Đổi mới quản trị công ở Việt Nam theo hướng minh bạch, công bằng và hiệu quả trong kỷ nguyên mới

GS.TS. Nguyễn Quốc Sửu
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh Việt Nam triển khai thực hiện Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị, yêu cầu đổi mới quản trị công theo hướng hiện đại, minh bạch, công bằng và hiệu quả ngày càng trở nên cấp thiết. Trên cơ sở hệ thống hóa các luận điểm lý thuyết của quản trị công hiện đại, phân tích những chuyển biến trong thực tiễn quản trị công trước và sau khi ban hành Kết luận số 121-KL/TW,  làm rõ các cơ hội và thách thức đặt ra đối với tiến trình tinh gọn bộ máy, nâng cao năng lực giải trình và mở rộng phạm vi phân cấp, phân quyền trong quản lý Nhà nước. Trên nền tảng đó, bài viết đề xuất một số điều kiện bảo đảm mang tính thể chế và tổ chức nhằm thúc đẩy sự hình thành nền quản trị công hiện đại, góp phần hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Quản trị công; minh bạch; công bằng; hiệu quả; Kết luận số 121-KL/TW.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các mô hình quản trị công hiện đại đều coi minh bạch, công bằng và hiệu quả là những giá trị cốt lõi, có vai trò quyết định đối với việc nâng cao chất lượng quản lý nhà nước cũng như củng cố niềm tin của xã hội. Ở Việt Nam, việc sử dụng các công cụ đo lường như Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) hay Chỉ số sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) cho thấy, mối liên hệ chặt chẽ giữa chất lượng quản trị với mức độ công khai, trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ, công chức tác động trực tiếp đến sự hài lòng của người dân.

Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước thời gian qua chủ yếu tập trung vào cải cách hành chính, phát triển chính phủ điện tử hoặc nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, trong khi việc tiếp cận minh bạch như một nội dung cốt lõi của quản trị công gắn với yêu cầu tái cấu trúc tổ chức bộ máy hành chính lại chưa được tiếp cận một cách đầy đủ, hệ thống và chuyên sâu. Do đó, việc ban hành Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị1 về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 đã đặt ra yêu cầu tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy, tăng cường trách nhiệm giải trình và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Những định hướng này thể hiện rõ quyết tâm chính trị trong việc xây dựng nền hành chính nhà nước vận hành theo các chuẩn mực minh bạch, công bằng và hiệu quả. Trên cơ sở đó, tập trung làm rõ nội hàm minh bạch trong quản trị công; phân tích thực trạng quản trị công ở Việt Nam trước và sau khi ban hành Kết luận số 121-KL/TW; đánh giá tác động của cải cách thể chế mới; đồng thời, đề xuất một số điều kiện bảo đảm nhằm hiện thực hóa yêu cầu minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quản trị công ở Việt Nam thời gian tới.

2. Quản trị công minh bạch, công bằng, hiệu quả

2.1. Minh bạch trong quản trị công

Trong lý luận quản trị công hiện đại, minh bạch được xác định là một trong những tiêu chí cốt lõi của quản trị tốt, gắn với trách nhiệm giải trình và sự tham gia của công dân. Minh bạch không chỉ dừng lại ở việc công khai thông tin mà còn bao hàm khả năng tiếp cận, giám sát và phản hồi của xã hội đối với hoạt động của cơ quan công quyền. Từ góc độ đó, minh bạch trong quản trị công được tiếp cận trên một số bình diện cơ bản sau:

(1) Tiếp cận thông tin.

Quyền tiếp cận thông tin là điều kiện tiên quyết để người dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Việc ban hành Luật Tiếp cận thông tin năm 20162 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng, theo đó, các cơ quan nhà nước có nghĩa vụ công khai thông tin và đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin của công dân. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy vẫn còn nhiều bất cập thể hiện ở tình trạng chậm trễ trong cung cấp thông tin, nội dung công khai còn chưa đầy đủ, thủ tục tiếp cận thông tin còn phức tạp, các kênh cung cấp thông tin trực tuyến chưa phát huy hiệu quả. Do đó, qua kinh nghiệm một số nước trên thế giới cho thấy, nhiều quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã xây dựng và vận hành các cổng dữ liệu mở, cho phép công dân và doanh nghiệp truy cập, khai thác, sử dụng dữ liệu công nhằm tăng cường giám sát hoạt động của chính phủ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo3. So với mô hình này, Việt Nam mới ở giai đoạn đầu, chủ yếu công bố văn bản pháp luật và báo cáo tổng hợp, trong khi dữ liệu định lượng, chuyên sâu và có khả năng tái sử dụng còn khá hạn chế.

(2) Trách nhiệm giải trình.

Trách nhiệm giải trình được coi là trụ cột của quản trị công minh bạch, phản ánh mối quan hệ hai chiều giữa Nhà nước và xã hội. Ở Việt Nam, yêu cầu giải trình đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và cụ thể hóa trong các luật về tổ chức bộ máy nhà nước. Khoản 2 Điều 28 Hiến pháp quy định: “Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân4. Tuy vậy, trên thực tế, cơ chế giải trình ở nhiều lĩnh vực vẫn chủ yếu ở hình thức báo cáo, chưa bảo đảm đầy đủ nghĩa vụ giải thích, chịu trách nhiệm và khắc phục sai sót trước Nhân dân. Kết quả khảo sát Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) trong nhiều năm liên tiếp cho thấy mức độ hài lòng của người dân đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo còn ở mức thấp, phản ánh những hạn chế trong việc yêu cầu cơ quan công quyền chịu trách nhiệm khi xảy ra sai phạm. Kết luận số 121-KL/TW tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu tăng cường trách nhiệm giải trình gắn với phân cấp, phân quyền; thách thức đặt ra là xây dựng và vận hành hiệu quả các cơ chế giám sát từ Quốc hội, Hội đồng nhân dân và xã hội.

