ThS. Hoàng Thị Thu Huyền
TS. Nguyễn Thị Hiền
Trường Đại học Lao động – Xã hội
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo là yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và mức độ tự chủ phát triển của Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Mặc dù Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong đào tạo và thu hút nhân lực khoa học – công nghệ, song vẫn tồn tại khoảng cách lớn về chất lượng, cơ cấu và khả năng gắn kết giữa nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn. Bài viết làm rõ vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong hoạt động khoa học – công nghệ đối với phát triển đất nước, đồng thời đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực này nhằm tạo động lực cho Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên kinh tế tri thức.
Từ khóa: Nhân lực; chất lượng cao; khoa học công nghệ; đổi mới sáng tạo.
1. Đặt vấn đề
Trong thời đại tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là yếu tố của phát triển mà là biểu hiện tập trung của sức mạnh sáng tạo và năng lực tự chủ của dân tộc. Sự chuyển dịch từ mô hình phát triển dựa vào tài nguyên, lao động giản đơn sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo đã làm thay đổi căn bản cách thức con người tham gia vào tiến trình phát triển. Ở đó, con người không chỉ là chủ thể lao động mà trở thành chủ thể sáng tạo tri thức và giá trị mới, quyết định khả năng tồn tại, cạnh tranh và phát triển bền vững của quốc gia. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nổi lên như một yêu cầu mang tính chiến lược. Đây không chỉ là vấn đề cung ứng lao động có trình độ mà còn là nhân tố cấu thành năng lực sáng tạo quốc gia, quyết định khả năng tạo giá trị mới, nâng cao năng suất và củng cố nền tảng tự chủ trong tiến trình phát triển.
Đối với Việt Nam, khi mục tiêu phát triển nhanh và bền vững được gắn liền với chiến lược chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Dù đã đạt được nhiều thành tựu trong đào tạo và sử dụng nhân lực khoa học – công nghệ, song sự phát triển của đội ngũ nhân lực khoa học – công nghệ chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của đất nước. Tính đồng bộ giữa đào tạo, sử dụng và đổi mới sáng tạo còn hạn chế, khiến tri thức khoa học chưa trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển thực tiễn. Những khoảng cách đó không chỉ phản ánh bất cập về chính sách mà còn cho thấy độ trễ trong việc kiến tạo môi trường phát huy năng lực sáng tạo con người – yếu tố trung tâm của phát triển hiện đại. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo cần được xem là đột phá chiến lược nhằm đưa Việt Nam có thể chuyển từ “tiếp thu công nghệ” sang “làm chủ và sáng tạo công nghệ”, qua đó, khẳng định vị thế tự chủ phát triển và hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên kinh tế tri thức.
2. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với sự phát triển đất nước
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất. Họ là chủ thể sáng tạo, nhân tố quyết định sự vận động và phát triển của toàn bộ lực lượng sản xuất. Trong các tác phẩm như “Tư bản” và “Bút ký triết học”, Mác và Lênin đều chỉ ra rằng, bản chất của con người được biểu hiện trong hoạt động thực tiễn thông qua lao động, con người không chỉ cải biến tự nhiên mà còn tự cải biến chính mình, phát triển năng lực thể chất, trí tuệ và tinh thần. Họ là “những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất”1. Từ luận điểm đó có, thể thấy, trong tư duy triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin, con người vừa là điểm xuất phát, vừa là đích đến của mọi quá trình phát triển xã hội. Họ là chủ thể có tri thức, ý chí và năng lực sáng tạo, là nhân tố trung tâm trong quá trình biến tri thức khoa học thành sức mạnh vật chất, chuyển hóa tiềm năng tự nhiên thành giá trị xã hội.
Trong Chương trình Phát triển của Liên Hợp quốc: “nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”2. Nghĩa là, con người được xem là trung tâm và động lực của quá trình phát triển, nơi mà tri thức, kỹ năng và năng lực sáng tạo không chỉ phục vụ cho lợi ích cá nhân mà còn góp phần trực tiếp vào sự tiến bộ của quốc gia. Theo cách hiểu này, nguồn nhân lực không đơn thuần là lực lượng lao động vật chất mà là tổng hòa của vốn tri thức, năng lực tư duy và giá trị sáng tạo mà con người tích lũy và phát huy trong hoạt động xã hội. Mỗi cá nhân, thông qua việc trau dồi tri thức, kinh nghiệm và sáng tạo, góp phần hình thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, làm nên năng lực nội sinh cho quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa và đổi mới sáng tạo.
