Hạnh phúc trong tư tưởng Hồ Chí Minh và hàm ý xây dựng mô hình quản trị quốc gia hiện đại

ThS. Nguyễn Thị Thu
Học viện Cán bộ TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh các quốc gia đứng trước nhiều thách thức về phát triển bền vững, việc tái định hình mô hình quản trị quốc gia theo hướng nhân văn và lấy hạnh phúc con người làm trung tâm là một đòi hỏi cấp thiết. Phạm trù “hạnh phúc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị khai sáng cho quản trị quốc gia hiện đại. Bài viết chứng minh sức sống và tính thời sự của nội dung “hạnh phúc” trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh qua những hàm ý xây dựng mô hình quản trị quốc gia hiện đại.

Từ khóa: Chủ tịch Hồ Chí Minh, hạnh phúc, quản trị quốc gia, con người.

1. Đặt vấn đề

Đối mặt với hàng loạt cuộc khủng hoảng, nhân loại nhận ra rằng, sự thành công của quản trị quốc gia không thể chỉ đo bằng tăng trưởng kinh tế mà còn phải tính đến chất lượng sống và mức độ hạnh phúc của người dân. Phạm trù “hạnh phúc” trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh cung cấp một định hướng lý luận sâu sắc cho việc tái cấu trúc mô hình quản trị quốc gia theo hướng nhân văn và bền vững. Đó là phải đặt con người vào vị trí trung tâm của quyền lực công, gắn lý tưởng phụng sự với trách nhiệm kiến tạo một xã hội hài hòa, trong đó hạnh phúc cá nhân hòa quyện với hạnh phúc cộng đồng và sự phát triển bền vững.

2. “Hạnh phúc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

“Hạnh phúc” tuy không được Chủ tịch Hồ Chí Minh luận bàn theo lối hàn lâm nhưng được thể hiện thống nhất, xuyên suốt trong mọi hành động thực tiễn cách mạng. Theo đó, có nhiều cấp độ tiếp cận khái niệm “hạnh phúc” trong tư tưởng của Người, ở mỗi cấp độ lại phản ánh một chiều sâu tư tưởng nhất định. Theo nghĩa hẹp, hạnh phúc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là trạng thái con người được bảo đảm các nhu cầu thiết yếu về vật chất và tinh thần trong cuộc sống hằng ngày.

Theo nghĩa rộng, hạnh phúc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận là thước đo trình độ tiến bộ của một chế độ xã hội, trong đó quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân, Nhà nước vận hành vì con người; trên lĩnh vực chính trị,  các quyền tự do, dân chủ và sự tham gia của người dân; trên lĩnh vực kinh tế, thực thi công bằng phân phối và phát triển bền vững; trên lĩnh vực văn hóa, thúc đẩy phát triển trí tuệ, đạo đức và bản sắc dân tộc; trên lĩnh vực xã hội, bảo đảm môi trường an toàn, công bằng, tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển toàn diện.

Với nghĩa rất rộng, hạnh phúc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là lý tưởng nhân văn và giá trị phổ quát của nhân loại, thể hiện khát vọng về một thế giới hòa bình, công bằng, nơi con người phát triển toàn diện, sống có đạo đức và hài hòa giữa các cá nhân, cộng đồng và nhân loại. Như vậy, “hạnh phúc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là trạng thái phát triển toàn diện của con người trong một xã hội công bằng, nhân văn và ổn định, đồng thời là giá trị chính trị – xã hội cốt lõi, phản ánh bản chất tiến bộ của chế độ vì con người.

Yếu tố cấu thành “hạnh phúc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một trạng thái xã hội mang tính tổng hợp, được cấu thành từ những điều kiện khách quan mà chế độ chính trị – xã hội tạo ra nhằm bảo đảm cho con người được sống, phát triển và cống hiến một cách toàn diện. Các yếu tố cấu thành hạnh phúc được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm và hiện thực hóa thông qua bốn lĩnh vực nền tảng.

Một là, có nền chính trị độc lập, tự do và dân chủ thực sự. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi con người không thể tồn tại trong một đất nước mất chủ quyền, nơi người dân bị áp bức, bóc lột. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để Nhân dân có quyền sống, quyền làm người và quyền mưu cầu hạnh phúc. Trong “Thư ngỏ gửi ông Anbe Xarô, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa”Người không chỉ mỉa mai chế độ thực dân tham tàn mà còn khẳng định tầm quan trọng quyết định hạnh phúc cá nhân con người của nền độc lập dân tộc: “Dưới quyền cai trị của ngài, dân An Nam đã được hưởng phồn vinh thật sự và hạnh phúc thật sự, hạnh phúc được thấy nhan nhản khắp trong nước, những ty rượu và ty thuốc phiện, những thứ đó song song với những sự bắn giết hàng loạt, nhà tù, nền dân chủ và tất cả bộ máy tinh vi của nền văn minh hiện đại, đã làm cho người An Nam tiến bộ nhất châu Á và sung sướng nhất trần đời”1.

