Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với yêu cầu giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy

TS. Nguyễn Hải Thanh
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về sự “Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy” trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Bài viết làm rõ giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách hệ thế giới quan, phương pháp luận khoa học, định hướng chiến lược cho mục tiêu độc lập dân tộc gắn chủ nghĩa xã hội, cơ sở tư tưởng cho đường lối, chủ trương xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, tạo sức mạnh tinh thần, khơi dậy niềm tin, ý chí hành động của Nhân dân trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế. Từ đó, nghiên cứu nên lên giải pháp khẳng định sự đúng đắn về bài học kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy.

Từ khóa: Bám sát thực tiễn; đổi mới tư duy; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng; kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin; lấy dân làm gốc.

1. Đặt vấn đề

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh bài học kinh nghiệm: kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với yêu cầu giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy1. Đây còn là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng2. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vì đây là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của Đảng, được kiểm nghiệm qua toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, được khẳng định trong Cương lĩnh 2011, Văn kiện Đại hội XIII. Hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh xác định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, con đường phát triển, những đặc trưng của xã hội XHCN, định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, kinh tế thị trường định hướng XHCN gắn với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tạo ra sự thống nhất về tư tưởng, giữ vững độc lập, tự chủ trong lựa chọn mô hình phát triển, tiếp thu có chọn lọc giá trị bên ngoài, đồng thời là cơ sở lý luận cho đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, chống “diễn biến hòa bình”. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội XIII xác định bảo vệ, vận dụng, phát triển hệ tư tưởng đó là nhiệm vụ trọng tâm đối với Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. C.Mác từng nhấn mạnh: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”3. Hệ tư tưởng đúng đắn được quần chúng nhận thức, thấm sâu vào quần chúng, khi đó lý luận sẽ trở thành niềm tin vững chắc, lý luận chuyển hóa niềm tin, thành sức mạnh vật chất, thôi thúc con người đứng lên hành động cách mạng. Vì vậy, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bài học kinh nghiệm, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng để Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo, lấy dân làm gốc, quá trình lãnh đạo luôn bám sát thực tiễn, lấy thực tiễn làm nguyên tắc để đổi mới tư duy lãnh đạo.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đã căn dặn cán bộ: “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi… có kinh nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều”4. Kinh nghiệm thực tiễn thiếu lý luận soi đường cán bộ dễ lúng túng, mò mẫm, dễ sai lầm, kinh nghiệm được củng cố bằng lý luận khoa học, hiệu quả lãnh đạo, tổ chức công việc được nâng lên. Từ đó, yêu cầu đặt ra với cán bộ lãnh đạo phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với đường lối của Đảng, thường xuyên học tập lý luận để giữ vững bản lĩnh chính trị, định hướng đúng đắn cho hành động, phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, luôn quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn, chủ động đổi mới tư duy.

2. Giá trị lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

2.1. Cung cấp thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho nhận thức và cải tạo hiện thực xã hội

Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cung cấp hệ thống quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, qua đó hình thành cách nhìn toàn diện, lịch sử cụ thể về tự nhiên, xã hội và tư duy, trang bị phương pháp phân tích, phát hiện mâu thuẫn, nắm quy luật khách quan, coi thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý, trở thành hệ thống quan điểm toàn diện về con đường cách mạng Việt Nam, cơ sở hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, khởi nguồn mọi quyết sách đúng đắn đúng đắn5. Sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp luận cách mạng, khoa học tạo ra cơ sở lý luận để lý giải hiện thực, tổ chức cải tạo hiện thực ở Việt Nam, khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin là “vũ khí” không gì thay thế cho nhận thức và hành động.

Từ cơ sở thế giới quan và phương pháp luận đó có thể khẳng định yêu cầu kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn và đổi mới tư duy không mang tính khẩu hiệu mà trở thành kinh nghiệm lịch sử cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mọi đường lối, chủ trương phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan, khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi cách mạng6. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chỉ ra, mọi thắng lợi của cách mạng bắt nguồn từ sự kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước, kiên định để không giáo điều, sáng tạo không tách khỏi nguyên lý cơ bản7. Nhận thức lý luận đúng đắn để “kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” đồng thời “đổi mới tư duy” trên cơ sở bám sát thực tiễn, tránh cực đoan bảo thủ.