(3) Công khai tài chính ngân sách.

Minh bạch tài chính – ngân sách giữ vai trò then chốt trong phòng, chống tham nhũng và bảo đảm phân bổ nguồn lực công bằng, hiệu quả. Mặc dù, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 đã quy định cụ thể về việc công khai dự toán, phân bổ và quyết toán ngân sách, song theo đánh giá của International Budget Partnership (IBP), Chỉ số Công khai Ngân sách (OBI) của Việt Nam vẫn ở mức trung bình thấp so với chuẩn mực quốc tế5. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc công khai ngân sách còn chậm, dữ liệu khó tiếp cận và cách thức trình bày chưa thực sự thân thiện, dễ hiểu đối với người dân. Điều này cho thấy, nâng cao minh bạch ngân sách ở Việt Nam không chỉ là yêu cầu tuân thủ pháp luật mà còn là điều kiện quan trọng để tăng cường trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản trị công.

(4) Minh bạch trong công tác nhân sự và quy trình ra quyết định.

Minh bạch trong công tác nhân sự và quy trình ra quyết định giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng quản trị công và củng cố niềm tin của xã hội. Nội dung này trước hết thể hiện ở việc công khai các tiêu chí, điều kiện và quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm, đánh giá và thăng tiến đội ngũ cán bộ, công chức; đồng thời, yêu cầu tính minh bạch trong quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định, chính sách công.

Thời gian qua, việc áp dụng thi tuyển cạnh tranh đối với một số chức danh lãnh đạo, quản lý cùng với việc công khai quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã góp phần cải thiện mức độ minh bạch trong khu vực công. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại tình trạng bổ nhiệm mang tính cơ cấu, khép kín trong phạm vi nội bộ, làm suy giảm niềm tin xã hội đối với tính công bằng và khách quan trong quản lý nhân sự công.

Mặc dù Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã quy định việc lấy ý kiến Nhân dân là yêu cầu bắt buộc trong quá trình xây dựng chính sách, song việc triển khai còn mang tính hình thức, chưa bảo đảm cơ chế phản hồi đầy đủ, thực chất từ các nhóm đối tượng chịu tác động trực tiếp. Điều này cho thấy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ dừng lại ở việc mở rộng các kênh công khai mà quan trọng hơn là bảo đảm minh bạch gắn chặt với trách nhiệm giải trình và khả năng tiếp thu, điều chỉnh chính sách trên cơ sở ý kiến của xã hội.

2.2. Công bằng trong quản trị công

Công bằng là một trong những nguyên tắc nền tảng của quản trị công hiện đại, bảo đảm mọi cá nhân đều có cơ hội tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ công cũng như các nguồn lực xã hội mà không bị phân biệt đối xử. Trên phương diện lý luận, nguyên tắc này được tiếp cận theo hai khía cạnh: (1) Công bằng theo chiều ngang, thể hiện việc đối xử như nhau với các chủ thể trong những điều kiện tương đồng; (2) Công bằng theo chiều dọc, nhấn mạnh việc ưu tiên, hỗ trợ các nhóm yếu thế nhằm đạt được sự bình đẳng thực chất. Trên phạm vi toàn cầu, các tổ chức quốc tế như Liên Hợp quốc, OECD hay Ngân hàng Thế giới (WB) đều xác định công bằng là một tiêu chí cốt lõi của quản trị toàn diện gắn với mục tiêu phát triển bao trùm và “không để ai bị bỏ lại phía sau”6.

Trong thực tiễn quản trị ở Việt Nam, công bằng thể hiện rõ nét ở hai lĩnh vực là phân bổ nguồn lực công và cung ứng dịch vụ công. Về phân bổ nguồn lực, ngân sách nhà nước đã dành một tỷ trọng đáng kể cho các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa phương. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng bất bình đẳng vùng miền vẫn tồn tại, đặc biệt, tại các tỉnh miền núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên, nơi người dân còn gặp không ít hạn chế trong tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu như giáo dục, y tế và hạ tầng cơ sở.

Đối với lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, kết quả khảo sát PAPI trong nhiều năm liên tục cho thấy mức độ hài lòng của người dân về các dịch vụ y tế, giáo dục và thủ tục hành chính có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm dân cư cũng như giữa các vùng , miển7. Thực trạng này phản ánh việc thực thi nguyên tắc công bằng chưa được bảo đảm đầy đủ, đặc biệt đối với các nhóm yếu thế và người dân sinh sống ở những địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.

