ThS. Trần Văn Tuyển
Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuwowc.vn) – Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là hệ thống quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn sâu sắc, giữ vai trò nền tảng trong xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Trong điều kiện hiện nay, việc phát huy và thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở trong quân đội vừa là yêu cầu tất yếu, vừa là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức mạnh tổng hợp và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát huy và thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Từ khóa: Dân chủ; tư tưởng Hồ Chí Minh; đơn vị cơ sở; Quân đội Nhân dân Việt Nam.
1. Đặt vấn đề
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng vấn đề dân chủ và thực hành dân chủ, xem đó là “chìa khóa vạn năng” để phát huy sức mạnh của quần chúng, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Dân chủ phải gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm và hiệu quả trong tổ chức, hoạt động. Trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, phát huy và thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, việc nghiên cứu, làm rõ nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vận dụng sáng tạo vào phát huy, thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong quân đội mà còn góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “dân chủ” là “dân là chủ” và “dân làm chủ”. Định nghĩa này đã vượt ra khỏi những quan niệm thông thường trong nhận thức về dân chủ của các học giả tư sản, nhấn mạnh chủ thể chân chính của chế độ mới là Nhân dân. Trong tác phẩm “Thường thức chính trị” viết năm 1953, Người chỉ rõ: “Ở nước ta, chính quyền của Nhân dân, do Nhân dân làm chủ… Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”1. Xã hội nào bảo đảm cho điều đó được thực thi thì đó là một xã hội thực sự dân chủ.
“Dân là chủ” khẳng định địa vị người chủ trong chế độ mới, chính là Nhân dân. Điều này hoàn toàn đối lập với thân phận nô lệ, thần dân hay thảo dân trong chế độ phong kiến, thực dân trước đây. Người khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là Nhân dân là người chủ”2. Trong chế độ dân chủ, Người đặt câu hỏi “Dân làm chủ thì chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên khác là làm gì? Làm đầy tớ. Làm đầy tớ cho Nhân dân chứ không phải làm quan cách mạng”3. Tuy nhiên, Người không bao giờ chỉ nhấn mạnh một vế mà luôn xem xét mọi việc một cách toàn diện. Người cho rằng, cán bộ nhà nước vừa là người phục vụ, đồng thời là người lãnh đạo, người hướng dẫn Nhân dân. Người nói “Nếu không có Nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì Nhân dân không ai dẫn đường”4. Trong Di chúc, Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân.
“Dân làm chủ” phản ánh năng lực thực thi dân chủ của Nhân dân. Năng lực đó biểu hiện ở trình độ văn hóa, bản lĩnh, ý thức, trách nhiệm thể hiện hành vi làm chủ, thể hiện sự kết hợp và thống nhất năng lực, địa vị của người chủ. Dân làm chủ thì tuyệt đối không được phép ỷ lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ: “Cứ chờ Đảng và chờ Chính phủ giúp đỡ thì không đúng đâu. Đảng và Chính phủ đề ra chính sách, phái cán bộ về hướng dẫn, thế là giúp đỡ. Nhưng đó là phụ. Lực lượng Nhân dân tổ chức nhau lại là chính. Không nên ỷ lại mà phải tự lực cánh sinh”5. Thực hiện trách nhiệm “làm chủ” thì người dân còn phải tự giác đấu tranh với những hiện tượng phản dân chủ. Người nói: “nhà mình có rác thì phải cầm chổi mà quét chứ không phải kêu la mà nhà sạch được. Kêu la mà không tự mình quét là thiếu tinh thần cách mạng, tinh thần dân chủ”6.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn, với vai trò là công dân của Nhà nước dân chủ, thì phải “làm chủ sao cho ra làm chủ, không phải làm chủ là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, làm bao nhiêu thì làm”7, bổn phận của mỗi công dân phải “tận trung với nước”, góp sức mình cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Ý thức, năng lực và trách nhiệm “làm chủ” chính là “thước đo” sự giác ngộ chính trị của công dân. Người từng nhấn mạnh, nhà nước cần “làm sao cho Nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”8 trong khuôn khổ pháp luật.
