Kinh tế dữ liệu – Từ các mô hình phát triển trên thế giới đến thực tiễn của Việt Nam

TS. Trần Thanh Tùng
TS. Nguyễn Thị Thanh Tâm
Học viện Chính trị khu vực 1

(Quanlynhanuoc.vn) – Nền sản xuất hiện tại dựa vào các yếu tố sản xuất truyền thống bao gồm đất đai, lao động và vốn. Sự bùng nổ của cách mạng công nghiệp 4.0 đã đưa dữ liệu (data) trở thành yếu tố sản xuất mang tính quyết định, trở thành nguồn tài nguyên chiến lược, có vai trò tương tự như “dầu mỏ của thế kỷ XXI”. Kinh tế dữ liệu xuất hiện đã và đang định hình lại phương thức sản xuất, mô hình kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trên cơ sở khảo cứu các mô hình phát triển của thế giới qua một số quốc gia điển hình và thực tiễn Việt Nam, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy hình thành, hoàn thiện và khai thác hiệu quả kinh tế dữ liệu, đóng góp cho mục tiêu phát triển kinh tế số quốc gia trong giai đoạn tới.

 Từ khóa: Kinh tế dữ liệu; mô hình phát triển thế giới; khai thác hiệu quả; thực tiễn Việt Nam.

1. Đặt vấn đề

Sự bùng nổ của cách mạng công nghiệp 4.0 đã đưa dữ liệu (data) trở thành yếu tố sản xuất mang tính quyết định, trở thành nguồn tài nguyên chiến lược, có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của các quốc gia, là yếu tố quyết định trong việc thay đổi cách thức tổ chức sản xuất và thúc đẩy sự phát triển kinh tế. So với thế giới, Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của kinh tế dữ liệu, mới xây dựng nền móng và chưa khai thác hiệu quả nguồn giá trị khổng lồ mà dữ liệu đem lại. Để kinh tế dữ liệu thực sự trở thành động lực tăng trưởng cần phải có những giải pháp thiết thực và cụ thể để thúc đẩy kinh tế dữ liệu phát triển, trở thành động lực phát triển mới.

2. Kinh tế dữ liệu và các mô hình phát triển trên thế giới

2.1. Dữ liệu và kinh tế dữ liệu

Hiện nay, dữ liệu đang trở thành yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất trong nền kinh tế số và đang dần được số hóa, theo Luật Dữ liệu năm 2024 tại Điều 3 quy định: dữ liệu số là dữ liệu về sự vật, hiện tượng, sự kiện, bao gồm một hoặc kết hợp các dạng âm thanh, hình ảnh, chữ số, chữ viết, ký hiệu được thể hiện dưới dạng kỹ thuật số. Dữ liệu có hai chức năng chính: (1) Dữ liệu là yếu tố đầu vào quan trọng của các hoạt động sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong nền kinh tế số; (2) Dữ liệu sẽ làm thay đổi hoàn toàn cách lưu chuyển thông tin từ đó giảm thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin và chi phí giao dịch, qua đó tác động đến tính minh bạch, hiệu quả, công bằng, cạnh tranh1. Đặc điểm khác biệt của dữ liệu so với những yếu tố đầu vào truyền thống là không bị cạn kiệt, nhiều người sử dụng càng làm tăng giá trị, đóng vai trò trung tâm trong quá trình tạo ra tri thức, đổi mới sáng tạo, cung cấp đầu vào thiết yếu cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển, có thể tích lũy vô hạn, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế bền vững thông qua dịch vụ số và nền kinh tế số.

