Nguyễn Thị Ngọc Anh
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
(Quanlynhanuoc.vn) – Nông nghiệp công nghệ cao được xem là hướng đi chiến lược để nâng cao hiệu quả sản xuất, nhưng sự thành công không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực kỹ thuật, số hóa và quản lý. Bài viết phân tích thực trạng lao động nông nghiệp, đánh giá thực trạng, đồng thời đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, đào tạo và thu hút lao động cho nông nghiệp công nghệ cao.
Từ khóa: Nguồn nhân lực, nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ, chuyển đổi số trở thành xu thế tất yếu đối với mọi ngành kinh tế, trong đó nông nghiệp được xác định là một ngành chủ lực nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam. Theo số liệu năm 2024, tổng số người có việc làm là khoảng 51,9 triệu người; trong đó, khoảng 13,7 triệu người làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm khoảng 26,5% tổng lao động1. Mặc dù có sự dịch chuyển sang công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, con số này cho thấy nông nghiệp vẫn sử dụng một lượng nhân lực đáng kể, đồng nghĩa với yêu cầu bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao khi mô hình nông nghiệp chuyển đổi số được mở rộng.
Hiện nay, tỷ lệ lao động có bằng hoặc chứng chỉ đào tạo (đã qua đào tạo) có xu hướng tăng, phản ánh chất lượng nguồn nhân lực toàn quốc được cải thiện. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ cao, tự động hóa, quản trị dữ liệu và các kỹ thuật số trong nông nghiệp đặt ra yêu cầu mới về kỹ năng, trình độ chuyên môn và năng lực thích ứng mà phần lớn lực lượng đang làm việc trong nông nghiệp truyền thống hiện nay chưa được chuẩn bị đầy đủ. Theo số liệu Cục Thống kê trong quý IV/2024, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 381,5 nghìn người, chiếm 49,9%. Thực tế đó cho thấy, có một khoảng cách rõ rệt giữa nguồn nhân lực sẵn có và nhu cầu về nhân lực chất lượng cao, hiểu biết công nghệ để triển khai nông nghiệp công nghệ cao, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số.
2. Thực trạng nguồn nhân lực nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam
2.1. Quy mô và chất lượng lao động nông nghiệp tại Việt Nam hiện nay
Sau cú sốc về đại dịch Covid-19, các ngành kinh tế của Việt Nam dần phục hồi. Vấn đề lao động – việc làm trong các ngành kinh tế trở nên nóng hơn bao giờ hết. Quy mô lao động ngành nông nghiệp trong giai đoạn 2023 – 2025 có xu hướng giảm về tỷ lệ ở khu vực nông thôn nhưng vẫn chiếm một phần lớn lực lượng lao động quốc gia và có sự chuyển dịch sang đào tạo nghề. Giai đoạn này, ngành tiếp tục tạo việc làm ổn định cho hơn 18 triệu lao động mỗi năm2, tuy nhiên, tỷ lệ lao động nông nghiệp có văn bằng, chứng chỉ còn thấp và năng suất lao động chưa cao so với các ngành khác.
Theo số liệu của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tổng số lao động có việc làm trong nền kinh tế Việt Nam tăng từ khoảng 51,287 triệu người năm 2023 lên 51,860 triệu người năm 2024, tương ứng mức tăng khoảng 573 nghìn người (1,1%). Trong đó, lao động nam chiếm ưu thế và tăng nhanh hơn, từ 27,269 triệu lên 27,668 triệu người, tương ứng tăng khoảng 399 nghìn người (1,46%), trong khi lao động nữ tăng từ 24,018 triệu lên 24,192 triệu người (0,72%). Phân bố theo khu vực cho thấy, lao động thành thị tăng đáng kể từ 19,071 triệu lên 19,919 triệu người (4,45%), trong khi lao động nông thôn giảm từ 32,216 triệu xuống 31,941 triệu người (0,85%). Tỷ trọng lao động nông thôn giảm từ 62,8% năm 2023 xuống 61,6% năm 2024, trong khi tỷ trọng lao động thành thị tăng từ 37,2% lên 38,4%, phản ánh xu hướng dịch chuyển lao động từ nông thôn sang thành thị do quá trình công nghiệp hóa và dịch vụ hóa3.