Dựa trên khái niệm nguồn nhân lực, Nguyễn Hữu Dũng3 cho rằng, nguồn ngân lực chất lượng cao là “người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn kỹ thuật) ứng dụng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu chức phân loại về chuyên môn kỹ thuật nhất định (trên đại học, đại học, cao đẳng, công nhân kỹ thuật lành nghề). Theo Đỗ Văn Đạo, “nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức đã được đào tạo vào quá trình sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động cao”4. Từ các quan niệm trên cho thấy, nguồn nhân lực chất lượng cao được hiểu không chỉ ở khía cạnh trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp mà còn bao hàm năng lực thích ứng, sáng tạo và phẩm chất con người trong lao động hiện đại. Đây chính là sự thống nhất giữa năng lực trí tuệ – đạo đức – thể chất, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và bản chất người trong nền kinh tế tri thức.
Đối với hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận tinh hoa của lực lượng lao động xã hội, bao gồm: những cá nhân có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, năng lực tư duy khoa học, khả năng sáng tạo, thích ứng nhanh với sự biến đổi của công nghệ và có phẩm chất nghề nghiệp, đạo đức lao động tốt. Họ không chỉ làm chủ tri thức khoa học – công nghệ hiện đại mà còn có khả năng tạo ra tri thức mới, chuyển hóa tri thức thành giá trị ứng dụng góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội. Lực lượng này biểu hiện trình độ phát triển cao của yếu tố người trong lực lượng sản xuất hiện đại, nơi tri thức và sáng tạo trở thành sức mạnh sản xuất trực tiếp. Trong nền kinh tế tri thức và bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, nguồn nhân lực chất lượng cao trong khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo có vai trò quan trọng sau:
Thứ nhất, là chủ thể sáng tạo tri thức, là động lực nội sinh của phát triển.
Tri thức không tự sinh ra trong các điều kiện vật chất khách quan mà được hình thành thông qua hoạt động thực tiễn sáng tạo của con người, thông qua quá trình “vật hóa” năng lực tư duy vào lao động. Trong bối cảnh kinh tế tri thức phát triển, nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo chính là biểu hiện cụ thể của con người với tư cách là chủ thể sáng tạo tri thức, là nhân tố tạo ra sức mạnh nội sinh cho sự phát triển của quốc gia. Họ là trung tâm của quá trình sản xuất và tái sản xuất tri thức. Ở trình độ phát triển mới, tri thức đã trở thành yếu tố sản xuất chủ đạo và lao động trí tuệ giữ vai trò quyết định đối với năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chính đội ngũ nhân lực khoa học – công nghệ, với năng lực tư duy hệ thống, khả năng nghiên cứu, phân tích và sáng tạo, là những người chuyển hóa tri thức khoa học thành công nghệ, chuyển hóa công nghệ thành năng lực sản xuất thực tiễn. Họ tạo nên chuỗi giá trị mới, hình thành năng lực sáng tạo quốc gia – yếu tố đặc trưng của nền kinh tế tri thức.
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin mọi sự phát triển đều bắt nguồn từ những mâu thuẫn nội tại và được thúc đẩy bởi động lực bên trong. Đối với sự phát triển quốc gia, động lực ấy không phải từ bên ngoài mà xuất phát từ chính con người, yếu tố có khả năng sáng tạo, đổi mới và thích ứng. Nhân lực chất lượng cao trong khoa học – công nghệ không chỉ vận dụng tri thức sẵn có mà còn liên tục sáng tạo tri thức mới, mở rộng giới hạn nhận thức của nhân loại, nhờ đó tạo ra sức bật tự thân của nền kinh tế, bảo đảm tính tự chủ và bền vững của phát triển.
Thứ hai, là nhân tố quyết định khả năng hội nhập và năng lực tự chủ tri thức của quốc gia.
Trong bối cảnh tri thức và công nghệ vươn lên giữ vai trò là lực lượng sản xuất chủ đạo, những mô hình tăng trưởng dựa trên khai thác vốn và lợi thế lao động giá rẻ ngày càng bộc lộ giới hạn lịch sử. Mô hình phát triển hiện đại được kiến tạo trên nền tảng đổi mới sáng tạo trở thành sức sống nội sinh, năng lực cạnh tranh và độ bền vững của toàn bộ hệ thống kinh tế – xã hội. Trong mô hình này, nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết định cấu trúc, phương thức và tốc độ phát triển. Chính họ là lực lượng tạo ra tri thức mới, nắm bắt và làm chủ công nghệ lõi, hình thành nên năng lực tự chủ về công nghệ và tri thức của quốc gia. Nguồn nhân lực này cũng là cầu nối giữa năng lực nội sinh và tiến trình hội nhập quốc tế.