Cho đến nay, chưa có định nghĩa thống nhất, bao phủ hết nội hàm của kinh tế dữ liệu, bởi đây là lĩnh vực mới xuất hiện. Theo Ủy ban châu Âu (EU): “data economy” (kinh tế dữ liệu) mô tả “tác động tổng thể của thị trường dữ liệu lên toàn bộ nền kinh tế”, bao gồm “việc tạo ra, thu thập, lưu trữ, xử lý, phân phối, phân tích làm rõ, chuyển giao và khai thác dữ liệu thông qua công nghệ số”2. Để dữ liệu tạo ra các giá trị kinh tế, trong đó dữ liệu được thu thập, xử lý và trao đổi bởi mạng lưới các doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức. Vì vậy, kinh tế dữ liệu hay được gọi là nền kinh tế dựa trên dữ liệu được định nghĩa như một hệ thống kinh tế, trong đó dữ liệu được sử dụng như một nền tảng cho mọi hoạt động kinh tế và là một nguồn tài nguyên cốt lõi để tạo ra giá trị gia tăng cho các ngành truyền thống. Có thể khái quát: “nền kinh tế dữ liệu là một hệ sinh thái kỹ thuật số trong đó dữ liệu được các chủ thể kinh tế  thu thập, tổ chức, sử dụng, khai thác, trao đổi  để tạo ra gia tăng giá trị mới trong các ngành công nghiệp truyền thống từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế“.

2.2. Tác dụng và lợi ích của phát triển kinh tế dữ liệu

Kinh tế dữ liệu đang trở thành một trụ cột quan trọng của tăng trưởng trong thời đại số, khi dữ liệu được xem như một loại “tài sản mới”. Giá trị cốt lõi của kinh tế dữ liệu nằm ở khả năng sử dụng dữ liệu để dự đoán, tối ưu hóa, tự động hóa và tạo ra mô hình kinh doanh mới, nhờ đó làm thay đổi phương thức vận hành của toàn bộ nền kinh tế, cụ thể:

(1) Giúp giảm tính bất định và nâng cao khả năng dự báo từ đó cải thiện hiệu quả ra quyết định ở cả cấp độ doanh nghiệp lẫn nền kinh tế, dữ liệu đóng vai trò như một “yếu tố tri thức” cho phép dự báo chính xác hơn nhu cầu, rủi ro, xu hướng tiêu dùng và biến động thị trường, giúp nền kinh tế và các doanh nghiệp tối ưu hóa hoạt động sản xuất, quản trị chuỗi cung ứng, định giá sản phẩm, phân bổ nguồn lực, làm giảm tình trạng thông tin bất cân xứng, vốn là một trong những nguyên nhân làm suy giảm hiệu quả thị trường.

(2) Thúc đẩy đổi mới sáng tạo thông qua việc hình thành các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới dựa trên phân tích dữ liệu. Đáng chú ý, dữ liệu có đặc tính phi đối kháng, nhiều chủ thể có thể sử dụng cùng một bộ dữ liệu mà không làm giảm giá trị. Nhờ đó, dữ liệu trở thành yếu tố tăng lợi nhuận theo quy mô lớn (increasing returns to scale), thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững.

(3) Mang lại hiệu quả kinh tế vĩ mô, đặc biệt là tăng năng suất lao động và năng suất tổng hợp (TFP). Việc áp dụng Big Data, AI trong phân tích và tự động hóa giúp giảm chi phí vận hành, tăng tốc độ xử lý thông tin và nâng cao chất lượng dịch vụ công cũng như dịch vụ doanh nghiệp. Khi năng suất tăng, nền kinh tế có thể đạt tăng trưởng nhanh hơn mà không cần mở rộng đầu vào truyền thống, tích lũy dữ liệu theo thời gian tạo ra “tích lũy tri thức kinh tế” góp phần thúc đẩy tăng trưởng dài hạn.

(4) Kinh tế dữ liệu góp phần mở rộng thị trường và tăng cường cạnh tranh. Các nền tảng số kết nối người mua – người bán, tối ưu hóa chi phí giao dịch, minh bạch thông tin và mở ra thị trường xuyên biên giới. Sự cạnh tranh dựa trên dữ liệu buộc doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới, cải thiện chất lượng dịch vụ và tối ưu hóa hoạt động kinh doanh.

(5) Tạo ra tác động tích cực về mặt xã hội – quản trị công. Dữ liệu cho phép chính phủ xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng, nâng cao chất lượng dịch vụ công, cảnh báo sớm thiên tai – dịch bệnh… Khi dữ liệu được chia sẻ an toàn và minh bạch, quản trị công trở nên hiệu quả hơn, giảm lãng phí và nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua các dịch vụ y tế số, giáo dục số, an sinh xã hội thông minh, cảnh báo thiên tai, dự báo dịch bệnh và nhiều ứng dụng khác. Người dân được hưởng lợi từ các dịch vụ nhanh hơn, chính xác hơn, cá nhân hóa hơn và ít tốn kém hơn.