Trong bối cảnh triển khai Kết luận số 121-KL/TW, chủ trương tinh gọn bộ máy và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền có thể tạo ra những cơ hội mới nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công. Tuy nhiên, quá trình này cũng tiềm ẩn nguy cơ gia tăng bất bình đẳng nếu thiếu các cơ chế điều tiết, phân bổ nguồn lực hợp lý và giám sát hiệu quả. Thách thức đặt ra là bảo đảm quá trình phân bổ nguồn lực và tổ chức cung ứng dịch vụ không tạo ra “khoảng trống chính sách” đối với những vùng và nhóm dân cư vốn đã chịu nhiều thiệt thòi. Do đó, công bằng cần được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với minh bạch và trách nhiệm giải trình; chỉ khi các quyết định phân bổ nguồn lực được công khai, có thể kiểm chứng và gắn với trách nhiệm rõ ràng của cơ quan thực thi thì nguyên tắc này mới có thể được hiện thực hóa một cách thực chất.

2.3. Hiệu quả quản trị

Hiệu quả là tiêu chí trọng yếu để đánh giá chất lượng quản trị công, phản ánh mối quan hệ giữa nguồn lực đầu vào, kết quả đầu ra và các tác động xã hội đạt được. Theo tiếp cận của lý thuyết quản trị công hiện đại, hiệu quả cần được xem xét trên ba bình diện cơ bản: (1) Mối tương quan giữa đầu vào và đầu ra, thể hiện ở việc sử dụng nguồn lực với chi phí hợp lý nhằm tạo ra số lượng và chất lượng sản phẩm, dịch vụ công tối ưu; (2) Mức độ tin cậy và sự hài lòng của xã hội đối với hoạt động của bộ máy nhà nước; (3) Sự cân đối giữa chi phí và lợi ích, bảo đảm các quyết định quản trị công không chỉ tiết kiệm về mặt kinh tế mà còn tạo ra giá trị xã hội bền vững và công bằng trong dài hạn.

Trong thực tiễn quản trị công ở Việt Nam, nhiều cải cách đã góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động của nền hành chính nhà nước, tiêu biểu là việc triển khai Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và giai đoạn 2021–2030, với trọng tâm là đơn giản hóa thủ tục hành chính, phát triển chính phủ điện tử và từng bước chuyển sang chính phủ số. Kết quả khảo sát PAPI và SIPAS cho thấy, mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công có xu hướng gia tăng qua các năm8, đặc biệt ở các tiêu chí liên quan đến quy trình giải quyết thủ tục và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Tuy nhiên, hiệu quả quản trị vẫn chịu tác động của những hạn chế mang tính cơ cấu, như tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chi phí quản lý cao và cơ chế phối hợp liên ngành chưa thật sự đồng bộ.

Định hướng tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy theo Kết luận số 121-KL/TW, bao gồm: việc giảm bớt các cấp trung gian và sắp xếp lại hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập, nếu triển khai một cách nghiêm túc và nhất quán, có thể góp phần tiết kiệm chi phí quản lý, rút ngắn quy trình ra quyết định và nâng cao tốc độ cũng như chất lượng cung ứng dịch vụ công. Tuy nhiên, hiệu quả của quá trình cải cách chỉ có thể được bảo đảm khi đi kèm với các cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình rõ ràng, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức; đồng thời, bảo đảm chất lượng các dịch vụ công thiết yếu không bị suy giảm trong quá trình tinh giản. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận cân bằng giữa yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế và việc bảo đảm các giá trị xã hội, nhằm tránh tình trạng tiết kiệm chi phí nhưng làm gia tăng bất bình đẳng hoặc suy giảm niềm tin của xã hội đối với bộ máy nhà nước.

3. Quản trị công ở Việt Nam trước và sau Kết luận số 121-KL/TW

3.1. Thực trạng quản trị công trước năm 2025

Trước năm 2025, Việt Nam đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong tiến trình cải cách hành chính và hiện đại hóa quản trị khu vực công. Việc triển khai Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước qua các giai đoạn 2001-2010 và 2021-2030 đã góp phần đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính, thúc đẩy xây dựng chính phủ điện tử và chuyển đổi số, qua đó từng bước nâng cao tính minh bạch và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Hệ thống cổng dịch vụ công trực tuyến được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp trong việc tiếp cận, thực hiện thủ tục hành chính, góp phần giảm chi phí thời gian và tăng cường tính công khai, minh bạch. Cùng với cải cách thủ tục hành chính, công tác kiểm soát quyền lực trong khu vực công cũng được chú trọng thông qua việc hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng và triển khai các cơ chế kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Những nỗ lực này đã tạo lập cơ sở pháp lý quan trọng nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình và củng cố kỷ cương, kỷ luật hành chính.

Tuy nhiên, thực tiễn quản trị công trước năm 2025 vẫn bộc lộ nhiều hạn chế mang tính hệ thống. Tổ chức bộ máy hành chính nhìn chung còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, dẫn đến tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả điều hành. Mức độ minh bạch trong hoạt động quản trị chưa được bảo đảm đầy đủ; khả năng tiếp cận thông tin của người dân còn hạn chế, trong khi việc công khai ngân sách và dữ liệu quản trị ở một số lĩnh vực vẫn mang tính hình thức, khó khai thác và sử dụng. Về mặt công bằng, khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền và sự bất bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ công cơ bản vẫn tồn tại. Về hiệu quả, mặc dù đã có những cải thiện nhất định, song chi phí hành chính còn cao, quy trình thủ tục ở nhiều lĩnh vực vẫn phức tạp và hiện tượng “hành chính xin – cho” chưa được khắc phục triệt để.