Một quốc gia chỉ có thể hội nhập hiệu quả khi đủ khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở các khâu có hàm lượng tri thức và công nghệ cao; điều đó đòi hỏi đội ngũ nhân lực không chỉ biết tiếp thu mà còn có khả năng sáng tạo, cải tiến và thích ứng linh hoạt với những biến động công nghệ toàn cầu. Năng lực tự chủ tri thức vì thế không chỉ là chỉ báo của trình độ khoa học – công nghệ mà còn là biểu hiện của bản lĩnh tự cường dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa và cạnh tranh tri thức.
Thứ ba, góp phần cải thiện chất lượng sống và giải quyết tốt các vấn đề xã hội và môi trường.
Trong nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là lực lượng trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà còn là chủ thể kiến tạo những giá trị mới gắn liền với tiến bộ xã hội và phát triển bền vững. Thông qua khả năng nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đội ngũ này góp phần giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu như khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường hay bất bình đẳng xã hội.
Việc phát triển các công nghệ sạch, y học chính xác, nông nghiệp thông minh và các mô hình kinh tế tuần hoàn là minh chứng sinh động cho vai trò của tri thức khoa học và đổi mới sáng tạo trong việc cải thiện chất lượng sống của con người. Nguồn nhân lực này còn bảo đảm cho quá trình phát triển diễn ra một cách hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Họ là lực lượng giúp chuyển hóa tri thức khoa học thành chính sách, sản phẩm và dịch vụ có giá trị xã hội, góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm nghèo, mở rộng cơ hội giáo dục, chăm sóc sức khỏe cũng như cải thiện phúc lợi cộng đồng. Sự hiện diện của đội ngũ nhân lực này còn giúp tăng cường năng lực quản trị tri thức, hình thành nền văn hóa đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao năng lực tự chủ của quốc gia trong việc định hướng phát triển và thích ứng với các biến động toàn cầu.
Thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp công nghệ.
Trong nền kinh tế tri thức, nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo giữ vai trò hạt nhân trong việc hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp công nghệ. Họ là lực lượng nắm giữ tri thức chuyên sâu, có khả năng tư duy phản biện, nghiên cứu ứng dụng và chuyển hóa tri thức khoa học thành sản phẩm, dịch vụ, hoặc giải pháp công nghệ có giá trị gia tăng cao. Chính năng lực sáng tạo, phân tích và tích hợp công nghệ của đội ngũ này tạo nên sức bật cho quá trình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Sự phát triển của các trung tâm đổi mới sáng tạo, viện nghiên cứu ứng dụng, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao và các vườn ươm sáng tạo đều phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của nguồn nhân lực này. Họ là cầu nối giữa nghiên cứu và thị trường, giữa ý tưởng và sản phẩm, giữa tri thức và giá trị kinh tế – xã hội. Khi được hỗ trợ bởi môi trường thể chế thuận lợi, nguồn nhân lực tri thức sẽ góp phần hình thành “hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia”. Đây là nơi doanh nghiệp, trường đại học và cơ quan quản lý nhà nước tương tác trong chuỗi giá trị sáng tạo mở, tạo điều kiện cho khởi nghiệp công nghệ phát triển mạnh mẽ.
Thứ năm, tăng cường năng lực cạnh tranh.
Trong nền kinh tế tri thức, nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là yếu tố trung tâm quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia. Họ là lực lượng trực tiếp tạo ra tri thức mới, làm chủ công nghệ lõi, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và tái cấu trúc mô hình sản xuất – kinh doanh theo hướng giá trị gia tăng cao. Sự hiện diện của đội ngũ nhân lực này giúp gia tăng năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu ở những công đoạn có hàm lượng công nghệ và tri thức cao. Đồng thời, họ là nhân tố quan trọng trong việc tiếp thụ, cải tiến và nội địa hóa công nghệ nước ngoài, qua đó giảm sự lệ thuộc vào nguồn tri thức ngoại sinh và củng cố năng lực tự chủ công nghệ của quốc gia. Ở cấp độ thể chế, nhân lực chất lượng cao còn góp phần hình thành môi trường quản trị đổi mới hiệu quả, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học, tạo ra hệ sinh thái tri thức năng động, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia một cách bền vững.