Độc lập là điều kiện tiên quyết để một quốc gia có thể tự chủ về chính trị và toàn vẹn về chủ quyền; song, độc lập sẽ không trọn vẹn nếu không có tự do, như Người khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”2. Vì vậy, từ chỗ đặt tiêu ngữ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc cho Nhà nước dân chủ đầu tiên trong “toàn cõi Đông Nam Á” đến tuyên bố chân lý thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”3, cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “độc lập”, “tự do” là hai thành tố cơ bản tiên quyết cấu thành nên hạnh phúc của mỗi cá nhân con người.

Khi quốc gia dân tộc đã có độc lập, tự do thì một nền dân chủ thực sự là phương tiện mọi quyền tự do được thực thi hiệu quả. Dân chủ không phải là hình thức, càng không phải là khẩu hiệu; dân chủ phải thể hiện ở chỗ Nhân dân được làm chủ, được tham gia vào quá trình xây dựng và vận hành đất nước: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”4. Độc lập, tự do và dân chủ thực sự là ba trụ cột cơ bản gắn bó mật thiết, tạo nên nền tảng vững chắc cho một xã hội tiến bộ và là điều kiện thiết yếu để con người đạt tới hạnh phúc chân chính.

Hai là, có nền kinh tế đời sống vật chất và công bằng phân phối. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hạnh phúc của con người không thể tách rời đời sống vật chất, vì “tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”5. Do vậy, công việc đầu tiên mà Người quyết liệt thực hiện ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 là: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở”6. Đồng thời, Người kêu gọi toàn dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm như một giải pháp thiết thực để khắc phục nghèo đói, nâng cao đời sống vật chất và khẳng định tinh thần tự lực, tự cường dân tộc. Trong đó, sản xuất nhiều là để có của cải nuôi sống mỗi người, tiết kiệm là để tránh lãng phí, tích lũy cho đầu tư phát triển và chăm lo phúc lợi xã hội: “Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”7.

Phát triển kinh tế là cần thiết để “ai cũng có cơm ăn, áo mặc”, nhưng hạnh phúc sẽ không trọn vẹn nếu một nhóm người “cướp của chung do xã hội sản xuất ra, làm của riêng của cá nhân chúng, để chúng “ngồi mát ăn bát vàng”, còn phần lớn Nhân dân vẫn nghèo khổ, thiệt thòi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao nguyên tắc công bằng trong phân phối “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng”8. Công bằng không có nghĩa là cào bằng mà là phân phối theo lao động sao cho mọi người đều có cơ hội hưởng thụ thành quả chung, “cho ai nấy đều có phần hạnh phúc”9. Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh,  đời sống vật chất và phân phối công bằng chính là những yếu tố thiết yếu cấu thành hạnh phúc chân thực của mỗi con người và là mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng vì lợi ích của Nhân dân.

Ba là, có nền văn hoá dân tộc, khoa học và đại chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “kiên quyết chiến đấu, tranh quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà để cho văn hóa cũng như chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều được phát triển tự do”10. Rõ ràng, văn hóa theo Người không chỉ là tổng hòa các giá trị tinh thần mà còn là nhân tố quan trọng ngang hàng với chính trị, kinh tế trong quyết định hạnh phúc của xã hội. Trong đó, bản sắc văn hóa dân tộc chi phối mạnh mẽ tới hạnh phúc con người, vì đó là nền tảng tinh thần giúp mỗi cá nhân nhận thức rõ về cội nguồn và giá trị của chính mình trong cộng đồng. Người nêu rõ: “Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Kể năm hơn bốn ngàn năm. Tổ tiên rực rỡ. Anh em thuận hòa”11. Các giá trị truyền thống được nuôi dưỡng chính là những yếu tố tạo nên sự ổn định nội tâm, định hướng hành vi và thúc đẩy con người sống thiện, sống có trách nhiệm, từ đó làm nên hạnh phúc bền vững cả ở phương diện cá nhân lẫn cộng đồng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền văn hóa mới có đặc tính khoa học, bởi chỉ có khoa học mới giúp văn hóa phát triển đúng hướng, đáp ứng được yêu cầu của thời đại. Người nêu rõ: “Nền văn hóa mới của Việt Nam phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm cơ sở, phải học lấy những điều tốt đẹp của văn hóa nước ngoài, tạo ra nền văn hóa Việt Nam, sao cho văn hóa mới phải sửa đổi cho được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm sao cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập”12. Một nền văn hóa mang tính khoa học giúp con người thoát khỏi lối sống mê tín, lạc hậu, hình thành tư duy lý trí, khách quan và tiến bộ. Ngược lại, khi dân trí được nâng cao, con người có khả năng tiếp nhận, ứng dụng và lan tỏa các giá trị khoa học vào đời sống, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại. Do đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng một nền văn hóa có tính khoa học không thể tách rời nhiệm vụ “làm cho dân có học hành”13.