Nhìn tổng thể, quản trị công ở Việt Nam trước năm 2025 vừa ghi nhận những bước tiến quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và kiểm soát quyền lực, vừa tồn tại những điểm nghẽn mang tính cơ cấu liên quan đến tổ chức bộ máy, mức độ minh bạch thông tin và bảo đảm công bằng xã hội. Chính các hạn chế này đã đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ quản trị công, đồng thời, trở thành bối cảnh trực tiếp dẫn tới việc ban hành Kết luận số 121-KL/TW của Bộ Chính trị.

3.2. Nội dung chính của Kết luận số 121-KL/TW

Kết luận số 121-KL/TW của Bộ Chính trị về tổng kết 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW đánh dấu một bước điều chỉnh quan trọng trong tư duy và phương thức cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước ở Việt Nam. Văn kiện này không chỉ kế thừa những định hướng cải cách đã được xác lập trước đó mà còn làm rõ các trọng tâm đổi mới nhằm khắc phục những hạn chế mang tính cơ cấu của quản trị công, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Có thể khái quát những định hướng cải cách mang tính trụ cột trong Kết luận số 121-KL/TW sau:

Thứ nhất, tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và giảm các cấp trung gian quản lý. Kết luận số 121-KL/TW nhấn mạnh chủ trương bãi bỏ cấp tổng cục, thu gọn đầu mối bên trong các cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời đẩy mạnh sắp xếp lại hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập. Định hướng này nhằm khắc phục tình trạng tổ chức bộ máy cồng kềnh, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ; qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị, tiết kiệm chi phí hành chính và cải thiện chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, Kết luận cũng hàm chứa yêu cầu phải gắn quá trình tinh giản với các cơ chế bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ công, tránh để việc cắt giảm đầu mối và nguồn lực tác động bất lợi đến các nhóm yếu thế hoặc các địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.

Thứ hai, tăng cường trách nhiệm giải trình và kiểm soát hoạt động công quyền được xác định là nội dung then chốt trong đổi mới quản trị theo Kết luận số 121-KL/TW. Văn kiện nhấn mạnh yêu cầu phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhân dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời, hoàn thiện các cơ chế ràng buộc trách nhiệm của cán bộ, công chức đối với quyết định và hành vi công vụ. Cách tiếp cận này thể hiện bước chuyển từ kiểm soát bằng mệnh lệnh hành chính sang tăng cường kiểm soát thông qua minh bạch, trách nhiệm giải trình và giám sát xã hội, góp phần khắc phục tình trạng giải trình hình thức và củng cố niềm tin của xã hội đối với nền hành chính nhà nước.

Thứ ba, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực theo hướng cân bằng giữa mở rộng quyền tự chủ và tăng cường giám sát. Kết luận số 121-KL/TW nhấn mạnh việc trao thêm thẩm quyền cho chính quyền địa phương trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, đồng thời, yêu cầu thiết lập các cơ chế kiểm soát quyền lực phù hợp nhằm phòng ngừa nguy cơ lạm quyền, tùy tiện. Định hướng này cho phép các địa phương chủ động, linh hoạt hơn trong xây dựng và thực thi chính sách phù hợp với điều kiện, đặc thù vùng miền, thay vì áp dụng máy móc các quy định mang tính đồng loạt; qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ hài lòng của người dân.

Như vậy, các định hướng cải cách cốt lõi được xác lập trong Kết luận số 121-KL/TW không chỉ hướng tới việc tái cấu trúc tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, mà còn gắn chặt với yêu cầu hiện đại hóa quản trị công theo các tiêu chí minh bạch, công bằng và hiệu quả. Đây là cơ sở chính trị – thể chế quan trọng, tạo nền tảng cho việc tiếp tục đổi mới quản trị công ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

3.3. Tác động dự báo đối với quản trị công

Việc triển khai Kết luận số 121-KL/TW được kỳ vọng sẽ tạo ra những chuyển biến quan trọng trong hoạt động quản trị công ở Việt Nam theo hướng hiện đại, hiệu lực và hiệu quả. Tuy nhiên, cùng với các tác động tích cực dự báo, quá trình cải cách này cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định, đòi hỏi phải được nhận diện đầy đủ và kiểm soát kịp thời nhằm bảo đảm tính bền vững của cải cách.

Trên phương diện minh bạch, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và giảm các cấp trung gian có thể góp phần làm rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước. Khi các tầng nấc quản lý được thu gọn, cơ chế công khai hoạt động công vụ và giám sát của các cơ quan dân cử, báo chí và các tổ chức chính trị – xã hội có điều kiện phát huy hiệu quả rõ nét hơn, qua đó tăng cường trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước. Tuy nhiên, nếu việc sắp xếp lại bộ máy không đi kèm với quy định rõ ràng về chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng đối với từng quyết định công vụ, nguy cơ hình thành “khoảng trống trách nhiệm” vẫn có thể xảy ra, làm suy giảm hiệu quả kiểm soát quyền lực và giám sát xã hội.