Thứ sáu, thúc đẩy hội nhập quốc tế và hợp tác khoa học – công nghệ.
Với kiến thức chuyên môn vững vàng và khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến, nguồn nhân lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chất lượng cao góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam tham gia vào các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao. Đồng thời, đội ngũ này là cầu nối trong quá trình chuyển giao công nghệ, giúp các doanh nghiệp trong nước nhanh chóng tiếp thu và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại từ các quốc gia phát triển, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, họ cũng giữ vai trò nòng cốt trong việc ký kết và triển khai các hiệp định hợp tác khoa học – công nghệ với các quốc gia và tổ chức quốc tế, giúp Việt Nam xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, tận dụng hiệu quả nguồn lực và tri thức toàn cầu. Ngoài ra, đội ngũ nhân lực này tham gia tích cực vào những dự án hợp tác nghiên cứu giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế, góp phần nâng cao trình độ khoa học – công nghệ của Việt Nam, từ đó, thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước.
3. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam
Những năm gần đây, cùng với tiến trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng và định hướng phát triển kinh tế tri thức, Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo số liệu của Cục Thống kê, tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật có chứng chỉ của Việt Nam tăng mạnh từ năm 2019 đến nay.

Từ những số liệu trên cho thấy, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn – kỹ thuật ở Việt Nam đang có xu hướng gia tăng rõ rệt, phản ánh nỗ lực của Nhà nước trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đặc biệt, trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, đội ngũ nhân lực này không ngừng được củng cố và mở rộng cả về quy mô lẫn năng lực sáng tạo, trở thành lực lượng nòng cốt trong việc tạo ra tri thức mới, thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam có khoảng 768 nhà nghiên cứu quy đổi toàn thời gian (FTE) trên một triệu dân, xếp vào nhóm quốc gia có tốc độ gia tăng nhân lực khoa học và công nghệ nhanh trong khu vực Đông Nam Á5. Đặc biệt, trong các ngành công nghệ thông tin, điện tử – viễn thông, trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học, đội ngũ nhân lực chất lượng cao đang hình thành và phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò tiên phong trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Tnh đến cuối năm 2024, Việt Nam có 73.788 doanh nghiệp công nghệ số, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2023, cùng với gần 1,26 triệu lao động hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông6. Nhiều trường đại học, học viện công nghệ đã mở rộng tuyển sinh và đào tạo các ngành mũi nhọn này, cung cấp hàng nghìn kỹ sư và nhà khoa học mỗi năm.
Theo số liệu thống kê, năm 2020, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực khoa học -công nghệ hơn 34.000 người, hơn 42.000 cán bộ giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và hàng vạn cán bộ khoa học – công nghệ làm việc trong các ngành, lĩnh vực kinh tế khác. Đây là lực lượng then chốt trong việc giảng dạy, nghiên cứu, phát triển khoa học và chuyển giao công nghệ vào thực tiễn. Nhiều cá nhân trẻ tuổi đã có các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục ISI/Scopus, là tác giả của các sáng chế, thậm chí đã thành công trong việc chuyển giao công nghệ để tạo ra sản phẩm ngày càng có chất lượng đáp ứng xu thế phát triển của xã hội.
Song song với đó, đội ngũ giáo sư và phó giáo sư – những người có vai trò quan trọng trong đào tạo, nghiên cứu và định hướng phát triển khoa học cũng không ngừng gia tăng. Theo thống kê từ năm 2015 – năm 2020, cả nước có tổng cộng 15.647 giáo sư và phó giáo sư. Đây là lực lượng trí thức nòng cốt, đóng vai trò quan trọng trong giảng dạy, nghiên cứu và phát triển khoa học – công nghệ. Năm 2024, theo thông tin từ Hội đồng Giáo sư Nhà nước, Việt Nam đã công nhận 614 ứng viên đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư và phó giáo sư, (bao gồm 45 giáo sư và 569 phó giáo sư). Điều này cho thấy, chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo không ngừng được nâng lên, đáp ứng cho các ngành, nghề trọng điểm, mũi nhọn. Bên cạnh sự gia tăng về số lượng và chất lượng, đội ngũ giáo sư và phó giáo sư tại Việt Nam cũng đang có xu hướng trẻ hóa với độ tuổi ứng viên đạt tiêu chuẩn giáo sư nằm trong khoảng 45 tuổi – 55 tuổi7. Điều này đã mang lại sự đổi mới phương pháp nghiên cứu, tiếp cận các vấn đề thực tiễn nhanh hơn, góp phần quan trong quan trọng trong chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Về đào tạo, tỷ lệ sinh viên theo học các ngành STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học) tăng nhanh trong thập niên qua. Năm 2024, Việt Nam có hơn 218.000 tân sinh viên ngành STEM, chiếm khoảng 36% tổng số tuyển sinh đại học, tăng 10,6% so với năm 20238. Bên cạnh đó, số lượng học viên sau đại học trong lĩnh vực này cũng tăng, với khoảng 20.000 học viên cao học và gần 4.000 nghiên cứu sinh. Những con số này cho thấy, sự dịch chuyển tích cực trong cơ cấu đào tạo nhân lực hướng tới phục vụ nền kinh tế số và đổi mới sáng tạo.