Đồng thời, văn hóa phải giúp mọi tầng lớp xã hội phát triển về tinh thần, nâng cao nhận thức và cảm nhận được sự gắn kết cộng đồng. Văn hóa đại chúng theo Hồ Chí Minh không chỉ truyền tải kiến thức, giá trị đạo đức và truyền thống mà còn tạo nên môi trường sống bình đẳng, khuyến khích từng cá nhân tìm thấy giá trị sống của bản thân, góp phần xây dựng cộng đồng hạnh phúc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyến khích quần chúng “mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình). Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định được nhiều hạnh phúc”14. Có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nền văn hóa dân tộc, khoa học và đại chúng không chỉ là ba yếu tố riêng biệt mà là một chỉnh thể thống nhất, bổ trợ cho nhau trong việc xây dựng một xã hội phát triển toàn diện, mang lại hạnh phúc bền vững. Đây chính là tư tưởng văn hóa nhân bản, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại, hướng tới một tương lai phát triển hài hòa, hiện đại và nhân văn.

Bốn là, một xã hội an yên, phát triển bền vững. Với Người, hạnh phúc không chỉ là sự đủ đầy vật chất trước mắt mà là trạng thái sống ổn định, an toàn, nhân văn và có tương lai cho mọi người dân. Trước hết, xã hội an yên là “có trật tự, an ninh tốt thì dân mới an cư lạc nghiệp”15. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến trật tự xã hội, đạo đức công dân và sự tôn trọng lẫn nhau trong cộng đồng. An yên không chỉ là sự vắng mặt của bất ổn mà là sự ổn định về tinh thần, sự tin tưởng vào cuộc sống vì được bảo vệ, yêu thương. Người luôn nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc chăm lo an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mọi người dân, nhất là lực lượng yếu thế, người có công: “phải hết sức chăm lo đến đời sống của Nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia đình thương binh, liệt sĩ, đời sống của nhân dân ở những vùng bị địch bắn phá nhiều… những gia đình thu nhập thấp và đông con”16. Bên cạnh đó, phát triển bền vững là nền tảng lâu dài để duy trì và nhân lên hạnh phúc.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà phải gắn với công bằng xã hội, nâng cao dân trí, đạo đức và bảo vệ môi trường sống… Người đặc biệt quan tâm đến việc kết hợp giữa phát triển vật chất và tinh thần, giữa hiện tại và tương lai, tạo nên một xã hội không ngừng tiến bộ mà không phải hy sinh con người và đạo lý. Do đó, Người yêu cầu mọi chính sách của Đảng và Nhà nước “phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người”17. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể khẳng định, một xã hội an yên, phát triển bền vững không chỉ là mục tiêu mà còn là phần tất yếu làm nên hạnh phúc đích thực của con người. Bởi lẽ, hạnh phúc không thể tồn tại trong bất ổn, bất công hay phát triển thiếu bền vững. Một xã hội chỉ thật sự hạnh phúc khi người dân được sống trong trật tự, có cơ hội phát triển toàn diện và có niềm tin vào tương lai lâu dài, vững chắc.

3. Hàm ý xây dựng mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Bước sang thế kỷ XXI, quản trị quốc giađược quan tâm và nhận thức là sự “tái phân bổ quyền lực từ giới tinh hoa chính trị trong bộ máy nhà nước sang người dân”18. Quản trị quốc gia hiện đại không chỉ là sự đổi mới về phương thức quản lý, mà còn là công cụ then chốt để kiến tạo hạnh phúc xã hội. Thực tiễn cho thấy, không ít mô hình quản trị quốc gia hiện đại vẫn “mắc kẹt” trong tư duy kỹ trị.