Bảng 1. Số lao động có việc làm trong nền kinh tế phân theo giới tính và theo thành thị, nông thôn năm 2023, 2024
Đơn vị tính: nghìn người
| Năm | Tổng số | Nam | Nữ | Thành thị | Nông thôn |
| 2023 | 51.287,00 | 27.268,98 | 24.018,02 | 19.070,73 | 32.216,27 |
| 2024 | 51.860,30 | 27.668,09 | 24.192,21 | 19.918,85 | 31.941,45 |
Sự chênh lệch tăng trưởng giữa nam và nữ cùng với xu hướng di chuyển lao động nông thôn đặt ra những thách thức quan trọng đối với ngành Nông nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Số lao động nông thôn giảm đồng nghĩa với nguy cơ thiếu hụt nhân lực trẻ, có khả năng tiếp nhận và vận hành công nghệ cao, trong khi sự tăng trưởng lao động thành thị chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp và dịch vụ. Đồng thời, chênh lệch giới tính cho thấy, lao động nữ nông thôn, vốn là một phần quan trọng trong sản xuất nông nghiệp chưa được tiếp cận đầy đủ các chương trình đào tạo kỹ thuật số và công nghệ.
Điều này cũng được phản ánh rõ ràng trong số liệu về lao động có việc làm trong ngành nông, lâm, thủy sản giảm nhẹ từ khoảng 13,815 triệu người năm 2023 xuống còn 13,671 triệu người năm 2024, tương ứng giảm khoảng 144 nghìn người (1,04%). Đây là xu hướng giảm nhẹ nhưng liên tục so với các năm trước, phản ánh sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ:
Bảng 2. Số lao động có việc làm và lao động có kỹ năng trong ngành nông, lâm, thủy sản năm 2023, 2024
Đơn vị tính: nghìn người
| Năm | 2023 | 2024 |
| Lao động có việc làm | 13.815,44 | 13.671,04 |
| Lao động có kỹ năng trong nông nghiệp, lâm nghệp và thủy sản | 5.824,05 | 5.600,66 |
Mặc dù tổng số lao động trong ngành nông, lâm, thủy sản còn tương đối lớn, nhưng lực lượng lao động có kỹ năng và đã qua đào tạo vẫn còn hạn chế và có xu hướng giảm. Năm 2023, tổng số lao động có kỹ năng trong ngành này là khoảng 5,824 triệu người, giảm xuống còn 5,601 triệu người năm 2024, trong khi tổng số lao động nông nghiệp chỉ giảm nhẹ từ 13,815 triệu xuống 13,671 triệu người, cho thấy sự giảm mạnh về nhân lực kỹ thuật.
Về đào tạo, tỷ lệ lao động trong độ tuổi lao động đã qua đào tạo tăng nhẹ từ 29,54% năm 2023 lên 31,01% năm 2024. Cụ thể, nam giới có tỷ lệ đào tạo cao hơn nữ (tăng từ 31,78% lên 33,62%), trong khi nữ chỉ tăng từ 26,82% lên 27,83%. Phân theo khu vực, lao động thành thị đạt tỷ lệ đào tạo cao (44,23% → 44,92%), còn lao động nông thôn thấp hơn nhiều (20,33% → 21,85%). Sự chênh lệch này phản ánh khoảng cách kỹ năng giữa thành thị và nông thôn, trong khi phần lớn lao động nông nghiệp vẫn tập trung ở các vùng nông thôn. Những số liệu này đặt ra thách thức quan trọng khi lực lượng có kỹ năng và được đào tạo chỉ chiếm tỷ lệ hạn chế, đặc biệt ở nông thôn.