Từ những kết quả trên đã góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo của Việt Nam trong những năm gần đây. Năm 2019, chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0) của Việt Nam xếp thứ 67 trong tổng số 141 nền kinh tế thế giới, đứng vị trí thứ 7 trong tổng 9 quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Năm 2023, theo báo cáo của tổ chức Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), Việt Nam tiếp tục có sự cải thiện thứ hạng đầu vào đổi mới sáng tạo tăng 2 bậc so với năm 2022, từ vị trí 59 lên 57. Trong đó, chỉ số đầu vào đổi mới sáng tạo của nguồn nhân lực và nghiên cứu có sự tiến bộ đáng kể. Năm 2020 và 2021 xếp hạng 79/132 quốc gia, năm 2022 xếp hàng 80/132 quốc gia đến năm 2023 có một sự thay đổi rõ rệt đứng thứ 71/132 quốc gia9. Riêng năm 2024, Việt Nam xếp hạng 44 trên 133 quốc gia và nền kinh tế, tăng 2 bậc so với năm 2023, tiếp tục duy trì vị trí thứ 2 trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp, chỉ sau Ấn Độ (hạng 39); đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, sau Singapore, Malaysia và Thái Lan10. Mặc dù các chỉ số này không phản ánh trực tiếp nhưng phần nào cho thấy chất lượng nguồn nhân lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của nước ta ngày càng được nâng cao, góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa đáp ứng nhu cầu phát triển. Cường độ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) còn thấp so với mặt bằng chung của các nền kinh tế công nghiệp mới. Bên cạnh đó, mật độ nhà nghiên cứu trên dân số vẫn ở mức khiêm tốn. Theo thống kê năm 2021, Việt Nam có khoảng 779 nhà nghiên cứu trên 1 triệu dân, thấp hơn nhiều so với Singapore (7.488), Hàn Quốc (6.856), Trung Quốc (1.307) và Thái Lan (1.699)11. Đặc biệt là nguồn nhân lực trình độ cao trong các ngành công nghệ mũi nhọn, như: trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ sinh học, tự động hóa, vật liệu mới,… chiếm một tỷ lệ tương đối thấp, chất lượng chưa cao. Theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), chất lượng nhân lực khoa học – công nghệ của Việt Nam năm 2019 xếp thứ 67/141 quốc gia, kỹ năng lao động của Việt Nam chỉ đạt 61,5/100 điểm, thấp hơn nhiều so với các nước phát triển. Ngoài ra, tỷ lệ nữ giới tham gia vào lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo thấp hơn đáng kể so với nam giới. Theo số liệu từ Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), nữ giới chỉ chiếm 37% lực lượng lao động trong lĩnh vực công nghệ tại Việt Nam12.
Những hạn chế về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo xuất phát từ những nguyên nhân sau:
(1) Chất lượng đào tạo đại học và sau đại học trong lĩnh vực khoa học – công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu mới của nền kinh tế tri thức. Chương trình đào tạo ở nhiều cơ sở giáo dục còn chậm cập nhật với xu hướng công nghệ hiện đại; khả năng thực hành, nghiên cứu ứng dụng và kỹ năng liên ngành của sinh viên còn yếu. Sự thiếu gắn kết giữa nhà trường – viện nghiên cứu – doanh nghiệp dẫn đến tình trạng cung – cầu nhân lực mất cân đối, đặc biệt trong các lĩnh vực mới nổi, như: AI, bán dẫn, công nghệ sinh học hay năng lượng tái tạo.