Ở một số quốc gia có chế độ phúc lợi tốt, người dân có mức sống cao, được bảo vệ trước nguy cơ rủi ro trong cuộc sống nhưng đời sống tinh thần vẫn không thoát khỏi căng thẳng, có tỷ lệ người mắc bệnh trầm cảm thuộc top cao nhất thế giới19. Trong khi đó, có chính phủ quá đề cao nguyên tắc thị trường mà ủng hộ tỷ lệ bất bình đẳng ở mức rất cao, thậm chí không xem người nghèo là một phần của xã hội, “phớt lờ” tái phân phối thuế vào điều tiết xã hội20. Thậm chí, có quốc gia đề cao “đời sống tâm linh” làm thước đo hiệu quả quản trị 21 dẫn đến dù có “thương hiệu” hạnh phúc nhưng vẫn đang phải đối mặt với nghèo đói, thất nghiệp tăng cao22… Từ những bất cập của quản trị quốc gia hiện đại, việc nghiên cứu phạm trù “hạnh phúc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều ý nghĩa định hướng sâu sắc.

Thứ nhất, phải kiến tạo chính sách phát triển quốc gia bằng tư duy khoa học. Phạm trù “hạnh phúc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trên một phương pháp luận duy vật biện chứng. Người xem hạnh phúc là một mục tiêu chính trị cụ thể, có tính thực tiễn và quyết tâm hiện thực hóa trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trước khi thế giới hiện đại đề cập đến “hạnh phúc” trong quản trị quốc gia hiện đại như một chuẩn mực tiến bộ, nhân văn thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hiện thực hóa ngay từ những năm đầu lập nước. Người nhìn nhận “hạnh phúc” gắn liền với các điều kiện khách quan của một quốc gia dân tộc, như: độc lập, tự do, an sinh xã hội, bình đẳng, hòa hợp cộng đồng và phát triển bền vững… mà không phải trạng thái cảm xúc cá nhân thuần tuý hay lý tưởng xã hội xa vời.

Từ việc xây dựng Hiến pháp, đặt Nhân dân ở vị trí quyền lực cao nhất, đến chính sách xóa đói giảm nghèo, phát triển văn hóa, chăm lo an sinh, bảo vệ môi trường sống. Tất cả đều được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ giữa mục tiêu cách mạng và đời sống thực tế của con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc khẳng định phương pháp luận cách mạng, khoa học và nhân văn trong tư duy quản trị quốc gia hiện đại nhằm bảo đảm quyền lực công vận hành vì con người, hướng tới mục tiêu tối thượng là hạnh phúc của Nhân dân và sự phát triển bền vững của xã hội. Phương pháp luận ấy không chỉ là kim chỉ nam cho hành động cách mạng trong thế kỷ XX mà còn gợi mở nền tảng lý luận và thực tiễn quý báu cho việc kiến tạo một mô hình quản trị quốc gia hiện đại, lấy con người làm trung tâm trong thế kỷ XXI.

Th hai, đặt “hạnh phúc” là mục tiêu tối thượng, thước đo quyền lực công. Tiêu ngữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho nền dân chủ Việt Nam không chỉ phản ánh sâu sắc vị trí của “hạnh phúc” trong mục tiêu cách mạng mà còn gợi mở hàm ý sâu sắc. “Đích đến” của quản trị quốc gia hiện đại tuy là minh bạch hóa quyền lực và thúc đẩy sự tham gia của người dân nhưng vẫn bộc lộ giới hạn khi thiếu một tầm nhìn xuyên suốt lấy hạnh phúc con người làm chuẩn mực đánh giá quyền lực công.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, hạnh phúc cho mọi người”23. Đây là bài học quý giá trong bối cảnh nhiều mô hình quản trị quốc gia hiện đại vẫn thiên lệch về kỹ trị, hiệu suất hoặc thị trường hóa mà chưa thực sự kiến tạo được nền tảng phát triển của dân, do dân và vì hạnh phúc của Nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm hạnh phúc không nằm ở sự hưởng thụ cá nhân mà ở tinh thần hy sinh và cống hiến cho Tổ quốc, Nhân dân, “vì nước, vì dân mà chịu khổ, một cái khổ rất có giá trị thì vật chất càng khổ, tinh thần càng sướng”24. Cuộc đời “hạnh phúc nhất đời”25 của Người là minh chứng sinh động cho một cuộc sống hạnh phúc thấm đẫm lý tưởng phụng sự, gợi mở một nguyên lý sâu sắc cho quản trị quốc gia hiện đại. Bởi vậy, hạnh phúc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là di sản tư tưởng mà còn là kim chỉ nam định hình một mô hình quản trị quốc gia hiện đại, nơi quyền lực công phải bắt nguồn từ Nhân dân, phục vụ Nhân dân và vì hạnh phúc đích thực “cho tất cả mọi người”26.