Thế giới quan Mác – Lênin khẳng định vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng, tư tưởng Hồ Chí Minh phát triển thành quan niệm “lấy dân làm gốc”, Nhân dân là chủ thể làm nên mọi thắng lợi, mọi đường lối, chính sách phải xuất phát từ lợi ích chính đáng và nguyện vọng của Nhân dân. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện sự kế thừa quan điểm Mác – Lênin về vai trò quần chúng trong lịch sử, truyền thống dân tộc Việt Nam, từ đó xây dựng “thế trận lòng dân”, nền tảng tinh thần cho bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chế độ8. Yêu cầu “lấy dân làm gốc” là hệ quả logic của thế giới quan duy vật lịch sử: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, sức mạnh cách mạng tùy thuộc mức độ huy động, tổ chức, phát huy lực lượng Nhân dân trên cơ sở niềm tin, lợi ích thực chất.

Giá trị lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chứng tỏ tính khoa học, tính cách mạng, giá trị hiện thực trước những biến động của thế giới, ngay cả khi mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Đường lối đổi mới, mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan niệm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể nước ta. Vì vậy, yêu cầu “kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo, lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy” là kết tinh của thế giới quan, phương pháp luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: kiên định về mục tiêu và nguyên lý, Nhân dân ở vị trí trung tâm quyền lực và lợi ích, không ngừng điều chỉnh tư duy, đường lối trên cơ sở phân tích khoa học hiện thực trong nước và quốc tế, tôn trọng quy luật khách quan.

2.2. Định hướng chiến lược đúng đắn cho cách mạng Việt Nam về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Chủ nghĩa Mác – Lênin đi từ luận điểm cách mạng vô sản gắn với giải phóng dân tộc, đặc biệt qua luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Quan điểm cách mạng không ngừng, từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, được cụ thể hóa trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam với chủ trương đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội9. Chủ nghĩa Mác – Lênin trình bày học thuyết giai cấp, định hình chiến lược: gắn vấn đề dân tộc với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, đặt giải phóng dân tộc trong quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới.

Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận đó, Hồ Chí Minh hình thành tư tưởng “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, hạt nhân xuyên suốt tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn. Từ đầu thập niên 1920 đến sự kiện thành lập Đảng năm 1930, con đường cách mạng “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” trở thành ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và toàn dân đạt nhiều thắng lợi lịch sử10. Đặc biệt, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát ở thời điểm bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ được các nhà nghiên cứu xem là giá trị lý luận định hướng thực tiễn xây dựng đất nước: độc lập, tự do là mục tiêu, động lực tinh thần, nhưng chỉ bền vững khi gắn với xây dựng xã hội mới, Nhân dân thực sự no ấm, hạnh phúc11.

Sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin, truyền thống yêu nước, Hồ Chí Minh tạo ra tầm nhìn chiến lược: chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm trọn vẹn độc lập dân tộc, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết, chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu bài học “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Văn kiện Đại hội XI, XII, XIII tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sự gắn bó giữa mục tiêu kiên định lý tưởng xã hội chủ nghĩa là mục tiêu chiến lược được kiểm nghiệm qua tiến trình từ Cách mạng Tháng Tám, hai cuộc kháng chiến đến công cuộc đổi mới hiện nay12.

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo, lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy có cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng. Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cung cấp lý luận để xác định đúng con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn cách mạng gần một thế kỷ chứng minh thắng lợi lớn của Việt Nam gắn chặt với kiên trì vận dụng và phát triển sáng tạo hệ tư tưởng đó. Vì vậy, yêu cầu “kiên định” không đồng nghĩa với khuôn mẫu cứng nhắc, mà đặt ra nhiệm vụ vừa giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vừa cập nhật tri thức mới, xử lý thách thức của toàn cầu hóa, kinh tế thị trường, cách mạng công nghiệp trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử.

Bên cạnh đó, quan niệm lấy dân làm gốc bắt nguồn từ luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò quyết định của quần chúng trong lịch sử: “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đày tớ cho quần chúng”13. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” vừa phản ánh truyền thống chính trị Việt Nam, vừa làm phong phú kho tàng lý luận Mác – Lênin về vai trò Nhân dân, trở thành nguyên tắc để xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, tổ chức công cuộc đổi mới vì Nhân dân. Trên cơ sở đó, yêu cầu giữ vững vai trò lãnh đạo gắn liền với trách nhiệm của Đảng, đại diện lợi ích lâu dài của dân tộc, của Nhân dân, thường xuyên tự chỉnh đốn, chống quan liêu, tham nhũng, tăng cường mối liên hệ máu thịt với dân.