Về thực hành dân chủ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu như dân chủ là “của quý báu nhất của Nhân dân”9 thì thực hành dân chủ là “chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn”10. Trong mọi hoạt động, Người luôn coi trọng việc thực hành dân chủ, mở rộng dân chủ. Người nhấn mạnh: “Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của Nhân dân”. “Phải thật sự thi hành dân chủ trong Đảng và trong quần chúng” 11. Để thực hành dân chủ tốt, Người yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của Nhân dân. Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ Nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân.
Phải xây dựng các tổ chức đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội vững mạnh để bảo đảm dân chủ trong xã hội. Trong đó, trước hết phải thực hành dân chủ trong Ðảng, có như vậy mới phát huy được trí tuệ và sức sáng tạo của đội ngũ đảng viên trong việc đề ra và thực hiện những đường lối, chủ trương đúng, sát với tình hình. Trong Di chúc, Người căn dặn: “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”. Một khi dân chủ được thực hành tốt trong Đảng sẽ càng làm cho Ðảng lãnh đạo được tốt hơn việc thực hiện dân chủ trong đời sống xã hội. Ngược lại, việc thực hành dân chủ trong xã hội thúc đẩy việc thực hiện dân chủ trong Ðảng có hiệu quả do tăng cường được vai trò của Nhân dân và các tổ chức chính trị, xã hội trong việc tham gia xây dựng, chỉnh đốn Ðảng,… Như vậy, dân chủ trong Đảng trở thành yếu tố quyết định tới trình độ dân chủ của toàn xã hội.
Mặc dù rất đề cao dân chủ nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý: “Tập trung trên nền tảng dân chủ” và “Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung”; “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung. Làm việc mà không theo đúng cách đó, tức là làm trái dân chủ tập trung”12. Giữa dân chủ và tập trung là sự hòa quyện hữu cơ, là sự “tương sinh” mật thiết. Thấu hiểu quan hệ biện chứng đó, theo Người, mở rộng dân chủ trong Đảng nhất thiết phải đi đôi với tăng cường kỷ cương, kỷ luật, phải tránh căn bệnh “dân chủ quá trớn”, phải nâng cao hiệu quả của pháp luật, tăng cường pháp chế. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ.
3. Thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”13. Trong quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải phát huy dân chủ rộng rãi nhưng không đối lập với tập trung mà là dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng. Dân chủ nhằm phát huy trí tuệ tập thể, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường đoàn kết nội bộ; cán bộ phải thật sự tôn trọng, lắng nghe và dựa vào chiến sĩ.
Quân đội là quân đội Nhân dân, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, do đó việc thực hành dân chủ là yếu tố bảo đảm bản chất cách mạng của quân đội. Đơn vị cơ sở là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quản lý bộ đội, rèn luyện kỷ luật. Thực hành dân chủ tốt ở cấp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo của tổ chức đảng; xây dựng mối quan hệ đoàn kết, thống nhất nội bộ; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ; nâng cao sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị.
Quán triệt, thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về phát huy dân chủ ở cơ sở, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã ban hành nhiều chỉ thị, hướng dẫn, quyết định, quy chế, quy định trên các mặt, các lĩnh vực công tác nhằm cụ thể hóa việc xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở trong Quân đội. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nghiêm túc, đồng bộ, đạt hiệu quả cao. Nổi bật là ý thức dân chủ và trình độ làm chủ của quân nhân được nâng cao; các thiết chế dân chủ ngày càng được hoàn thiện; sự đồng thuận, đoàn kết, kỷ luật trong nội bộ cơ quan, đơn vị được tăng cường; niềm tin của cán bộ, chiến sĩ vào cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp được củng cố vững chắc, tạo không khí phấn khởi thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện…
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy và thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở trong quân đội vẫn còn một số hạn chế như nhận thức về dân chủ ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và quân nhân chưa thật đầy đủ, sâu sắc. Một số nơi còn biểu hiện coi dân chủ là hình thức, làm cho có; việc thực hiện dân chủ ở một số đơn vị chưa đồng đều, thiếu chiều sâu. Có nơi việc công khai, minh bạch các nội dung theo Quy chế dân chủ chưa đầy đủ; đối thoại dân chủ còn hình thức, nặng về thông báo một chiều; việc tiếp thu, phản hồi ý kiến của quân nhân chưa kịp thời, thiếu cụ thể, làm giảm niềm tin và động lực tham gia dân chủ. Vai trò nêu gương, phong cách dân chủ của một bộ phận cán bộ, người chỉ huy còn hạn chế. Một số cán bộ còn biểu hiện mệnh lệnh hành chính, gia trưởng, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới; trong khi đó, có trường hợp buông lỏng lãnh đạo, quản lý, dẫn đến dân chủ thiếu định hướng, làm ảnh hưởng đến kỷ luật, nền nếp chính quy của đơn vị.