Thứ ba, gợi mở mô hình quản trị hiện đại toàn diện, nhân văn và bền vững. Quản trị quốc gia hiện đại được nhân loại kỳ vọng là phương thức thúc đẩy xã hội phát triển toàn diện, nhân văn và bền vững. Thực tế cho thấy, nhiều mô hình vẫn chú trọng thiên lệch về mục tiêu tăng trưởng kinh tế hoặc ngược lại, thiên lệch vào đời sống tinh thần, tâm linh mà xem nhẹ nền tảng đời sống vật chất thiết yếu của người dân… khiến quyền lực công dễ rơi vào trạng thái mất cân bằng và xa rời nhu cầu căn bản của con người.

Nghiên cứu phạm trù “hạnh phúc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy một định hướng nhất quán, toàn diện và hài hòa. Bên cạnh việc đặt hạnh phúc trong mối quan hệ hài hòa giữa vật chất và tinh thần, bền vững từ hiện tại đến tương lai, Người tuyệt đối không tách rời cá nhân khỏi hạnh phúc chung của toàn xã hội, coi đó là hai mặt gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời trong quá trình xây dựng cuộc sống tốt đẹp; thậm chí, Người xem hạnh phúc là kết quả của sự hy sinh và cống hiến vì lý tưởng cao đẹp.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc không dừng lại ở việc thụ hưởng quyền lợi mà nâng tầm thành một chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm công dân, trong đó mỗi người không chỉ mưu cầu hạnh phúc cho bản thân mà còn góp phần kiến tạo hạnh phúc chung: “Lực lượng của dân, tinh thần của dân để gây hạnh phúc cho dân”27. Đây là điểm cốt lõi giúp di sản tư tưởng của Người vượt lên trên những mô hình phúc lợi đơn tuyến, khi đặt con người vào trung tâm của sự phát triển với tư cách là chủ thể kiến tạo, không chỉ là đối tượng thụ hưởng. Vì vậy, phạm trù “hạnh phúc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh mở ra một tầm nhìn quản trị quốc gia hiện đại giàu tính nhân văn, hướng đến sự phát triển toàn diện và bền vững.

4. Kết luận

Khi nhân loại đang đối mặt với khủng hoảng giá trị thì phạm trù “hạnh phúc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh như một định hướng khai sáng ở đầu thế kỷ XX. Bởi lẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh là một danh xưng cao quý gắn với sự tiến bộ của thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh về “hạnh phúc” không chỉ là di sản tinh thần của dân tộc Việt Nam mà còn là một giá trị phổ quát, góp phần định hình những nguyên lý cốt lõi cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại trong hành trình kiến tạo một nền văn minh phát triển vì con người.

Chú thích:
1, 16. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 1. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 109, tr. 522.
2, 5, 6, 10, 18, 25. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 4. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 64, 175, 175, 64, 21, 21.
3, 11, 14, 26, 29. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 5. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. tr. 131, 157, 175, 176, 556.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 2. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.292.
7, 17. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 14. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 311, 694.
8, 9. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 11. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 601, 404.
12. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 3. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 255.
13. Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng (2016). Hồ Chí Minh  – Biên niên tiểu sử. Tập 3. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 321.
15. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 6. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 131.
19. Trần Thái Dương (2022). Quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 01/2022, tr. 85.
20. Christophen J.Andeison, Jason D. Hecht (2013). Happiness and the Welfare State: Decommodification and the Political Economy of Subjective Wellbeing. https://doi.org/10.1017/CBO9781316163245.015.
21. Statistico (2024). Chronic Depression Prevalence in European Countries. https://www.statistico.com/s/health-chronic-depression-rates-in-europe-by-country?utm.
22. Carol Groham (2017). Happiness for all, Princeton University Press, UK, p. 269, 280, 290.
23. Hà Vĩnh Thọ (2022). Hạnh phúc là con đường từ chuyển hoá nội tại tới cải tiến xã hội, vì một xã hội nhân ái. H. NXB Thế giới, tr. 168.
24. Helen Sullivan (2024). What happened to Bhutan’s ‘kingdom of happiness? https://www.theguardian.com/world/2024/oct/30/bhutan-what-happened-to-the-kingdom-of-happiness?utm.
27. J. Xanhtơny (1970). Một hiệp định không có ngày mai. Planète Action, Pari, 3/1970. tr. 101.