Bảng 3. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn năm 2023, 2024
Đơn vị tính: %
| Năm | Tổng số | Giới tính | Khu vực | ||
| Nam | Nữ | Thành thị | Nông thôn | ||
| 2023 | 29,54 | 31,78 | 26,82 | 44,23 | 20,33 |
| 2024 | 31,01 | 33,62 | 27,83 | 44,92 | 21,85 |
Trong khi đó, dữ liệu về tỷ lệ lao động đã qua đào tạo phân theo ngành kinh tế cho thấy, có sự chênh lệch rõ rệt giữa các lĩnh vực. Trong ngành nông, lâm, thủy sản, tỷ lệ lao động được đào tạo chỉ tăng nhẹ từ 4,54% năm 2023 lên 4,68% năm 2024, phản ánh thực trạng nguồn nhân lực nông nghiệp chủ yếu thiếu kỹ năng chuyên môn và đào tạo bài bản.

Ngược lại, ngành khai khoáng có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo rất cao, tăng từ 62,72% lên 64,31% và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 21,52% lên 23,13%. Sự chênh lệch lớn này cho thấy, nông nghiệp vẫn là ngành lao động phổ thông, trong khi các ngành công nghiệp và khai khoáng ưu tiên lực lượng lao động kỹ thuật cao. Đối với việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao, điều này đặt ra thách thức lớn khi tỷ lệ lao động có đào tạo chuyên môn và kỹ năng công nghệ trong nông nghiệp còn rất thấp, đặc biệt tại nông thôn.
Điều này cũng được phản ánh rõ trong việc lựa chọn ngành học của sinh viên. Năm 2023 và 2024, các trường đào tạo ngành Nông nghiệp đã tuyển sinh được 28.000 sinh viên. Giai đoạn 2021 – 2024, tuyển sinh được 337 tiến sĩ, 4.474 học viên thạc sĩ; năm 2023 đào tạo trên 6.000 sinh viên hệ cao đẳng và trên 20.000 hệ trung cấp; tuyển sinh đào tạo trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng là 24.464 học sinh năm 2023 và 20.384 trong năm 20244. Số liệu này so với tỷ lệ sinh viên/học viên ở các ngành khác là thực sự khiêm tốn (chiếm chưa tới 2% tổng số sinh viên nhập học hằng năm). Hơn nữa, với xu hướng chung, nhiều học sinh/sinh viên không chọn ngành nông, lâm, thủy sản do tâm lý công việc nặng nhọc, cơ hội việc làm không ổn định, thu nhập thấp, ít hiện đại hóa dẫn tới thiếu hụt nguồn sinh viên mới cho ngành này. Thêm vào đó, chương trình đào tạo còn mang tính truyền thống dẫn đến yếu tố “công nghệ số” còn mờ nhạt trong các nội dung đào tạo.
Theo số liệu năm 2023 của Cục Thống kê Việt Nam, năng suất lao động xã hội phân theo ngành kinh tế cho thấy, sự khác biệt lớn giữa nông nghiệp và các ngành khác. Trong ngành nông, lâm, thủy sản, năng suất lao động chỉ đạt 88,5 triệu đồng/lao động, thấp hơn rất nhiều so với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (204,2 triệu đồng/lao động) và ngành khai khoáng (1.483,9 triệu đồng/lao động). Sự chênh lệch này phản ánh hiệu quả lao động trong nông nghiệp còn thấp, phần lớn là lao động phổ thông, chưa được đào tạo bài bản và ít tiếp cận công nghệ cao; hạn chế về kỹ năng, công nghệ và cơ sở vật chất sản xuất.
Trong bối cảnh nông nghiệp công nghệ cao phát triển, yêu cầu về năng lực số của lực lượng lao động trở thành một trong những yếu tố quyết định hiệu quả sản xuất và quản lý. Năng lực số không chỉ bao gồm khả năng vận hành các thiết bị thông minh, cảm biến, máy móc tự động mà còn liên quan đến thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu, quản lý thông tin chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm cũng như áp dụng các phần mềm và công cụ số hóa trong quản trị trang trại và nông trại thông minh.