Xét trên phương diện công bằng, cải cách tổ chức bộ máy gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền có khả năng nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công thông qua việc tăng cường tính chủ động và khả năng đáp ứng sát thực tiễn của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, nguy cơ gia tăng bất bình đẳng vùng miền cũng là thách thức hiện hữu, bởi các địa phương có tiềm lực kinh tế, nguồn nhân lực và năng lực quản lý tốt sẽ có điều kiện tận dụng hiệu quả hơn lợi thế của phân quyền, trong khi các địa bàn còn khó khăn có thể gặp nhiều hạn chế trong triển khai chính sách. Do đó, bảo đảm công bằng đòi hỏi quá trình phân cấp phải được thiết kế đồng bộ với các cơ chế điều tiết và phân bổ nguồn lực hợp lý, đặc biệt trong các lĩnh vực dịch vụ công thiết yếu như giáo dục, y tế và an sinh xã hội.

Đối với hiệu quả quản trị, việc cắt giảm các tầng nấc hành chính và sắp xếp lại hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập được dự báo sẽ góp phần tiết kiệm chi phí quản lý, rút ngắn thời gian ra quyết định và nâng cao năng suất hoạt động của bộ máy Nhà nước. Tuy nhiên, hiệu quả cải cách phụ thuộc lớn vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức và mức độ phối hợp liên ngành trong thực thi nhiệm vụ. Nếu thiếu sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nhân lực và quy trình, quá trình tinh giản có thể dẫn đến tình trạng quá tải công việc hoặc thiếu hụt nhân lực chất lượng ở một số khâu then chốt. Bên cạnh đó, hiệu quả cải cách chỉ có thể được bảo đảm khi đi kèm với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và cải tiến phương thức quản trị, nhằm bảo đảm việc thu gọn tổ chức không làm suy giảm chất lượng dịch vụ công.

Do vậy, Kết luận số 121-KL/TW mở ra triển vọng quan trọng trong việc nâng cao mức độ minh bạch, công bằng và hiệu quả của quản trị công ở Việt Nam. Tuy nhiên, để các mục tiêu cải cách được hiện thực hóa một cách thực chất và bền vững, cần hoàn thiện cơ chế trách nhiệm giải trình, thiết lập các công cụ điều tiết nguồn lực phù hợp và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức. Nếu không đáp ứng đầy đủ các điều kiện này, quá trình cải cách có thể phát sinh những hệ quả ngược chiều, ảnh hưởng đến niềm tin xã hội và chất lượng quản trị công.

4. Những điều kiện bảo đảm minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quản trị công ở Việt Nam

4.1. Ý chí chính trị và sự cam kết của Đảng, Nhà nước

Ý chí chính trị và sự cam kết nhất quán của Đảng và Nhà nước là điều kiện tiên quyết nhằm bảo đảm minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quản trị công ở Việt Nam. Đây không chỉ là yếu tố định hướng về mặt tư tưởng và chính trị, mà còn quyết định mức độ ưu tiên, tính liên tục và hiệu lực thực thi của các cải cách thể chế và tổ chức bộ máy nhà nước. Trên bình diện hiến định, Hiến pháp năm 2013 khẳng định yêu cầu các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân, đồng thời đặt ra trách nhiệm bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của bộ máy công quyền9. Đây là nền tảng pháp lý quan trọng cho việc hình thành và triển khai các chính sách quản trị công theo hướng lấy người dân làm trung tâm, coi minh bạch và trách nhiệm giải trình là nguyên tắc vận hành cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trên cơ sở đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước như những định hướng chiến lược có tính lâu dài. Những định hướng này thể hiện rõ quyết tâm chính trị trong việc gắn cải cách tổ chức bộ máy với yêu cầu tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản trị công.

Trong thực tiễn, ý chí chính trị của Đảng và Nhà nước được cụ thể hóa thông qua nhiều chủ trương cải cách quan trọng, tiêu biểu là Nghị quyết số 18-NQ/TW  và Kết luận số 121-KL/TW về tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Các văn kiện này xác định minh bạch và trách nhiệm giải trình là những nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình cải cách, đồng thời, gắn tinh gọn bộ máy với yêu cầu nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số cũng phản ánh rõ cam kết chính trị trong việc hiện đại hóa nền hành chính, tăng cường công khai thông tin và nâng cao hiệu quả quản trị công.

Kinh nghiệm một số nước cho thấy, ý chí chính trị nhất quán của tầng lớp lãnh đạo đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy minh bạch và phòng, chống tham nhũng. Các báo cáo của UNDP về chỉ số PAPI cho thấy, những nỗ lực cải cách của Chính phủ Việt Nam đã góp phần cải thiện trải nghiệm của người dân trong tiếp cận dịch vụ công, mặc dù vẫn còn không ít hạn chế cần tiếp tục khắc phục10. Trong bối cảnh các quốc gia đang chuyển đổi, nếu thiếu sự lãnh đạo mạnh mẽ và cam kết chính trị bền bỉ từ phía Đảng và Chính phủ, các chính sách về minh bạch và cải cách quản trị rất dễ rơi vào hình thức, khó tạo ra tác động thực chất.

Như vậy, ý chí chính trị và sự cam kết của Đảng và Nhà nước không chỉ mang ý nghĩa định hướng chiến lược mà còn là điều kiện bảo đảm mang tính nền tảng để các cải cách nhằm nâng cao minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quản trị công ở Việt Nam được triển khai đồng bộ và bền vững.