Sau 40 năm đổi mới, thành tựu “đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như hiện nay” gắn liền với việc Đảng kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đổi mới tư duy lý luận là yêu cầu then chốt gắn với tổng kết thực tiễn. Định hướng chiến lược độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở để khẳng định trọn vẹn bài học kinh nghiệm kiên định hệ tư tưởng, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng.

2.3. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận cho đường lối, chủ trương của Đảng, chuẩn mực để xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị

Tư tưởng xuyên suốt của Đảng với sự kiên định Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Hiến pháp năm 2013 ghi nhận Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đường lối lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh quyết định định hướng chiến lược cho đường lối, chủ trương của Đảng, quy định vị trí lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị14. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, được bổ sung, phát triển năm 2011 được soạn thảo trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam15. Cương lĩnh xác định mục tiêu chiến lược, đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phương hướng phát triển, quan hệ lớn cần xử lý, từ đó dẫn dắt hệ thống nghị quyết chuyên đề về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, đối ngoại.

Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, chủ nghĩa Mác – Lênin đưa ra học thuyết về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Lênin phát triển lý luận về chính đảng cách mạng với kỷ luật chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động. Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó để hình thành quan điểm về Đảng Cộng sản Việt Nam với bản chất giai cấp công nhân, gắn bó máu thịt với Nhân dân, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở tư tưởng, tự chỉnh đốn thông qua tự phê bình và phê bình, giữ vững đoàn kết thống nhất. Bên cạnh đó, Điều lệ Đảng quy định rõ Đảng là đảng cầm quyền, lãnh đạo hệ thống chính trị, là bộ phận trong hệ thống, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là chuẩn mực hình thành mục tiêu, nguyên tắc tổ chức, phương thức lãnh đạo, đạo đức của Đảng, định hướng mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cơ chế vận hành của toàn bộ hệ thống chính trị.

Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin đồng thời với đổi mới tư duy lý luận là yêu cầu cấp bách, nhiệm vụ then chốt. Vận dụng linh hoạt thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng vào thực tiễn đất nước, cung cấp cơ sở khoa học để bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy, thể hiện nhận thức to lớn, trở thành bài học trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV: đổi mới không đối lập với kiên định mà dựa trên kiên định về mục tiêu, dựa trên tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, điều chỉnh chủ trương phù hợp hoàn cảnh mới. Từ đó, chủ trương thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” được xác định như biểu hiện tập trung của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Yêu cầu “lấy dân làm gốc” trong bài học kinh nghiệm của dự thảo văn kiện Đại hội XIV có nền tảng lý luận trực tiếp từ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, được thể chế hóa trong tiến trình cách mạng Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh định hướng nội dung đường lối, chủ trương, đặt ra chuẩn mực tổ chức và hoạt động cho Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, đồng thời chi phối cách Đảng quan niệm về mối quan hệ với Nhân dân, về yêu cầu đổi mới tư duy gắn với thực tiễn, tạo cơ sở khoa học để khẳng định bài học kinh nghiệm trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV nêu “Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo, lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy” là kết tinh của lý luận và thực tiễn mà Đảng đã tích lũy trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng và công cuộc đổi mới.

2.4. Tạo nguồn sức mạnh tinh thần, khơi dậy niềm tin, ý chí và hành động của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế

Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết tinh lý tưởng, mục tiêu, hệ giá trị của cách mạng Việt Nam, từ đó hình thành sức mạnh tinh thần chung của quốc gia. Không ít nghiên cứu đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là “tài sản tinh thần vô giá”, “ngọn đuốc soi đường cho cuộc đấu tranh vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội của Nhân dân Việt Nam”16. Hệ tư tưởng ấy không dừng ở phạm vi nhận thức lý luận mà đi vào chiều sâu tâm lý xã hội, trở thành niềm tin, niềm tự hào, động lực tinh thần của các thế hệ người Việt Nam.

Tinh thần đó thể hiện cô đọng trong chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của tư duy khoa học gắn chặt thực tiễn đấu tranh, được xem là mục tiêu, động lực, phương châm chỉ đạo thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ Nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, phản ánh ý chí, khát vọng của toàn dân tộc, đồng thời trở thành động lực tiếp thêm sức mạnh cho Nhân dân Việt Nam trong suốt quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước17. Tư tưởng về độc lập tự do gắn với hạnh phúc, ấm no, công bằng xã hội đã thấm vào tình cảm, lý trí, biến lý luận cách mạng thành ý chí kiên cường, chấp nhận hi sinh, bền bỉ trong chiến tranh, kiên trì vươn lên trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.

Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tạo sức mạnh tinh thần thông qua quan niệm về Nhân dân, vai trò lịch sử của quần chúng. Trên cơ sở quan điểm Mác – Lênin về quần chúng Nhân dân là chủ thể chân chính của cách mạng, nhiều công trình lý luận nhắc lại luận điểm của V. I. Lênin, cách mạng chỉ xứng danh khi hàng chục triệu người đồng lòng, hăng hái đứng lên. Hồ Chí Minh phát triển đường hướng đó bằng tư tưởng “nước lấy dân làm gốc”, coi Nhân dân là nguồn sức mạnh quyết định của chiến tranh Nhân dân và của toàn bộ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” là gốc rễ hình thành đường lối chiến tranh Nhân dân toàn dân, toàn diện, từ đó Đảng xác định nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trong hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc18. Hệ tư tưởng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh khơi dậy niềm tin vào sức mạnh của Nhân dân, vào vai trò làm chủ, tạo tâm thế sẵn sàng cống hiến, hi sinh, đoàn kết, hình thành sức mạnh tinh thần tổng hợp của dân tộc.

Từ góc độ giá trị lâu dài, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá, mãi soi đường cho cách mạng. Chủ nghĩa Mác – Lênin tạo cơ sở tư tưởng vững chắc cho con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kể cả trong điều kiện cách mạng công nghiệp, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, kiên định nhưng sáng tạo với học thuyết Mác – Lênin trong thực tiễn Việt Nam đã tạo ra bản lĩnh, niềm tin, sức bền của Nhân dân qua chiến tranh cũng như qua gần bốn thập niên đổi mới19. Sự thống nhất giữa lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, niềm tin vào vai trò của Nhân dân, cùng với truyền thống yêu nước và khát vọng phát triển đã kết tinh thành nguồn sức mạnh tinh thần có tính bền vững, làm chỗ dựa tâm lý – chính trị cho toàn xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng với nhiều xung lực trái chiều.

Từ các luận điểm trên có thể thấy rõ cơ sở khoa học cho bài học kinh nghiệm mà Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV về kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo, lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy.

Thứ nhất, vì chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã chứng tỏ giá trị lý luận, giá trị tinh thần trong lịch sử cách mạng Việt Nam, kiên định với hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đồng nghĩa bảo toàn sức mạnh tinh thần đã được lịch sử kiểm nghiệm, củng cố “miễn dịch” trước luận điệu xuyên tạc, trước dao động về lý tưởng.

Thứ hai, sức mạnh tinh thần chỉ thực sự phát huy qua tổ chức lãnh đạo, nên giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng gắn trực tiếp với việc quy tụ, định hướng niềm tin, ý chí hành động của toàn dân theo mục tiêu độc lập dân tộc gắn chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba, tư tưởng “nước lấy dân làm gốc”, “thế trận lòng dân” cho thấy mọi sức mạnh đều khởi đầu từ Nhân dân, nên bài học “lấy dân làm gốc” trong dự thảo văn kiện không phải khẩu hiệu mà là kết luận lý luận và tổng kết thực tiễn về nguồn gốc của sức mạnh tinh thần, sức mạnh vật chất của cách mạng. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn đi cùng yêu cầu vận dụng sáng tạo, phát triển lý luận trên cơ sở tổng kết thực tiễn, xem đổi mới tư duy lý luận là nhiệm vụ then chốt để tiếp tục khơi dậy khát vọng phát triển, củng cố niềm tin của Nhân dân trong giai đoạn mới.

Bài học kinh nghiệm được đề cập trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tạo nguồn sức mạnh tinh thần, khơi dậy niềm tin, ý chí và hành động của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế dựa trên cơ sở lý luận và bằng chứng lịch sử chắc chắn. Bài học kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo, lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV có nền tảng khoa học, giữ vững hệ tư tưởng cách mạng đã chứng minh sức mạnh, không ngừng vận dụng sáng tạo theo tinh thần bám sát đời sống xã hội để tiếp tục khơi dậy niềm tin, ý chí, hành động của Nhân dân trong thời kỳ phát triển mới và hội nhập quốc tế sâu rộng.

3. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, quán triệt nguyên tắc lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn và đổi mới tư duy lãnh đạo

Một là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận hiện đại và chống giáo điều.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận hiện đại, chống giáo điều, khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận cho mọi quyết sách. Công tác nghiên cứu lý luận của Đảng được tổ chức theo hướng gắn chặt với yêu cầu hoạch định đường lối, chủ trương lớn, hình thành chương trình nghiên cứu trọng điểm về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ giá trị quốc gia, an ninh phi truyền thống, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Thiết lập cơ chế đặt hàng nghiên cứu rõ địa chỉ, trách nhiệm với các cơ quan lý luận, học viện, trường chính trị, yêu cầu sản phẩm khoa học gắn với kiến nghị chính sách khả thi, xác định rõ nội dung cần tiếp tục theo dõi để điều chỉnh trong các lần tổng kết sau.

Tổng kết thực tiễn để bảo đảm đường lối luôn xuất phát từ thực tiễn, trung thành lợi ích chính đáng, nguyện vọng của Nhân dân trên cơ sở quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc” của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hệ thống báo cáo tổng kết chuyển từ mô tả, thành tích sang phân tích vấn đề, xác định nguyên nhân, rút ra quy luật vận động mới, nhấn mạnh thành tựu và hạn chế, nhất là những điểm yếu trong tổ chức thực hiện nghị quyết. Xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng tổng kết gắn với mức độ phát hiện vấn đề mới, mức độ chuyển hóa kết luận tổng kết thành sửa đổi, bổ sung đường lối, cơ chế, chính sách. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, dữ liệu lớn trong điều tra, phân tích chính sách, mở rộng kênh tiếp nhận thông tin từ cơ sở, từ người dân, doanh nghiệp như một nguồn tư liệu thực tiễn.

Xây dựng cán bộ nghiên cứu lý luận, cán bộ tham mưu có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, thành thạo phương pháp nghiên cứu liên ngành, trải nghiệm thực tiễn phong phú, có năng lực phát hiện vấn đề từ cơ sở. Triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về phương pháp nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn. Đánh giá cán bộ lý luận cần dựa vào mức độ đóng góp vào việc làm sáng tỏ các vấn đề lý luận mới nảy sinh, giải đáp kịp thời những câu hỏi từ thực tiễn phát triển đất nước, khu vực, thế giới, trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.

Chống giáo điều trở thành nội dung xuyên suốt trong công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận. Khắc phục tình trạng sao chép máy móc luận điểm kinh điển, trích dẫn văn kiện theo lối minh họa hình thức, xa rời điều kiện cụ thể của Việt Nam. Phê phán xu hướng thực dụng, tùy tiện, lợi dụng chiêu bài “sáng tạo” để phủ nhận nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Mọi đổi mới tư duy phải dựa trên phân tích khoa học hiện thực, dựa trên kiểm chứng qua thực tiễn, được tập thể cấp ủy, tập thể khoa học thảo luận dân chủ trong khuôn khổ nguyên tắc. Mở rộng diễn đàn trao đổi học thuật trong hệ thống các tạp chí lý luận, cơ sở nghiên cứu, tạo môi trường tranh luận khoa học nghiêm túc, có văn hóa, tôn trọng sự thật, bảo vệ luận điểm đúng đắn, đấu tranh làm sáng tỏ quan điểm sai trái, thù địch. Trên cơ sở đó, bài học “kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo, lấy dân làm gốc, bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy” được hiện thực hóa.

Hai là, hoàn thiện kiểm soát quyền lực chính trị, siết chặt kỷ luật và kỷ cương của Đảng.

Công tác nghiên cứu cần làm rõ bản chất quyền lực của Đảng là quyền lực chính trị do Nhân dân ủy thác thông qua Hiến pháp, pháp luật, thông qua niềm tin cách mạng. Từ lý luận đó, chương trình nghiên cứu cần hệ thống hóa đầy đủ các hình thức quyền lực trong Đảng, Nhà nước, trong các tổ chức chính trị – xã hội, chỉ ra điểm giao thoa, điểm dễ phát sinh lợi ích nhóm, qua đó hình thành lý luận về kiểm soát quyền lực ngay trong nội bộ Đảng cầm quyền.