4. Một số giải pháp
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về thực hành dân chủ.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về thực hành dân chủ là giải pháp có ý nghĩa quan trọng, trực tiếp quyết định chất lượng và hiệu quả phát huy dân chủ ở đơn vị cơ sở. Nhận thức đúng sẽ dẫn đến hành động đúng; ngược lại, nhận thức lệch lạc sẽ làm cho dân chủ bị hiểu sai, thực hành hình thức hoặc bị lợi dụng, ảnh hưởng đến kỷ luật, đoàn kết và sức mạnh chiến đấu của đơn vị. Tăng cường công tác giáo dục, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ trong quân đội. Nội dung giáo dục phải làm rõ bản chất của dân chủ quân sự là dân chủ gắn liền với kỷ luật, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; quyền làm chủ của quân nhân luôn đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm và chấp hành nghiêm mệnh lệnh, điều lệnh.
Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục về thực hành dân chủ theo hướng thiết thực, phù hợp với từng đối tượng. Đối với cán bộ, cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, chỉ huy theo phong cách dân chủ, khoa học; kỹ năng tổ chức đối thoại, tiếp thu và xử lý ý kiến của bộ đội. Đối với chiến sĩ, cần tập trung giáo dục về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm tham gia xây dựng đơn vị; khuyến khích tinh thần thẳng thắn, xây dựng, dám nói, dám góp ý đúng quy định. Việc tuyên truyền cần tránh hình thức, giáo điều, tăng cường trao đổi hai chiều, gắn với tình huống cụ thể trong huấn luyện, sinh hoạt. Gắn nâng cao nhận thức với việc đề cao trách nhiệm cá nhân trong thực hành dân chủ. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ trách nhiệm nêu gương trong tôn trọng, phát huy dân chủ; kiên quyết khắc phục biểu hiện mệnh lệnh hành chính, gia trưởng, áp đặt. Mỗi quân nhân cần hiểu rằng việc tham gia dân chủ không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ chính trị, thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với đơn vị. Qua đó, hình thành ý thức tự giác, chủ động tham gia góp ý, xây dựng tập thể vững mạnh.
Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhận thức với thực hành dân chủ trong thực tiễn hoạt động của đơn vị. Thông qua tổ chức tốt hội nghị quân nhân, đối thoại dân chủ, sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt đoàn thể, tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia bàn bạc, góp ý, giám sát. Quá trình thực hành chính là “trường học” sinh động nhất để củng cố nhận thức, nâng cao trách nhiệm và kỹ năng dân chủ cho mỗi quân nhân. Tăng cường đấu tranh, phê phán các biểu hiện nhận thức sai lệch về dân chủ. Kịp thời uốn nắn tư tưởng coi dân chủ là hình thức, né tránh phát biểu; đồng thời kiên quyết đấu tranh với biểu hiện lợi dụng dân chủ để nói trái quan điểm, vi phạm kỷ luật, gây mất đoàn kết nội bộ. Qua đó, định hướng đúng nhận thức và hành vi dân chủ của cán bộ, chiến sĩ trong khuôn khổ pháp luật, điều lệnh và kỷ luật Quân đội.
Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát huy dân chủ và giữ vững kỷ luật, kỷ cương quân đội trong thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở.