4.2. Hoàn thiện khung pháp lý sau cải cách tinh gọn bộ máy và cấu trúc lại chính quyền địa phương

Bên cạnh ý chí chính trị, việc hoàn thiện khung pháp lý đóng vai trò điều kiện then chốt nhằm hiện thực hóa các nguyên tắc minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quản trị công ở Việt Nam, đặc biệt, trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy và tái cấu trúc chính quyền địa phương theo tinh thần Kết luận số 121-KL/TW.

Thứ nhất, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, được Quốc hội (khóa XV) thông qua, đã tạo lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc sắp xếp bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả. Luật nhấn mạnh yêu cầu thu gọn các cấp trung gian, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa trung ương và địa phương, đồng thời, tăng cường cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình của chính quyền các cấp. Những quy định này góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tính minh bạch trong hoạt động của chính quyền địa phương.

Thứ hai, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã xác lập khuôn khổ pháp lý cơ bản để người dân thực hiện quyền được biết và quyền giám sát đối với hoạt động của cơ quan công quyền. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy, Luật này vẫn còn những hạn chế nhất định, thể hiện ở quy trình cung cấp thông tin chưa thực sự rõ ràng, tình trạng chậm trễ hoặc cung cấp thông tin chưa đầy đủ. Trong bối cảnh cải cách bộ máy và tăng cường phân cấp, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện các cơ chế bảo đảm thi hành luật theo hướng mở rộng danh mục thông tin phải được công khai một cách chủ động, đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và phát triển dữ liệu mở nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của người dân và tăng cường hiệu quả giám sát xã hội.

Thứ ba, Luật Đất đai năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo đảm minh bạch và công bằng trong quản trị tài nguyên đất đai. Luật đã bổ sung và hoàn thiện nhiều quy định liên quan đến công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất và các thủ tục hành chính về đất đai; đồng thời, tăng cường vai trò giám sát của cộng đồng. Việc mở rộng quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực đất đai không chỉ góp phần phòng, chống tham nhũng và tiêu cực mà còn bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, nhất là trong bối cảnh khiếu kiện đất đai vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong các tranh chấp hành chính hiện nay.

Nhìn chung, việc hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý trong các lĩnh vực tổ chức chính quyền, tiếp cận thông tin và quản lý đất đai là nền tảng quan trọng để triển khai hiệu quả các nguyên tắc minh bạch, công bằng trong quản trị công. Đồng thời, đây cũng là thước đo phản ánh mức độ thể chế hóa và hiện thực hóa các định hướng cải cách được xác lập trong Kết luận số 121-KL/TW.

4.3. Sự tham gia của người dân, các tổ chức chính trị – xã hội, báo chí và doanh nghiệp

Trong quản trị công hiện đại, sự tham gia của người dân, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức nghề nghiệp, báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những điều kiện quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch, công bằng và hiệu quả trong hoạt động công quyền. Cách tiếp cận quản trị lấy người dân làm trung tâm nhấn mạnh vai trò của xã hội không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là chủ thể tham gia giám sát, phản biện và đồng kiến tạo chính sách công.

Người dân giữ vai trò trung tâm trong việc giám sát hoạt động của chính quyền thông qua các cơ chế dân chủ ở cơ sở cũng như các công cụ đánh giá độc lập, tiêu biểu là Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI). Báo cáo PAPI năm 202411 cho thấy, mặc dù cải cách hành chính đã đạt được những kết quả tích cực, song mức độ hài lòng của người dân vẫn có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm xã hội, đặc biệt là phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số và người dân sinh sống ở vùng sâu, vùng xa. Thực trạng này cho thấy, việc mở rộng và nâng cao chất lượng các kênh tham gia, giám sát từ cơ sở là yêu cầu thiết yếu nhằm giảm thiểu bất bình đẳng và bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ công.

Trên thực tế, người dân có thể tham gia giám sát hoạt động của chính quyền thông qua nhiều hình thức khác nhau, như: góp ý thông qua các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức cộng đồng ở cơ sở, các diễn đàn trực tuyến cũng như phản ánh trực tiếp thông qua các ứng dụng và nền tảng số do cơ quan nhà nước thiết lập. Những năm gần đây, hoạt động giám sát và phản biện chính sách trên môi trường số có xu hướng gia tăng, đặc biệt trong nhóm công dân trẻ và có trình độ, góp phần mở rộng không gian công khai và đối thoại chính sách. Bên cạnh đó, các tổ chức xã hội và tổ chức nghề nghiệp ngày càng thể hiện vai trò tích cực trong việc tham gia xây dựng, phản biện và vận động chính sách. Dữ liệu PAPI, vì vậy, không chỉ có ý nghĩa khảo sát mà còn trở thành công cụ tham chiếu quan trọng để các cơ quan nhà nước và giới nghiên cứu đánh giá, điều chỉnh và thúc đẩy cải cách quản trị.

Báo chí giữ vị trí đặc biệt trong hệ thống giám sát xã hội, nhất là trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực. Luật Báo chí năm 2016 xác định báo chí vừa là “diễn đàn của Nhân dân”, vừa là công cụ giám sát hoạt động công quyền, phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Thông qua việc phản ánh kịp thời các vấn đề xã hội và hoạt động của bộ máy nhà nước, báo chí góp phần tăng cường tính minh bạch, đồng thời tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật.