Trên bình diện tổng kết thực tiễn, kiểm soát quyền lực phải dựa vào phân tích khách quan kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là thực tiễn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Từng vụ việc sai phạm, từng kết luận kiểm tra cần được xem như trường hợp nghiên cứu để bóc tách cơ chế vận hành quyền lực, nhận diện kẽ hở trong thiết kế tổ chức, trong phân công, phân cấp, trong cơ chế giám sát. Trên cơ sở đó, báo cáo tổng kết được thiết kế theo hướng chỉ ra nguyên nhân gốc rễ, mắt xích yếu trong điều lệ, quy định, trong cơ chế kiểm soát, tránh báo cáo nặng tính mô tả, nhẹ phân tích.

Hoàn thiện kiểm soát quyền lực gắn với kỷ luật kỷ cương trong Đảng cần được thể hiện bằng hệ thống quy định rõ ràng, minh bạch, chế tài nghiêm khắc, cơ chế phòng ngừa từ sớm. Nghiên cứu lý luận kết hợp tổng kết thực tiễn cần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tập trung dân chủ với quyền hạn cá nhân người đứng đầu, giữa phân quyền, phân cấp với trách nhiệm giải trình. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền hạn, trách nhiệm, cơ chế kiểm tra quyền lực với cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu. Quy định rõ hơn về xung đột lợi ích, kê khai tài sản, nghĩa vụ giải trình trước tổ chức đảng, trước Nhân dân, hướng tới xây dựng văn hóa kỷ luật tự giác trong cán bộ, đảng viên, trong đó nêu gương của cấp ủy, người đứng đầu trở thành chuẩn mực chi phối nhận thức, hành vi.

Hoàn thiện kiểm soát quyền lực chính trị, siết chặt kỷ luật kỷ cương của Đảng chỉ đạt hiệu quả khi gắn với cơ chế giám sát của Nhân dân, của Mặt trận Tổ quốc, của báo chí cách mạng, của dư luận xã hội. Công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn cần đánh giá sâu hơn vai trò giám sát xã hội đối với việc thực thi quyền lực, làm rõ lợi thế, hạn chế, từ đó đề xuất phương thức phát huy quyền làm chủ của Nhân dân theo tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Cách tiếp cận này bảo đảm kiểm soát quyền lực được soi chiếu thường xuyên bằng chuẩn mực lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời bám sát thực tiễn, chống giáo điều trong thiết kế cơ chế, giữ vững kỷ luật kỷ cương, củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh thể chế và thực hiện phương châm lấy dân làm gốc

Đẩy mạnh thể chế gắn với phương châm lấy dân làm gốc, gắn chặt với bài học đẩy mạnh nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận hiện đại, chống giáo điều mà Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV xác định. Mọi chương trình nghiên cứu, mọi tổng kết, mọi luận giải lý luận đều cần trả lời rành mạch câu hỏi Nhân dân được gì, đời sống Nhân dân thay đổi ra sao, từ đó thể chế được hoàn thiện theo hướng chuyển hóa tinh thần lấy dân làm gốc trong thiết kế, thực thi, giám sát chính sách.

Rà soát hệ thống văn bản, quy định, quy trình với tiêu chí người dân có dễ tiếp cận thông tin, dễ tham gia, dễ giám sát hay không. Chu trình nghiên cứu, tổng kết gắn với điều tra, đối thoại chính sách, tham vấn rộng rãi qua Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị xã hội, báo chí cách mạng, kênh phản ánh trực tuyến, qua đó nhận diện sát hơn yêu cầu, sáng kiến từ cơ sở. Đề án, chương trình, chiến lược trước khi ban hành cần thẩm định mức độ đáp ứng nguyên tắc lấy dân làm gốc. Tiêu chí công khai, minh bạch, chi phí tuân thủ, tác động đến nhóm yếu thế được phân tích rõ, kết luận thẩm định trở thành điều kiện bắt buộc trong quyết định của cấp ủy, hạn chế áp đặt chủ quan, biểu hiện giáo điều trong hoạch định chính sách.

Thể chế lấy dân làm gốc còn thấm vào cơ chế lựa chọn, đánh giá, kiểm soát cán bộ. Công tác nghiên cứu, phát triển lý luận về xây dựng Đảng cần làm rõ tiêu chuẩn đánh giá cán bộ theo hướng đề cao thái độ tôn trọng Nhân dân, phong cách gần dân, lắng nghe dân, dám đối thoại, dám nhận trách nhiệm khi chính sách chưa đi vào cuộc sống. Kết quả thăm dò ý kiến Nhân dân, giám sát từ cơ sở, phản ánh của báo chí, kết luận kiểm tra được sử dụng như kênh quan trọng trong xem xét đề bạt, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật để phương châm lấy dân làm gốc ngấm vào từng quyết định về cán bộ. Thể chế được củng cố theo hướng đó, gắn với chu trình nghiên cứu, tổng kết, phát triển lý luận được tổ chức khoa học, quyết sách của Đảng sẽ bám sát cuộc sống, củng cố niềm tin Nhân dân, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy lùi giáo điều, bệnh thành tích, nói không đi đôi với làm.

