được chú trọng; nguồn lực về tài chính và nhân lực dành cho chuyển đổi số được tăng cường; tỷ trọng đóng góp của kinh tế số vào GDP ngày càng tăng. Những kết quả này là cơ sở cốt lõi để nhìn ra những lợi ích của chuyển đổi số, đặc biệt là lợi ích của chuyển đổi số trong công tác văn phòng.

Bằng tất cả nỗ lực của cả hệ thống chính trị Việt Nam trong việc đưa chuyển đổi số vào trong tổ chức và quản lý xã hội một cách nhanh chóng đã cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của chuyển đổi số trong quản trị quốc gia. Bên cạnh xu thế khách quan của cuộc cách mạnh 4.0 cùng với nhận thức chủ quan của của toàn xã hội về chuyển đổi số và vận dụng chuyển đổi số vào trong quản lý, điều hành các cơ quan, tổ chức nhà nước nói chung cũng như văn phòng các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng là những hành động đúng đắn mang tính chiến lược nhằm định hướng, củng cố và ngày càng nâng lên một tầm cao mới trong công tác quản trị văn phòng.

4. Kết luận

Xu hướng chuyển đổi số đang diễn ra từng ngày, từng giờ tại Việt Nam. Chuyển đổi số có tác động mạnh mẽ và sâu rộng đến công tác quản lý hành chính nhà nước ở nước ta, đặc biệt là công tác hoạt động, quản trị văn phòng. Ứng dụng chuyển đổi số trong công tác văn phòng sẽ mang lại sự đổi mới căn bản, toàn diện trong hoạt động quản lý, điều hành, thay đổi quy trình, nghiệp vụ, thay đổi mô hình và phương thức hoạt động của văn phòng hiện nay.

Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương (2021). Quyết định số 27/QĐ-TW ngày 10/8/2021 về việc ban hành chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan đảng giai đoạn 2021-2025.
2. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2017). Thông tư số 32/2017/TT-BTTTT ngày 15/11/2017 quy định về việc cung cấp dịch vụ trực tuyến và bảo đảm khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Thủ tướng Chính phủ (2020). Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.
6. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 về việc phê duyệt chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
7. Thủ tướng Chính phủ (2021). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 về việc ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030.
8. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 về phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030.
9. Thủ tướng Phạm Minh Chính gửi thông điệp của Chính phủ về đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. https://baochinhphu.vn/thu-tuong-pham-minh-chinh-gui-thong-diep-cua-chinh-phu-ve-day-manh-chuyen-doi-so-quoc-gia.htm.