Các doanh nghiệp và hiệp hội nghề nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy minh bạch và hiệu quả của môi trường quản trị kinh tế. Tuy nhiên, các khảo sát của Towards Transparency12 cho thấy vẫn còn một bộ phận doanh nghiệp phải dựa vào quan hệ cá nhân để tiếp cận thông tin từ cơ quan Nhà nước, phản ánh những hạn chế trong công khai, minh bạch về chính sách và thủ tục hành chính. Do đó, việc tăng cường sự tham gia chủ động và có trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp không chỉ góp phần nâng cao tính minh bạch trong quản lý nhà nước, mà còn thúc đẩy hình thành văn hóa kinh doanh liêm chính, công bằng và hiệu quả, qua đó tạo động lực cho phát triển bền vững.

4.4. Nâng cao năng lực và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức

Năng lực và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những điều kiện then chốt bảo đảm sự vận hành hiệu quả của nền hành chính nhà nước theo các nguyên tắc minh bạch, công bằng và hiệu quả. Về phương diện năng lực, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ giới hạn ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ, mà còn bao hàm năng lực quản lý, tư duy phân tích và hoạch định chính sách, khả năng phối hợp liên ngành, cũng như mức độ thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản trị. Theo Báo cáo cải cách hành chính năm 2022 của Bộ Nội vụ13, mặc dù tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ đại học và sau đại học tiếp tục gia tăng, song các kỹ năng liên quan đến phân tích chính sách, quản trị dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin vẫn còn là khâu yếu. Hạn chế này đặt ra thách thức không nhỏ trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng Chính phủ số, hướng tới nền hành chính hiện đại, lấy dữ liệu và công nghệ làm nền tảng cho quá trình ra quyết định.

Bên cạnh năng lực chuyên môn, đạo đức công vụ giữ vai trò nền tảng trong việc củng cố niềm tin của xã hội đối với bộ máy nhà nước. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã mở rộng các quy định về công khai tài sản, thu nhập và trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức; tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng nhũng nhiễu và “tham nhũng vặt” vẫn chưa được khắc phục triệt để, tác động tiêu cực đến hiệu quả quản trị và tính công bằng trong cung ứng dịch vụ công. Kết quả khảo sát PAPI năm 202314 cho thấy, gần 30% người dân được hỏi cho biết vẫn phải chi trả các khoản ngoài quy định để tiếp cận một số dịch vụ hành chính, phản ánh những bất cập trong kiểm soát đạo đức công vụ, đặc biệt ở cấp cơ sở.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, yêu cầu đặt ra cần triển khai đồng bộ các giải pháp cải cách trong tuyển dụng nhân sự, đào tạo, đánh giá cán bộ, công chức. OECD nhấn mạnh việc áp dụng khung năng lực (competency framework) gắn với đánh giá hiệu quả dựa trên kết quả đầu ra như một công cụ quan trọng nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và trách nhiệm giải trình trong khu vực công. Song song với đó, cần tiếp tục phát huy hiệu quả các cơ chế kiểm soát nội bộ cũng như vai trò giám sát của cơ quan dân cử, báo chí và các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức nghề nghiệp nhằm bảo đảm các chuẩn mực đạo đức công vụ được thực thi một cách thực chất, không mang tính hình thức.

Tóm lại, nâng cao năng lực và đạo đức công vụ không chỉ là vấn đề kỹ thuật trong quản lý nhân sự công mà còn là điều kiện chính trị – xã hội có ý nghĩa quyết định đối với việc hiện thực hóa các mục tiêu cải cách quản trị công theo hướng minh bạch, công bằng và hiệu quả trong giai đoạn hiện nay.

4.5. Ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản trị công

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia diễn ra sâu rộng, việc ứng dụng công nghệ số, Big Data và AI đang trở thành điều kiện quan trọng nhằm hiện thực hóa các nguyên tắc minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quản trị công. Nhận thức rõ vai trò của công nghệ đối với đổi mới phương thức quản lý nhà nước, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, trong đó xác định mục tiêu đến năm 2025 cung cấp toàn bộ dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện ở mức độ cao và tích hợp thống nhất trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Theo Báo cáo Chính phủ điện tử năm 2022, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện ở việc triển khai rộng rãi dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, qua đó góp phần giảm chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính và tăng cường tính công khai trong hoạt động của cơ quan nhà nước15.

Cùng với phát triển hạ tầng dịch vụ công trực tuyến, dữ liệu mở ngày càng được xem là nền tảng cốt lõi của quản trị công hiện đại. Việc xây dựng và vận hành Cổng dữ liệu quốc gia (data.gov.vn) đã tạo điều kiện công khai, chia sẻ dữ liệu từ các bộ, ngành và địa phương, qua đó nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền, hạn chế tình trạng độc quyền thông tin và hỗ trợ đổi mới sáng tạo trong khu vực tư nhân. Tuy nhiên, các nghiên cứu và kết quả khảo sát PAPI năm 2023 cho thấy khoảng cách số vẫn là một thách thức đáng kể, khi người dân tại vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều hạn chế trong khả năng tiếp cận và sử dụng các nền tảng số của chính quyền. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu phải gắn quá trình phát triển công nghệ với các chính sách bao trùm nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ công.