Như vậy, kinh tế dữ liệu mang lại một hệ sinh thái lợi ích rộng lớn như giảm bất định, thúc đẩy tăng trưởng năng suất, tạo ra hàng hóa và dịch vụ mới, mở rộng thị trường, gia tăng đổi mới và hỗ trợ quản trị công hiệu quả. Dữ liệu không chỉ là tài nguyên của kinh tế số mà còn là yếu tố kiến tạo lợi thế cạnh tranh và tăng trưởng dài hạn của quốc gia.

3. Các mô hình phát triển kinh tế dữ liệu trên thế giới

Kinh tế dữ liệu đang phát triển nhanh chóng và các quốc gia lớn đều xây dựng các mô hình kinh tế dữ liệu (Data Economy Models) dựa trên chiến lược riêng. Dưới góc độ nghiên cứu, có thể tiếp cận ba mô hình cơ bản sau đây:

(1) Mô hình của Trung Quốc – Nhà nước dẫn dắt mạnh mẽ.

Kinh tế dữ liệu của Trung Quốc phát triển trong nhiều năm qua đã thúc đẩy liên kết sâu với các ngành sản xuất, tạo cực tăng trưởng mới cho nền kinh tế, có hơn 190.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dữ liệu với quy mô ngành đã vượt mốc 2.000 tỷ NDT3. Khung chính sách gồm bốn trụ cột: (1) Thiết lập hệ thống quyền sở hữu dữ liệu hiện đại; (2) Các  thị trường dữ liệu; (3) Các hệ thống hỗ trợ thị trường dữ liệu cạnh tranh cũng như phân phối thu nhập công bằng và hợp lý; (4) Thiết lập hệ thống quản trị bảo mật dữ liệu hiện đại.

Trung Quốc đang tăng tốc hoàn thiện hành lang pháp lý, hạ tầng công nghệ và mô hình khai thác dữ liệu toàn diện. Hiện tại, Trung Quốc có hơn 80 sàn giao dịch dữ liệu và trung tâm trao đổi dữ liệu trên khắp cả nước, như: Quý Dương, Thâm Quyến, Thượng Hải, Bắc Kinh…4, đồng thời, triển khai mô hình định giá dựa trên nhiều yếu tố, như: chất lượng dữ liệu, độ tin cậy, tính ứng dụng và thị trường mục tiêu có sự liên kết chặt chẽ giữa các sàn giao dịch dữ liệu với các cơ quan quản lý nhà nước và được hỗ trợ bởi hạ tầng kỹ thuật số tiên tiến, bao gồm: nền tảng điện toán đám mây, blockchain và trí tuệ nhân tạo.

(2) Mô hình của Hoa Kỳ – Thị trường dẫn dắt.

Hiện nay, không có luật bảo vệ dữ liệu chính nào tại Hoa Kỳ. Ở cấp liên bang, Đạo luật Ủy ban Thương mại Liên bang (Đạo luật FTC) trao quyền rộng rãi cho Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC) để thực hiện các hành động thực thi nhằm bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hành vi không công bằng hoặc lừa đảo và thực thi các quy định về quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu của liên bang. Hoa Kỳ tập trung vào việc tạo ra một thị trường dữ liệu tự do và cạnh tranh với sự tham gia của cả các công ty tư nhân và các cơ quan chính phủ, mục tiêu hàng đầu là thiết lập một thị trường dữ liệu năng động, nơi các tổ chức và cá nhân có thể dễ dàng kết nối để mua và bán dữ liệu, gần 50% tổng số trung tâm dữ liệu trên thế giới được đặt ở Hoa Kỳ, tương đương 5.381 trung tâm dữ liệu5. Chỉ riêng sàn giao dịch dữ liệu lớn nhất của Hoa Kỳ là AWS Data Exchange cung cấp danh mục mở rộng gồm 3.500+ bộ dữ liệu của bên thứ ba trên nhiều ngành khác nhau, chỉ riêng quý IV/2023, doanh thu là 24,2 tỷ đô la với thu nhập hoạt động là 7,2 tỷ đô la6.

(3) Mô hình EU – Dựa trên quyền và quy định.