(2) Ngân sách đầu tư cho R&D còn thấp. Theo dữ liệu của Trading Economics (2024), tỷ lệ chi R&D của Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,42% GDP, trong khi mức trung bình của các quốc gia thuộc nhóm công nghiệp mới (NICs) thường dao động từ 2-3% GDP13. Cường độ đầu tư thấp không chỉ hạn chế quy mô các dự án nghiên cứu mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ khoa học, làm giảm sức hấp dẫn của nghề nghiên cứu và khả năng thu hút nhân tài trong các lĩnh vực mũi nhọn.
(3) Thiếu cơ sở hạ tầng và môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp. Việt Nam thiếu các trung tâm nghiên cứu công nghệ cao, trang thiết bị phòng thí nghiệm, cơ sở nghiên cứu còn lạc hậu so với các nước phát triển. Điều này khiến các nhà khoa học gặp nhiều khó khăn trong việc tiến hành nghiên cứu chuyên sâu. Môi trường nghiên cứu chưa khuyến khích sáng tạo. Nhiều nhà khoa học phải đối mặt với các rào cản về hành chính, thủ tục xin tài trợ nghiên cứu rườm rà.
(4) Chế độ đãi ngộ chưa thực sự thỏa đáng nên khó giữ chân nhân tài, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao trong các ngành khoa học mũi nhọn. Mức lương, thu nhập và cơ hội thăng tiến của đội ngũ nghiên cứu còn thấp so với khu vực tư nhân hoặc các cơ sở quốc tế, khiến hiện tượng “chảy máu chất xám” tiếp tục diễn ra, đặc biệt ở nhóm nhân lực trẻ có trình độ cao. Nhiều nhà khoa học trẻ, kỹ sư công nghệ giỏi chọn làm việc ở nước ngoài do có mức thu nhập và cơ hội phát triển tốt hơn. Bên cạnh đó, hệ thống đánh giá, bổ nhiệm và khen thưởng trong nhiều tổ chức khoa học còn nặng tính hình thức, chưa dựa nhiều trên kết quả và hiệu quả nghiên cứu, làm giảm động lực sáng tạo cá nhân.
(5) Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo chưa đủ mạnh, làm giảm động lực sáng tạo của người trẻ. Chưa có nhiều vườn ươm công nghệ chuyên biệt cho từng lĩnh vực như AI, blockchain, công nghệ sinh học… Cơ chế tài trợ nghiên cứu theo kết quả và cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ còn nhiều ràng buộc hành chính, làm hạn chế tính linh hoạt trong quản lý và sáng tạo của nhà khoa học. Phần lớn các quỹ đầu tư vào startup Việt Nam đến từ nước ngoài, chưa có nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa. Vì vậy, nhiều startup gặp khó khăn trong việc gọi vốn, đặc biệt là ở giai đoạn đầu. Người trẻ có ý tưởng sáng tạo nhưng thiếu tài chính để hiện thực hóa, dần mất động lực theo đuổi khởi nghiệp.
(6) Văn hóa khoa học và tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội chưa thật sự trở thành dòng chảy chủ đạo. Sự coi trọng bằng cấp hơn năng lực thực hành, tâm lý e ngại rủi ro trong khởi nghiệp công nghệ, cùng nhận thức xã hội chưa đầy đủ về giá trị của tri thức và sáng tạo khiến cho lực lượng nhân tài khoa học chưa được khơi dậy và phát huy đúng mức.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức của các cấp, các ngành và của toàn xã hội đối với vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặt vấn đề phát triển nhân lực tri thức vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển quốc gia, chuyển từ nhận thức “coi trọng vật chất – kỹ thuật” sang “coi trọng tri thức – sáng tạo – con người”. Xác định rõ phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là yếu tố then chốt trong các chiến lược quốc gia. Yêu cầu các bộ, ngành, địa phương có chính sách cụ thể để hỗ trợ phát triển nhân lực khoa học – công nghệ.
Thứ hai, tạo cơ chế đãi ngộ hấp dẫn cho nhân lực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tăng lương, chế độ phúc lợi cho các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ để giữ chân nhân tài. Xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính, cấp vốn nghiên cứu cho những người làm việc trong lĩnh vực khoa học – công nghệ. Ngoài ra cần có những chính sách kết nối, thu hút, trọng dụng lực lượng chuyên gia người Việt có chuyên môn về khoa học – công nghệ đang làm việc cho các tập đoàn, doanh nghiệp trong nước hoặc đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài bằng các hình thức hợp tác, liên kết sẽ mang lại hiệu quả cao và tiết kiệm được chi phí. Xây dựng môi trường làm việc thuận lợi cho sáng tạo và nghiên cứu.