2.2. Ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp tác động tới nhu cầu nhân lực
Trong những năm gần đây, nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam đang phát triển nhanh chóng nhờ vào việc áp dụng các công nghệ hiện đại, như: tự động hóa, Internet vạn vật (IoT), cảm biến, máy bay không người lái, dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), hệ thống quản lý trang trại thông minh và sinh học phân tử. Những công nghệ này giúp nâng cao năng suất, giảm chi phí, tối ưu hóa quy trình sản xuất và tăng chất lượng nông sản, đồng thời mở ra cơ hội phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp thông minh, nhà màng, nhà lưới và chăn nuôi, thủy sản công nghệ cao. Sự áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp tác động trực tiếp tới nhu cầu nhân lực theo nhiều cách, như:
(1) Các công nghệ hiện đại yêu cầu lực lượng lao động không chỉ biết sản xuất truyền thống mà còn phải thành thạo vận hành, bảo trì thiết bị tự động, xử lý dữ liệu, phân tích thông tin và quản lý hệ thống. Điều này làm tăng nhu cầu lao động có trình độ kỹ thuật, công nghệ và kiến thức số so với lao động nông nghiệp phổ thông trước đây.
(2) Lao động trong nông nghiệp công nghệ cao cần được đào tạo bài bản, từ các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành nông nghiệp công nghệ cao đến các chương trình đào tạo nghề, tập huấn ngắn hạn về kỹ thuật số, IoT, quản lý chuỗi cung ứng và bảo quản nông sản. Điều này đồng nghĩa với việc tỷ lệ lao động đã qua đào tạo và có kỹ năng sẽ trở thành một chỉ số quan trọng cho khả năng phát triển ngành.
(3) Việc triển khai công nghệ cao giảm nhu cầu lao động thủ công, song tăng nhu cầu lao động có chuyên môn kỹ thuật. Như vậy, sẽ xảy ra dịch chuyển lao động từ nhóm lao động phổ thông sang nhóm lao động kỹ thuật cao, đồng thời tạo ra áp lực đào tạo lại lực lượng lao động hiện có.
(4) Nông nghiệp công nghệ cao thường tập trung tại các vùng sản xuất quy mô lớn, có hạ tầng và điều kiện tiếp cận công nghệ tốt. Điều này đòi hỏi sự dịch chuyển lao động chất lượng cao từ các vùng khác, đồng thời khuyến khích phát triển đào tạo tại chỗ, giúp lao động nông thôn nâng cao năng lực và áp dụng công nghệ mới.
(5) Nông nghiệp công nghệ cao tạo cơ hội cho lao động trẻ, năng động, sẵn sàng học hỏi công nghệ. Tuy nhiên, hiện nay lao động nữ và lao động nông thôn có kỹ năng công nghệ vẫn chiếm tỷ lệ thấp, đòi hỏi các chính sách hỗ trợ tiếp cận đào tạo và công nghệ nhằm bảo đảm nguồn nhân lực đồng đều, đa dạng và bền vững.
2.3. Chính sách quản lý nhân lực nông nghiệp công nghệ cao trong bối cảnh chuyển đổi số tại Việt Nam
Trong nỗ lực hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông nghiệp công nghệ cao, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm đào tạo, phát triển và nâng cao năng lực của nguồn nhân lực nông nghiệp – đặc biệt nhấn mạnh năng lực số, kỹ thuật và công nghệ. Những chính sách này có ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc, chất lượng và tiềm năng phát triển lực lượng lao động nông nghiệp.
Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg về phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, nông nghiệp là một trong tám lĩnh vực ưu tiên thực hiện chuyển đổi số. Các chính sách đồng bộ từ trung ương đến địa phương về ứng dụng công nghệ số, quản lý dữ liệu đất đai, cây trồng, vật nuôi, thủy sản; xây dựng mạng lưới quan sát, giám sát tích hợp (trên không và mặt đất) nhằm hỗ trợ sản xuất, quản lý, truy xuất nguồn gốc, chuỗi cung ứng đã tạo ra nhu cầu lớn về nhân lực có kỹ năng số và quản lý dữ liệu nông nghiệp. Gần đây nhất, ngày 19/9/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 249/2025/NĐ-CP quy định cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Ở cấp địa phương, các văn bản, kế hoạch thuộc cấp tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong đó có nội dung tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công nghệ số, đào tạo, tập huấn sử dụng phần mềm/công cụ số, dữ liệu mở, họp trực tuyến… nhằm phổ biến kỹ năng số đến nông dân và cán bộ quản lý nông nghiệp tại địa phương. Thêm vào đó, các chính sách hỗ trợ phát triển cơ giới hóa, kỹ thuật cao và tiêu chuẩn quốc gia về máy móc, thiết bị nông nghiệp, chế biến, chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc nhằm khuyến khích ứng dụng công nghệ cao; đi kèm là nhu cầu cao về lực lượng lao động được đào tạo chuyên sâu, có kỹ năng kỹ thuật, vận hành máy móc công nghệ và sử dụng dữ liệu.
Việt Nam đã có nhiều văn bản khung khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi số, đồng thời có các chính sách phát triển đào tạo nghề nông thôn. Tuy vậy, chuyển từ chính sách vĩ mô sang thực thi ở cấp cơ sở vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu khung năng lực nghề chuẩn cho nông nghiệp công nghệ cao, thiếu cơ chế gắn kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Đặc biệt, chưa có hệ thống quản trị nhân lực ngành dùng dữ liệu (HR Analytics) ở quy mô ngành. Những bất cập này làm giảm tính hiệu lực của các chương trình phát triển nhân lực.
Ngoài ra, những rào cản từ việc đưa công nghệ vào sản xuất vẫn chủ yếu tại doanh nghiệp lớn, hợp tác xã cũng như phần lớn hộ nông dân nhỏ lẻ vẫn dùng phương thức truyền thống, ít tiếp cận công nghệ số, chưa được đào tạo kỹ năng số, thiếu cơ hội tiếp cận khoá học, tập huấn về công nghệ khiến khó áp dụng các công nghệ cao.
3. Một số gợi ý chính sách trong quản lý nguồn nhân lực nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số
Phát triển nông nghiệp công nghệ cao trong bối cảnh chuyển đổi số đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực.
Thứ nhất, việc đào tạo và nâng cao kỹ năng cho lao động nông nghiệp là ưu tiên hàng đầu. Lao động trong nông nghiệp công nghệ cao cần được trang bị kiến thức về công nghệ thông minh, IoT, AI, quản lý dữ liệu, vận hành và bảo trì thiết bị tự động, đồng thời được đào tạo linh hoạt ở nhiều cấp độ từ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học đến bậc cao hơn, kết hợp các khóa đào tạo ngắn hạn, đào tạo lại tại chỗ để nâng cao kỹ năng số cho lực lượng lao động hiện hữu.
Thứ hai, hợp tác giữa nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo là cần thiết để bảo đảm chương trình đào tạo gắn kết với nhu cầu thực tế, giúp sinh viên ra trường có năng lực đáp ứng ngay yêu cầu sản xuất và quản lý. Một vấn đề quan trọng khác là xây dựng và áp dụng khung năng lực số cho lao động nông nghiệp. Khung năng lực này cần được chuẩn hóa, định nghĩa rõ các mức độ kỹ năng từ cơ bản đến nâng cao, phù hợp với từng loại hình nông nghiệp công nghệ cao, đồng thời được dùng để đánh giá trình độ, lập kế hoạch đào tạo và hướng dẫn phát triển nhân lực. Việc áp dụng khung năng lực số cũng giúp thu hẹp khoảng cách kỹ năng giữa lao động thành thị và nông thôn, lao động trẻ và lao động lớn tuổi, từ đó mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho nông nghiệp công nghệ cao.