Kinh tế dữ liệu của EU là một phần quan trọng của Chiến lược Thị trường chung kỹ thuật số (Digital Single Market), tập trung vào việc sử dụng hiệu quả dữ liệu để tăng cường năng lực cạnh tranh của EU. Mục tiêu là tạo ra một thị trường dữ liệu chung, thúc đẩy đổi mới, việc làm và nâng cao chất lượng dịch vụ công, thông qua việc tạo ra khuôn khổ pháp lý rõ ràng và xây dựng hạ tầng dữ liệu mạnh mẽ7. EU khuyến khích chia sẽ dữ liệu giữa doanh nghiệp – nhà nước – người dân, trong đó dữ liệu được xem là tài sản thuộc về cá nhân, cá nhân có quyền kiểm soát nhưng trong khung khổ pháp lý rất chặt chẽ bằng các quy định, như: GDPR (2018): tiêu chuẩn bảo vệ dữ liệu mạnh nhất toàn cầu; Data Governance Act (2022): thúc đẩy chia sẻ dữ liệu;  Data Act (2023): điều chỉnh dữ liệu công nghiệp; Digital Markets Act (DMA, 2023): hạn chế độc quyền Big Tech. Năm 2022, nền kinh tế dữ liệu của 27 nước thành viên EU (EU27) ghi nhận tăng trưởng ấn tượng, giá trị đạt gần 500 tỷ USD, các giao dịch dữ liệu tạo ra lợi nhuận, như mua bán tài sản dữ liệu giữa các tổ chức, chiếm 26% giá trị thị trường dữ liệu chung trong năm 2022, tương ứng với 19 tỷ euro cho EU278.

4. Hiện trạng phát triển kinh tế dữ liệu của Việt Nam

Trong những năm gần đây, Việt Nam từng bước hình thành và đang trong quá trình tạo nền tảng cho kinh tế tế dữ liệu phát triển. Quá trình đó được nhìn nhận trên một số khía cạnh cụ thể:

Một là, khung thể chế và chính sách về kinh tế dữ liệu đang từng bước hình thành.

Việt Nam đang xây dựng nền tảng thể chế cho kinh tế dữ liệu, thể hiện ở: Luật Dữ liệu năm 2024 đặt nền móng pháp lý cho việc thu thập, chia sẻ, thương mại hóa và khai thác dữ liệu trên phạm vi quốc gia. Các đạo luật: Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi năm 2023), Luật Công nghệ thông tin (sửa đổi năm 2024), Luật An toàn thông tin mạng năm 2015; Luật Viễn thông năm 2024 và cùng hệ thống nghị định về chuyển đổi số, chia sẻ dữ liệu, đã bước đầu hình thành khung pháp lý cho quản trị dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và định hướng khai thác dữ liệu trong khu vực công – tư, như: Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ bảo vệ dữ liệu cá nhân được xem là bước ngoặt, lần đầu tiên đưa ra khung quy định toàn diện về thu thập, xử lý, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu cá nhân ở Việt Nam dần tương thích hơn với xu thế quốc tế, đặc biệt là các chuẩn mực của GDPR; Quyết định số 142/QĐ-TTg ngày 02/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030… Tất cả những văn bản này bước đầu tạo nên khung pháp lý cho kinh tế dữ liệu của Việt Nam hình thành và phát triển. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thấu đáo, Việt Nam thiếu cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước. Khung pháp lý hiện tại vẫn còn dè dặt trong việc mở dữ liệu cụ thể, điều này đang cản trở sự phát triển của kinh tế dữ liệu.

Hai là, hạ tầng số và dữ liệu quốc gia đã có bước phát triển nhanh.

Được thể hiện ở chỉ tiêu tỷ lệ sử dụng IPv6 trên mạng Internet của Việt Nam đạt 58% nhưng đến tháng 12/2023, cả nước vẫn còn có 620 thôn lõm sóng. Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan khu vực công kết nối các cấp hành chính tiếp tục được phát triển, tạo hạ tầng truyền dẫn ổn định đã kết nối đến 100% xã trên toàn quốc.  Số bộ, ngành, địa phương đã triển khai Trung tâm dữ liệu phục vụ chuyển đổi số theo hướng sử dụng công nghệ điện toán đám mây đạt 71,43%. Việt Nam có 9 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung tâm dữ liệu, 43 trung tâm dữ liệu với tổng số 571 nghìn máy chủ, 54,7 triệu lõi vật lý9.