Bốn là, đổi mới phương thức lãnh đạo trong kỷ nguyên số và hội nhập, nâng cao năng lực cán bộ về số hóa, quản trị rủi ro chiến lược

Đổi mới phương thức lãnh đạo trong kỷ nguyên số gắn với hội nhập được đặt trong chỉnh thể bài học đẩy mạnh nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận hiện đại, kiên quyết chống giáo điều mà Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV nêu ra. Chuyển mạnh sang phương thức dẫn dắt bằng dữ liệu, dự báo chiến lược, hệ thống cảnh báo sớm rủi ro dưới tác động của kinh tế số, không gian mạng. Nghiên cứu lý luận về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện số hóa làm rõ nội dung “lãnh đạo bằng trí tuệ tập thể trên cơ sở dữ liệu lớn”, làm sâu sắc quan điểm gắn “lấy dân làm gốc” với bảo vệ chủ quyền số, an ninh thông tin, an toàn dữ liệu cá nhân, lợi ích hợp pháp của Nhân dân trong môi trường trực tuyến.

Hoàn thiện cơ chế để quá trình nghiên cứu, tổng kết thực tiễn trở thành kênh cung cấp tri thức cho đổi mới phương thức lãnh đạo. Cấp ủy các cấp hình thành thói quen lãnh đạo dựa trên hệ thống thông tin số hóa, báo cáo phân tích theo thời gian thực về kinh tế xã hội, tư tưởng, dư luận xã hội, an ninh phi truyền thống. Tổng kết thực tiễn chuyển mạnh sang mô hình cơ sở dữ liệu mở cho cơ quan tham mưu chiến lược, cơ quan kiểm tra, giám sát. Nghị quyết, kết luận, quy định mới gắn với báo cáo đánh giá tác động trong không gian số, xem xét rủi ro về an ninh mạng, thao túng thông tin, lệ thuộc công nghệ, lệch hướng giá trị trong bối cảnh hội nhập.

Hệ thống trường đảng, học viện, cơ sở đào tạo lý luận chính trị cần thiết kế chương trình bồi dưỡng về kinh tế số, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số trong quản trị công, kỹ năng đọc hiểu báo cáo phân tích dữ liệu, phân tích kịch bản rủi ro chiến lược. Cán bộ lãnh đạo, quản lý được trang bị tri thức về mô hình rủi ro nhiều cấp độ từ rủi ro thể chế, rủi ro tham nhũng trong môi trường số, rủi ro lệ thuộc công nghệ nước ngoài, rủi ro mất an ninh dữ liệu, qua đó hình thành tư duy lãnh đạo trong chủ động phòng ngừa, không rơi vào xử lý bị động. Đánh giá cán bộ cần bổ sung tiêu chí về năng lực nắm bắt xu thế số hóa, sử dụng công cụ số trong chỉ đạo điều hành, tổ chức tương tác với Nhân dân qua các kênh trực tuyến, phối hợp lực lượng trong ứng phó khủng hoảng.

Phát huy trí tuệ của chuyên gia, các trung tâm nghiên cứu chiến lược, doanh nghiệp công nghệ, giới khoa học trẻ. Đặt hàng nghiên cứu về mô hình chính đảng cầm quyền trong môi trường số, kinh nghiệm quốc tế trong quản trị rủi ro chiến lược, những thách thức đối với vai trò lãnh đạo của đảng trước sự thao túng thông tin, can thiệp bầu cử, từ đó chọn lọc giá trị phù hợp với điều kiện Việt Nam. Chiến lược hội nhập cần được tổ chức theo tinh thần dân chủ, công khai trong khuôn khổ kỷ luật, nhằm ngăn chặn biểu hiện giáo điều khi sao chép mô hình, đồng thời ngăn xu hướng tùy tiện, phá vỡ nguyên tắc.