Thứ ba, đổi mới căn bản hệ thống giáo dục đại học và đào tạo sau đại học, đặc biệt trong các ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ cao. Đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện. Xây dựng chương trình giảng dạy theo hướng ứng dụng thực tiễn, gắn kết với doanh nghiệp. Đẩy mạnh đào tạo liên ngành, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới, như: AI, blockchain, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo. Cần chuyển trọng tâm từ “truyền thụ kiến thức” sang “phát triển năng lực sáng tạo, tư duy phản biện và kỹ năng đổi mới”, đồng thời, khuyến khích mô hình “đại học khởi nghiệp” để gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế số.
Thứ tư, thúc đẩy liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp thành chuỗi giá trị tri thức hoàn chỉnh. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, doanh nghiệp là trung tâm đổi mới sáng tạo, còn các cơ sở giáo dục – nghiên cứu là nguồn cung tri thức và nhân lực chất lượng cao. Việc xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, khu công nghệ cao và mạng lưới vườn ươm công nghệ sẽ là động lực quan trọng kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái khoa học – công nghệ.
Thứ năm, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Tăng cường hợp tác với các nước phát triển về đào tạo nhân lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Xây dựng chương trình trao đổi sinh viên, giảng viên, nhà nghiên cứu giữa các trường đại học Việt Nam và quốc tế. Mở rộng hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Tăng cường tham gia vào các chương trình nghiên cứu đa quốc gia, đặc biệt trong các lĩnh vực mũi nhọn, như: AI, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo… Phát triển các trung tâm R&D có sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài để thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng.
5. Kết luận
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo là một yêu cầu cấp thiết để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam cần có cách tiếp cận toàn diện, bao gồm nâng cao nhận thức của toàn xã hội, đổi mới giáo dục – đào tạo, tăng cường liên kết giữa Nhà nước – doanh nghiệp – viện nghiên cứu cũng như mở rộng hợp tác quốc tế. Điều này giúp Việt Nam có thể từng bước xây dựng một đội ngũ nhân lực khoa học – công nghệ trình độ cao, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số và cách mạng công nghiệp 4.0.
Chú thích:
1. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 474 – 475.
2. UNDP (2000). World Development Indicators. London, Oxford. pp. 422.
3. Nguyễn Hữu Dũng (2002). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Tạp chí Lý luận chính trị, Số 8, tr. 20.
4. Đỗ Văn Đạo (2009). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay. Tạp chí Tuyên giáo, Số 10, tr. 29 – 30.
5. Worldbank (2025). Researchers in R&D (per million people) – Viet Nam. https://data.worldbank.org/indicator/SP.POP.SCIE.RD.P6?locations=VN
6. Việt Nam hiện có gần 74.000 công ty công nghệ với trên 1,2 triệu lao động. https://vneconomy.vn/viet-nam-hien-co-gan-74-000-cong-ty-cong-nghe-voi-tren-1-2-trieu-lao-dong.htm.
7. Đề xuất cơ chế, chính sách nghiên cứu khoa học cho giảng viên trẻ. https://www.vietnamplus.vn/de-xuat-co-che-chinh-sach-nghien-cuu-khoa-hoc-cho-giang-vien-tre/596519.vnp.
8. Năm 2025: Số lượng người học ngành STEM tăng mạnh. https://giaoducthoidai.vn/so-luong-nguoi-hoc-nganh-stem-tang-manh-post738291.html.
9, 10. WIPO (2023). Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index 2023 – GII). Geneva, WIPO.
11. Tôn vinh vai trò của phụ nữ trong thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo. https://www.most.gov.vn/vn/tin-tuc/23011/ton-vinh-vai-tro-cua-phu-nu-trong-thuc-day-hoat-dong-doi-moi-sang-tao.aspx,.
12. UNWOMEN (2019). Tổng quan về bình đẳng giới ở Việt Nam. UN Women, Hà Nội.
13. Trading Economics (2024). Vietnam – Research And Development Expenditure (% Of GDP). https://tradingeconomics.com/vietnam/research-and-development-expenditure-percent-of-gdp-wb-data.html.