Nhìn tổng thể, hạ tầng số và dữ liệu quốc gia phát triển không đồng đều, chưa phủ kín,dẫn đến chưa đáp ứng được nhu cầu triển khai ứng dụng, dịch vụ số thông suốt, ổn định, bảo đảm an toàn, an ninh mạng mang tính phổ cập, rộng khắp trên quy mô quốc gia; vẫn còn điểm lõm sóng; tốc độ mạng chỉ ở mức trung bình khá của thế giới, chưa đồng đều giữa các vùng; còn nhiều điểm công cộng, hộ gia đình chưa được kết nối, sử dụng dịch vụ truy cập internet tốc độ cao; 5G chưa được thương mại hóa trên diện rộng. Đa phần trung tâm dữ liệu, phòng máy chủ chưa đáp ứng được yêu cầu về sự ổn định, tin cậy, an toàn thông tin mạng, dẫn đến có hiện tượng chậm, nghẽn trong xử lý.

Ba là, thị trường dữ liệu.

Thị trường dữ liệu của Việt Nam dự báo tới năm 2030 sẽ đạt khoảng 3,53 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng khoảng 14,2%10. Trong đó, thị trường trung tâm dữ liệu Việt Nam được định giá 654 triệu USD vào năm 2024 và dự kiến sẽ đạt 1,75 nghìn tỷ USD vào năm 2030, tăng trưởng ở tốc độ CAGR (tỷ lệ tăng trưởng kép hằng năm) là 17,93%11. Tuy nhiên, tính đến năm 2023, Việt Nam mới có hơn 1,5 nghìn doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có doanh thu từ thị trường nước ngoài, tổng doanh thu từ thị trường nước ngoài ước đạt 7,5 tỷ USD12. Phân tích sâu cho thấy, đa số là doanh nghiệp công nghệ số chỉ tập trung vào sản xuất phần mềm là chủ yếu, ít có doanh nghiệp chuyên sâu vào khai thác, thương mại hóa dữ liệu đồng bộ. Thị trường Việt Nam hiện tại bị chi phối bởi 5 đơn vị lớn, chủ yếu là các nhà mạng viễn thông và doanh nghiệp nhà nước, chiếm tới 97% tổng công suất hoạt động13. Điều đó cho thấy đang thiếu vắng các doanh nghiệp Big Tech trên thế giới đầu tư vào lĩnh vực này do thiếu quy định về tài sản dữ liệu dẫn tới khó triển khai giao dịch dữ liệu hợp pháp.

Bốn là, nguồn nhân lực cho kinh tế dữ liệu.

Việt Nam có khoảng 1,5 triệu lao động đang làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ số, Trong đó, tỷ lệ lao động phần cứng điện tử (69,54%), phần mềm (15,13%), nội dung số (0,22%), dịch vụ công nghệ thông tin (4,39%), buôn bán phân phối (10,71%), có khoảng 168 trường đại học và 520 trường nghề có đào tạo về ICT, hàng năm, tổng số tốt nghiệp đạt trên 84 nghìn với khoảng 50 nghìn đại học, khoảng 34 nghìn cao đẳng, trung cấp; tổng số chỉ tiêu tuyển sinh khoảng 100 nghìn14. Nhưng, so với nhu cầu và xu hướng phát triển của kinh tế dữ liệu thì nguồn nhân lực vẫn còn thiếu hụt cả về số lượng lẫn chất lượng. Sinh viên đào tạo ra không đáp ứng yêu cầu, chỉ có khoảng 30% sinh viên tốt nghiệp đáp ứng kỹ năng và chuyên môn của nhà tuyển dụng15, số khác phải đào tạo lại hoặc chuyển nghề, gây lãng phí lớn đến nguồn lực xã hội, hạn chế về đào tạo nhân lực số nằm ở khâu đào tạo nhân lực số theo từng ngành, lĩnh vực gây ảnh hưởng đến năng lực quản trị dữ liệu và kỹ năng nhân lực, hiện nay Việt Nam đang thiếu các chuyên gia dữ liệu cấp cao như data architect, data governance specialist.