Ở cấp độ cao hơn, việc ứng dụng Big Data và AI mở ra những triển vọng mới trong nâng cao hiệu quả quản trị. Các công cụ phân tích Big Data cho phép cơ quan nhà nước dự báo nhu cầu xã hội, đánh giá tác động chính sách và phân bổ nguồn lực dựa trên bằng chứng thực nghiệm, thay vì chủ yếu dựa vào kinh nghiệm hành chính truyền thống. AI nếu được triển khai một cách thận trọng và có kiểm soát, có thể hỗ trợ tự động hóa quy trình nghiệp vụ, phát hiện sớm rủi ro tham nhũng, gian lận và nâng cao chất lượng ra quyết định công. Kinh nghiệm của OECD cho thấy, những quốc gia khai thác hiệu quả dữ liệu mở và AI thường đạt được mức độ tin cậy xã hội cao hơn, đồng thời, có khả năng điều chỉnh chính sách linh hoạt và kịp thời hơn trước các biến động kinh tế – xã hội.

Tuy nhiên, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, Big Data và AI cũng đặt ra những thách thức mới liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin và các vấn đề đạo đức trong quản trị công. Do đó, cùng với việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dữ liệu, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về bảo mật thông tin, quyền riêng tư và trách nhiệm giải trình đối với các hệ thống số và thuật toán được sử dụng trong quản lý Nhà nước. Chỉ khi các yếu tố công nghệ được đặt trong khuôn khổ thể chế và pháp lý phù hợp, chuyển đổi số mới thực sự trở thành động lực thúc đẩy minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quản trị công ở Việt Nam.

5. Kết luận

Minh bạch, công bằng và hiệu quả không chỉ là những tiêu chí cốt lõi của quản trị công hiện đại mà còn là yêu cầu tất yếu trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thực tiễn quản trị công trước năm 2025 cho thấy, mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực thông qua cải cách thủ tục hành chính, phát triển chính phủ điện tử và tăng cường kiểm soát quyền lực, song vẫn tồn tại không ít hạn chế mang tính cơ cấu, như: tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, mức độ công khai, minh bạch chưa đồng đều và sự chênh lệch vùng miền trong khả năng tiếp cận các dịch vụ công cơ bản.

Trong bối cảnh đó, việc ban hành Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị đánh dấu một bước chuyển quan trọng về tư duy và phương thức cải cách thể chế, với trọng tâm là tinh gọn tổ chức bộ máy, tăng cường trách nhiệm giải trình và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực. Những định hướng này mở ra cơ hội lớn để nâng cao chất lượng quản trị công theo các chuẩn mực minh bạch, công bằng và hiệu quả; đồng thời, cũng đặt ra những thách thức mới, như nguy cơ gia tăng bất bình đẳng vùng miền hoặc xuất hiện “khoảng trống trách nhiệm” nếu thiếu các cơ chế điều tiết và giám sát phù hợp.

Việc hiện thực hóa các mục tiêu cải cách theo tinh thần Kết luận số 121-KL/TW đòi hỏi sự hội tụ đồng bộ của nhiều điều kiện mang tính nền tảng. Trước hết, cần có ý chí chính trị và sự cam kết nhất quán của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công quyền. Tiếp đó, hệ thống pháp luật cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng đồng bộ và khả thi, đặc biệt là các luật liên quan đến tổ chức chính quyền địa phương, quyền tiếp cận thông tin và quản lý các nguồn lực công thiết yếu như đất đai. Bên cạnh đó, sự tham gia thực chất của người dân, các tổ chức chính trị – xã hội, báo chí và cộng đồng doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong giám sát quyền lực, phản biện và đồng kiến tạo chính sách. Đồng thời, việc nâng cao năng lực và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức là yếu tố quyết định để các cải cách thể chế được triển khai hiệu quả và đi vào thực chất. Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ số, dữ liệu mở và các công cụ quản trị hiện đại cần được xem là động lực quan trọng nhằm xây dựng nền hành chính minh bạch, bao trùm và hiệu quả.

Chỉ khi các điều kiện nêu trên được triển khai một cách đồng bộ, nhất quán và có giám sát chặt chẽ, các định hướng cải cách được xác lập trong Kết luận số 121-KL/TW mới có thể phát huy đầy đủ hiệu quả, qua đó, góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa quản trị công ở Việt Nam, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế và đáp ứng ngày càng tốt hơn kỳ vọng của Nhân dân.

Chú thích:
1. Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
2. Quốc hội (2016). Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.
3, 6.Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (2021). Public Governance and Integrity: Rebuilding Trust in Government. Paris.
4, 9. Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
5. Quốc hội (2015). Luật Ngân sách nhà nước năm 2015.
7, 11. UNDP (2024). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI 2023).
8. Bộ Nội vụ (2023). Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS 2023).
10. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022).  Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
12. Towards Transparency (2022). Chỉ số liêm chính kinh doanh tại Việt Nam.
13. Bộ Nội vụ (2022). Báo cáo cải cách hành chính năm 2022.
14. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.
15. Bộ Nội vụ (2022). Phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II, H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Quốc hội (2018). Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
3. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 (sửa đổi).
4.Quốc hội (2016). Luật Báo chí năm 2016.
5. Quốc hội (2024). Luật Đất đai (sửa đổi, bổ xung) năm 2025.
6. International Budget Partnership (IBP) (2023). Open Budget Survey. Washington D.C.
7. World Bank (2020). Worldwide Governance Indicators. Washington D.C.