Nâng cao năng lực cán bộ về số hóa, quản trị rủi ro chiến lược chỉ thực sự phát huy tác dụng khi kết quả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận hiện đại được chuyển hóa thành thể chế cụ thể. Đó là hệ thống quy định về chuyển đổi số trong Đảng, bảo vệ chủ quyền số quốc gia, chuẩn mực đạo đức cán bộ trong không gian mạng, cơ chế phối hợp liên ngành xử lý rủi ro chiến lược. Từ đó, bài học của Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV về đẩy mạnh nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, chống giáo điều được cụ thể hóa thành phong cách lãnh đạo mới, kiên định về mục tiêu, linh hoạt trong phương thức, chủ động trước rủi ro trong bối cảnh số hóa, hội nhập sâu rộng.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam (Dự thảo), tr. 100 – 101.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh – Nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/ho-chi-minh/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong/tu-tuong-ho-chi-minh-nen-tang-tu-tuong-va-kim-chi-nam-cho-moi-hanh-dong-cua-dang-cong-san-viet-nam-2553.
3. C. Mác, Ăngghen toàn tập (2002). Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật. tr. 580.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 273 – 274.
5. Tư tưởng Hồ Chí Minh – cơ sở hình thành thế giới quan, nhân sinh quan đúng đắn cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân Việt Nam. https://khoahocchinhtri.vn/tu-tuong-ho-chi-minh-co-so-hinh-thanh-the-gioi-quan-nhan-sinh-quan-dung-dan-cho-can-bo-dang-vien-va-nhan-dan-viet-nam.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).
7. Đảng Cộng sản Việt Nam – Hành trình chín mươi năm kiên định và sáng tạo vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/ky-niem-90-nam-ngay-thanh-lap-dang-cong-san-viet-nam-3-2-1930-3-2-2020-/-/2018/815924/dang-cong-san-viet-nam—chin-muoi-nam-kien-dinh-va-sang-tao-chu-nghia-mac-le-nin.aspx.
8, 14. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/826313/van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-“lay-dan-lam-goc”-trong-cuoc-dau-tranh-phong%2C-chong-tham-nhung-hien-nay.aspx.
9. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự tìm tòi, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. https://tapchilichsudang.vn/con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-va-su-tim-toi-sang-tao-cua-dang-cong-san-viet-nam.html.
10. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. https://tuyenquang.dcs.vn/DetailView/24668/22/Tu-tuong-Ho-Chi-Minh-ve-doc-lap-dan-toc-gan-lien-voi-chu-nghia-xa-hoi.html.
11. Chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trong tư tưởng Hồ Chí Minh – giá trị lý luận và định hướng thực tiễn xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. https://www.tapchicongsan.org.vn/en/web/guest/tieu-iem1/-/asset_publisher/s5L7xhQiJeKe/content/chan-ly-khong-co-gi-quy-hon-doc-lap-tu-do-trong-tu-tuong-ho-chi-minh-gia-tri-ly-luan-va-dinh-huong-thuc-tien-xay-dung-dat-nuoc-hung-cuong-phon-vinh-ha.
12. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – Nền tảng tư tưởng, lý luận cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam và trong công cuộc đổi mới. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/chu-nghia-mac-le-nin-va-tu-tuong-ho-chi-minh-nen-tang-tu-tuong-ly-luan-cho-su-nghiep-cach-mang-viet-nam-va-trong-cong-cuoc-doi-moi.
13. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 367.
15, 18. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “nước lấy dân làm gốc” vào xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-nuoc-lay-dan-lam-goc-vao-xay-dung-the-tran-long-dan-cung-co-quoc-phong-bao-ve-vung-chac-to-quoc-viet-nam-xa-hoi-chu-n.
16. Tư tưởng Hồ Chí Minh – Tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trong văn kiện Đại hội IX của Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/ho-chi-minh/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong/tu-tuong-ho-chi-minh-tai-san-tinh-than-to-lon-cua-dang-va-dan-toc-ta-nghien-cuu-tu-tuong-ho-chi-minh-2081.
17. Vận dụng tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” trong công cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/01/19/van-dung-tu-tuong-khong-co-gi-quy-hon-doc-lap-tu-do-trong-cong-cuoc-doi-moi-cua-viet-nam-hien-nay.
19. Quán triệt quan điểm Hồ Chí Minh về kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin. https://lyluanchinhtri.vn/quan-triet-quan-diem-ho-chi-minh-ve-kien-dinh-va-van-dung-phat-trien-sang-tao-chu-nghia-mac-lenin-2118.html.