Nếu tận dụng tốt chính sách mở dữ liệu, chuẩn hóa dữ liệu quốc gia và hình thành thị trường dữ liệu chính thức, Việt Nam có khả năng đưa kinh tế dữ liệu trở thành động lực tăng trưởng mới trong thập kỷ tới.

5. Một số khuyến nghị

Việc khảo cứu thực tiễn phát triển trong thời gian qua và tham chiếu các mô hình phát triển kinh tế dữ liệu tại Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc cho thấy, những yếu tố quyết định sự thành công đều dựa trên khung thể chế hoàn thiện, tiêu chuẩn dữ liệu thống nhất, hạ tầng số tiên tiến và thị trường dữ liệu minh bạch, xây dựng hệ sinh thái nhân lực – đổi mới sáng tạo mới khai thác hết lợi ích kinh tế của dữ liệu và thúc đẩy kinh tế dữ liệu phát triển, dưới góc độ nghiên cứu có thể rút ra một số giá trị tham chiếu có tính chất khuyến nghị trong phát triển kinh tế dữ liệu của Việt Nam trong thời gian tới.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và khung pháp lý về dữ liệu.

Thể chế đóng vai trò nền tảng để thúc đẩy kinh tế dữ liệu. Thực tiễn của EU với Đạo luật Dữ liệu (EU Data Act 2023), Trung Quốc với Luật An ninh dữ liệu (2021) hay khung pháp lý phân ngành tại Hoa Kỳ cho thấy sự cần thiết của bộ khung pháp lý rõ ràng và đồng bộ. Đối với Việt Nam đã có Luật Dữ liệu (2024) với những nội dung trọng tâm: bảo đảm quyền chủ thể dữ liệu; quy định trách nhiệm chia sẻ dữ liệu giữa các chủ thể; thiết lập cơ chế khuyến khích khai thác dữ liệu phục vụ đổi mới sáng tạo; và quy định rõ về lưu trữ, luân chuyển, bảo mật dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu xuyên biên giới. Nhưng, vấn đề về quyền tài sản đối với dữ liệu vẫn chưa rõ ràng, bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và chuẩn mở về dữ liệu (metadata, mô hình dữ liệu, cấu trúc API) nhằm bảo đảm khả năng liên thông, tích hợp giữa các cơ sở dữ liệu nhà nước và tư nhân chưa hình thành. Ngoài ra, để hình thành thị trường dữ liệu, cần bổ sung khung pháp lý cho giao dịch dữ liệu, bao gồm: công nhận dữ liệu là một loại tài sản, cơ chế định giá, quy định hợp đồng dữ liệu và yêu cầu kiểm định chất lượng dữ liệu.

Thứ hai, phát triển hạ tầng dữ liệu và hạ tầng số quốc gia.

Hạ tầng dữ liệu là điều kiện tiên quyết để vận hành kinh tế dữ liệu. Các mô hình kinh tế dữ liệu đã khảo cứu đều đầu tư lớn vào trung tâm dữ liệu, công nghệ điện toán đám mây (Cloud Computing), điện toán biên (Edge Computing) và mạng kết nối tốc độ cao. Do đó, Việt Nam cần phát triển hệ thống hạ tầng dữ liệu quốc gia thống nhất, gồm các cơ sở dữ liệu quốc gia quan trọng (dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tài chính) được tích hợp thông qua nền tảng chia sẻ dữ liệu dùng chung. Khẩn trương xây dựng trung tâm dữ liệu quốc gia đạt tiêu chuẩn quốc tế, khuyến khích mô hình hợp tác công – tư để phát triển cloud “Make in Vietnam”, giảm phụ thuộc bên ngoài. Triển khai thương mại hóa 5G, mở rộng hệ thống Internet vạn vật (IoT) và các mạng cảm biến cũng là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao năng lực thu thập dữ liệu theo thời gian thực phục vụ các ngành kinh tế số trọng điểm như giao thông thông minh, logistics, nông nghiệp số hay y tế số.

Thứ ba, thúc đẩy chia sẻ và mở dữ liệu, xây dựng thị trường dữ liệu.