Thứ ba, chính sách cần khuyến khích phân bố và sử dụng hiệu quả nhân lực. Việc cơ cấu lao động hợp lý và dịch chuyển lao động kỹ thuật cao đến các vùng sản xuất trọng điểm, đồng thời duy trì chất lượng lao động tại các vùng nông thôn là rất cần thiết. Các chính sách hỗ trợ việc làm, ưu đãi và cơ sở hạ tầng hiện đại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút nhân lực chất lượng cao và giữ chân lao động tại nông nghiệp công nghệ cao.
Thứ tư, hợp tác công – tư và chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo cũng là yếu tố then chốt. Việc huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, hiệp hội, viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế trong đào tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển nhân lực số sẽ giúp nâng cao năng lực thực tiễn cho lao động. Các chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo hỗ trợ nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ và phát triển mô hình nông nghiệp công nghệ cao mới, đồng thời tạo điều kiện để nhân lực trẻ tham gia các dự án đổi mới sáng tạo.
Thứ năm, chính sách nhân lực cần gắn với công tác dự báo, quy hoạch ngành, chiến lược phát triển nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi số để bảo đảm số lượng và chất lượng lao động đáp ứng nhu cầu dài hạn. Việc đánh giá và điều chỉnh liên tục năng lực, hiệu quả đào tạo và tình trạng thiếu hụt nhân lực sẽ giúp chính sách “khớp nối” với tiến độ ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.
4. Kết luận
Quản lý nguồn nhân lực trong nông nghiệp công nghệ cao không chỉ là vấn đề đào tạo hay tuyển dụng mà còn liên quan đến năng lực số, kỹ năng công nghệ, phân bổ lao động, cơ chế đãi ngộ và hợp tác liên ngành. Xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ, gắn với chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ cao là yếu tố then chốt để phát triển nông nghiệp bền vững, hiệu quả và cạnh tranh trong thời kỳ công nghiệp 4.0 tại Việt Nam.
Chú thích:
1. Thông cáo báo chí về tình hình lao động việc làm quý IV và năm 2024.https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2024
2. Vị thế nông nghiệp Việt Nam sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/1061702/vi-the-nong-nghiep-viet-nam-sau-gan-40-nam-tien-hanh-cong-cuoc-doi-moi.aspx.
3. Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2023, 2024). Tác giả tổng hợp số liệu tại trang https://www.nso.gov.vn.
4. Trong 2 năm, trên 28.000 sinh viên học ngành nông nghiệp, 160 doanh nghiệp ký kết hợp tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. https://danviet.vn/trong-2-nam-tren-28000-sinh-vien-hoc-nganh-nong-nghiep-160-doanh-nghiep-ky-ket-hop-tac-dao-tao-phat-trien-nguon-nhan-luc-20241112101534024-d1194577.html.
Tài liệu tham khảo:
1. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ‑TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
2. Chính phủ (2025). Nghị định số 249/2025/NĐ-CP ngày 19/9/2025 quy định cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
3. Hoang KK (2024). Policies and laws on human resource development in agricultural sector in Vietnam now. Journal of Infrastructure, Policy and Development. 8(7): 4558. https://doi.org/10.24294/jipd.v8i7.4558
4. Vai trò của Nhà nước đối với chuyển đổi số ngành Nông nghiệp ở Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/07/29/vai-tro-cua-nha-nuoc-doi-voi-chuyen-doi-so-nganh-nong-nghiep-o-viet-nam.
5. Vì sao sinh viên “thờ ơ” với nông nghiệp. https://vneconomy.vn/vi-sao-sinh-vien-tho-o-voi-nong-nghiep.htm.
6. OECD (2023). Agricultural Policy Monitoring and Evaluation 2023: Adapting Agriculture to Climate Change. OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/b14de474-en.