Kinh nghiệm từ EU, Hoa Kỳ cho thấy, mở dữ liệu và chia sẻ dữ liệu có kiểm soát là công cụ quan trọng để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo giá trị gia tăng từ dữ liệu. Việt Nam cần thúc đẩy chính sách mở dữ liệu chính phủ, đặc biệt, đối với dữ liệu thống kê, dân số, giao thông, tài nguyên môi trường, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và người dân sử dụng dữ liệu trong các sản phẩm và dịch vụ số. Việc ban hành bộ chỉ số đánh giá mức độ mở dữ liệu đối với từng bộ, ngành, địa phương sẽ tạo động lực và tăng tính minh bạch. Đối với khu vực doanh nghiệp, cần xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu theo mô hình chia sẻ theo ngành (sectoral data sharing) nhằm hạn chế độc quyền dữ liệu và tăng khả năng tiếp cận dữ liệu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều này cũng phù hợp với xu hướng chia sẻ dữ liệu bắt buộc trong một số lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử ở nhiều quốc gia phát triển.

Một đặc điểm nổi bật của các nền kinh tế dữ liệu tiên tiến là sự tồn tại của thị trường dữ liệu nơi dữ liệu được giao dịch, định giá và chứng nhận chất lượng. Việt Nam có thể nghiên cứu xây dựng các thêm sàn giao dịch dữ liệu thí điểm tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ (tháng 11/2025, Việt Nam mới đưa vào vận hành thử sàn dữ liệu đầu tiên), đồng thời, ban hành các tiêu chí đánh giá chất lượng dữ liệu nhằm bảo đảm tính tin cậy và minh bạch.

Cần xác lập cơ chế định giá dữ liệu quốc gia, dựa trên các phương pháp phổ biến quốc tế như định giá theo giá trị sử dụng, giá trị thay thế hoặc theo mô hình kinh tế lượng. Các mô hình sàn giao dịch dữ liệu của Shanghai Data Exchange (Trung Quốc) là kinh nghiệm tham khảo quan trọng. Cùng với đó, cần khuyến khích các ngành có khả năng tạo ra giá trị dữ liệu cao, như: tài chính – ngân hàng, thương mại điện tử, logistics, nông nghiệp thông minh và y tế số. Việc triển khai sandbox cho các mô hình kinh doanh mới dựa trên dữ liệu cũng là cách tiếp cận được nhiều quốc gia áp dụng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thử nghiệm và đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt trong phát triển kinh tế dữ liệu. Mô hình của Hoa Kỳ, EU và Trung Quốc cho thấy đều đầu tư mạnh vào đào tạo chuyên sâu các lĩnh vực khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn và an toàn thông tin. Đối với Việt Nam, phải chuẩn hóa các nhóm nghề liên quan đến dữ liệu (Data Scientist, Data Engineer, Data Analyst, Data Architect), đưa các kỹ năng dữ liệu căn bản vào chương trình giáo dục phổ thông và đại học. Việc hình thành các chương trình đào tạo sau đại học liên ngành về khoa học dữ liệu sẽ đóng góp cho nhu cầu cao của thị trường trong thập niên tới. Có thể nghiên cứu nhân rộng mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, như: Ericsson đang hợp tác với RMIT và Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT) để đào tạo sinh viên về 5G, AI và blockchain. Đây là hướng đi đúng đắn để chuẩn bị cho một thế hệ lao động “thâm dụng tri thức”.       

Thứ năm, tăng cường an ninh dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư, nâng cao vai trò dẫn dắt của Chính phủ trong phát triển kinh tế dữ liệu.

Một môi trường dữ liệu an toàn, tin cậy là yếu tố quan trọng để nuôi dưỡng hệ sinh thái kinh tế dữ liệu. Kinh nghiệm từ GDPR của EU hay Đạo luật Bảo vệ quyền riêng tư của California (CCPA) là minh chứng cho vai trò của pháp luật trong bảo vệ người dùng và tăng cường niềm tin. Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung bảo vệ dữ liệu cá nhân bằng cách nâng cấp Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân thành một đạo luật độc lập, đồng thời, xây dựng hệ thống giám sát dữ liệu quốc gia nhằm phát hiện rủi ro và bảo đảm an ninh dữ liệu quan trọng. Tăng cường minh bạch trong xử lý dữ liệu, công bố các chỉ số đánh giá niềm tin dữ liệu của doanh nghiệp và nền tảng số sẽ góp phần xây dựng môi trường số an toàn, bền vững.

Các quốc gia thành công phát triển kinh tế dữ liệu đều cho thấy vai trò mạnh mẽ của Chính phủ, vừa là cơ quan kiến tạo thể chế, vừa là người sử dụng dữ liệu lớn nhất. Việt Nam cần phát huy vai trò của Chính phủ thông qua việc đặt hàng sản phẩm dữ liệu, ứng dụng AI trong quản lý công, và triển khai các nền tảng phân tích dữ liệu cho giáo dục, y tế, giao thông, tài chính công. Thời gian vừa qua, Chinh phủ Việt Nam đã rất quyết liệt trong việc dẫn dắt, tạo lập các tiền đề cho kinh tế dữ liệu phát triển. Tuy nhiên, trong thời gian tới cần xem xét thành lập Ủy ban Quốc gia về Dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu nhằm điều phối chiến lược dữ liệu quốc gia, giám sát tiến độ triển khai và bảo đảm sự gắn kết liên ngành.

6. Kết luận

Phát triển kinh tế dữ liệu để thúc đẩy cải cách phân bổ các yếu tố dữ liệu theo định hướng thị trường, đẩy nhanh xây dựng nền kinh tế số lấy dữ liệu làm trọng tâm. Đây cũng là yêu cầu tất yếu để phát triển lực lượng sản xuất chất lượng mới, tạo động lực và lợi thế mới cho nền kinh tế. Tuy nhiên, phát triển kinh tế dữ liệu không chỉ đòi hỏi các bước đi về công nghệ mà quan trọng hơn là đổi mới thể chế, hoàn thiện hạ tầng, phát triển thị trường, bảo đảm an toàn dữ liệu và nuôi dưỡng nguồn nhân lực. Việt Nam đang có nền tảng thuận lợi nhờ sự phát triển nhanh của chuyển đổi số và hạ tầng dữ liệu quốc gia, nhưng cần những bước đột phá mạnh mẽ hơn nữa để tận dụng cơ hội từ nền kinh tế dữ liệu toàn cầu.

Chú thích:
1. IMF (2019). The Economics and Implications of Data: An Integrated Perspective.
2. European commission (2017). Euilding a European Data Economy. Brussels, 10.1.2017 com (2017) 9 final
3. Quy mô ngành công nghiệp dữ liệu Trung Quốc dự kiến đạt 7.500 tỷ NDT vào năm 2030. https://vov.vn/kinh-te/quy-mo-nganh-cong-nghiep-du-lieu-trung-quoc-du-kien-dat-7500-ty-ndt-vao-nam-2030-post1200360.vov
4, 6. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trường dữ liệu. https://niics.gov.vn/kinh-nghiem-quoc-te-ve-phat-trien-thi-truong-du-lieu
5. Cloudscene Statista (3/2024).
7. A European strategy for data. https://digital-strategy.ec.europa.eu/en/policies/strategy-data
8. Kinh tế dữ liệu trở thành giá trị “phổ quát” mới tại châu Âu. https://vietnamnet.vn/kinh-te-du-lieu-tro-thanh-gia-tri-pho-quat-moi-tai-chau-au-2247580.html
9, 12, 14, 15. Bộ Thông tin và Truyền thông (2023). Báo cáo chuyển đổi số quốc gia năm 2023, ngày 27/12/2023. Hà Nội, tr. 19, 4, 21, 24.
10. Vận hành sàn giao dịch dữ liệu trong tháng 11/2025 : Động lực mới cho kinh tế số. https://thitruongtaichinhtiente.vn/van-hanh-san-giao-dich-du-lieu-trong-thang-11-2025-dong-luc-moi-cho-kinh-te-so-73575.html [truy cập 2/11/2025]
11. Khai phá thị trường trung tâm dữ liệu. https://nhandan.vn/khai-pha-thi-truong-trung-tam-du-lieu-post870413.html [truy cập 06/04/2025]
13. Doanh nghiệp nội thống lĩnh thị trường trung tâm dữ liệu, https://tapchikinhtetaichinh.vn/doanh-nghiep-noi-thong-linh-thi-truong-trung-tam-du-lieu-103306.html&link=1