Kết hợp chặt chẽ giữa phát huy dân chủ và giữ vững kỷ luật, kỷ cương quân đội là yêu cầu có tính nguyên tắc trong xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đồng thời là nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong quân đội. Dân chủ nếu tách rời kỷ luật sẽ dẫn đến tùy tiện, vô tổ chức; ngược lại, kỷ luật nếu thiếu dân chủ sẽ dễ rơi vào mệnh lệnh hành chính, áp đặt, làm giảm tính tự giác và động lực phấn đấu của bộ đội. Cần quán triệt sâu sắc quan điểm: phát huy dân chủ là để tăng cường kỷ luật, chứ không phải làm giảm kỷ luật. Cấp ủy, chỉ huy các cấp phải làm rõ cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rằng quyền dân chủ của quân nhân luôn gắn liền với nghĩa vụ chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội và điều lệnh, điều lệ. Việc tham gia góp ý, bàn bạc, giám sát phải được thực hiện trong khuôn khổ tổ chức theo đúng thẩm quyền, không tùy tiện, không vượt cấp, không trái nguyên tắc.
Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo, chỉ huy và quản lý đơn vị. Mọi vấn đề quan trọng của đơn vị phải được thảo luận dân chủ trong tập thể cấp ủy, chỉ huy, phát huy trí tuệ tập thể; song khi đã có quyết định thống nhất thì mọi cán bộ, chiến sĩ phải tuyệt đối chấp hành, bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động. Đây là cơ sở để vừa phát huy dân chủ, vừa giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong đơn vị. Gắn thực hành dân chủ với xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật tự giác. Thông qua việc công khai, minh bạch các nội dung liên quan đến chế độ, tiêu chuẩn, khen thưởng, kỷ luật, phân công nhiệm vụ…, tạo điều kiện để quân nhân hiểu rõ, đồng thuận và tự giác chấp hành. Dân chủ được thực hiện đúng đắn sẽ làm cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao ý thức trách nhiệm, hạn chế vi phạm kỷ luật, góp phần xây dựng nền nếp chính quy vững chắc.
Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện lợi dụng dân chủ để vi phạm kỷ luật, kỷ cương quân đội. Cấp ủy, chỉ huy cần kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm những hành vi nhân danh dân chủ để nói trái quan điểm, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức, gây mất đoàn kết nội bộ. Đồng thời, cần khắc phục tình trạng dân chủ hình thức, nể nang, né tránh trong xử lý vi phạm, làm suy giảm tính nghiêm minh của kỷ luật quân đội. Phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ trong thực hành dân chủ gắn với chấp hành kỷ luật. Cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì phải gương mẫu trong chấp hành pháp luật, kỷ luật; đồng thời thực hiện phong cách lãnh đạo dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của cấp dưới. Sự thống nhất giữa lời nói và việc làm của cán bộ là yếu tố quan trọng để bộ đội tin tưởng, noi theo, từ đó hình thành môi trường dân chủ, kỷ luật lành mạnh trong đơn vị.
Ba là, phát huy vai trò của Hội đồng quân nhân và các tổ chức quần chúng trong thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở.
Phát huy vai trò của Hội đồng quân nhân và các tổ chức quần chúng là giải pháp quan trọng nhằm mở rộng, làm sâu sắc hơn việc thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở; đồng thời tạo cầu nối giữa cấp ủy, chỉ huy với cán bộ, chiến sĩ, góp phần củng cố đoàn kết nội bộ, giữ vững ổn định chính trị, tư tưởng và nâng cao chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Cần khẳng định rõ vị trí, chức năng của Hội đồng quân nhân trong hệ thống thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở. Hội đồng quân nhân là hình thức tổ chức đại diện cho quyền làm chủ của quân nhân, có trách nhiệm tham gia bàn bạc, đề xuất ý kiến đối với những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống, học tập, công tác, huấn luyện và quyền, nghĩa vụ của bộ đội. Cấp ủy, chỉ huy phải tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi để Hội đồng quân nhân hoạt động đúng chức năng, phát huy vai trò là kênh dân chủ chính thức, hiệu quả trong đơn vị.
Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng quân nhân theo hướng thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức. Nội dung sinh hoạt cần bám sát nhiệm vụ chính trị, tập trung vào những vấn đề bộ đội quan tâm; quy trình tổ chức phải dân chủ, công khai, khuyến khích quân nhân thẳng thắn trao đổi, góp ý xây dựng. Sau mỗi kỳ họp, cần có kết luận rõ ràng, phân công trách nhiệm cụ thể và thông báo công khai kết quả giải quyết các kiến nghị, đề xuất, qua đó củng cố niềm tin và khuyến khích bộ đội tích cực tham gia dân chủ. Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng (Đoàn Thanh niên, Công đoàn, Hội Phụ nữ) trong tuyên truyền, vận động và giám sát việc thực hành dân chủ. Các tổ chức quần chúng cần chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, hội viên; kịp thời phản ánh với cấp ủy, chỉ huy; đồng thời tham gia giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách, quyền lợi của quân nhân. Qua đó, góp phần ngăn ngừa các biểu hiện vi phạm dân chủ, mất công bằng trong đơn vị.
Gắn hoạt động của Hội đồng quân nhân và tổ chức quần chúng với giáo dục ý thức trách nhiệm, kỷ luật của quân nhân. Thông qua các phong trào thi đua, diễn đàn, tọa đàm, đối thoại, cần làm rõ mối quan hệ giữa quyền làm chủ và nghĩa vụ chấp hành kỷ luật; giữa phát huy dân chủ và giữ vững kỷ cương quân đội. Qua đó, giúp cán bộ, chiến sĩ nhận thức đúng, thực hành dân chủ đúng quy định, không lợi dụng dân chủ để vi phạm kỷ luật. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, sự chỉ đạo của chỉ huy đối với hoạt động của Hội đồng quân nhân và các tổ chức quần chúng. Cấp ủy cần định hướng nội dung, phương thức hoạt động; đồng thời tôn trọng tính tự chủ, sáng tạo của các tổ chức trong khuôn khổ quy định. Người chỉ huy phải phối hợp chặt chẽ với chính ủy, chính trị viên và các tổ chức quần chúng, kịp thời giải quyết các kiến nghị chính đáng của bộ đội, tạo môi trường dân chủ, đoàn kết, thống nhất trong đơn vị.
Bốn là, thường xuyên kiểm tra, giám sát và sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở.
Thường xuyên kiểm tra, giám sát và sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm dân chủ được thực hiện đúng chủ trương, đúng nguyên tắc, đi vào thực chất. Đồng thời, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý những biểu hiện vi phạm dân chủ, dân chủ hình thức hoặc lợi dụng dân chủ làm ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương và đoàn kết nội bộ. Đây cũng là yêu cầu tất yếu để nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng và quản lý của người chỉ huy ở cơ sở.
Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Nội dung kiểm tra phải tập trung vào việc quán triệt và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, quy định của Quân đội về dân chủ; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện công khai, minh bạch các nội dung liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích chính đáng của quân nhân. Qua kiểm tra để đánh giá đúng thực chất, tránh hình thức, chiếu lệ. Phát huy vai trò của ủy ban kiểm tra các cấp và các cơ quan chức năng trong giám sát việc thực hành dân chủ. Công tác giám sát cần được tiến hành thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, mất dân chủ, như: quản lý tài chính, hậu cần, kỹ thuật, công tác cán bộ, khen thưởng, kỷ luật, thực hiện chế độ, tiêu chuẩn. Việc giám sát phải bảo đảm tính khách quan, công tâm, đúng thẩm quyền và đúng quy định.
Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra định kỳ với kiểm tra đột xuất, giữa giám sát của tổ chức đảng với giám sát của quần chúng. Cấp ủy, chỉ huy cần tạo điều kiện để Hội đồng quân nhân, các tổ chức quần chúng tham gia giám sát việc thực hành dân chủ; coi đây là kênh quan trọng phản ánh tâm tư, nguyện vọng của bộ đội. Qua đó, phát hiện sớm những biểu hiện vi phạm, bất cập trong tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở. Gắn công tác kiểm tra, giám sát việc thực hành dân chủ với xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật và giữ vững ổn định chính trị nội bộ. Thông qua kiểm tra, giám sát để kịp thời ngăn chặn các biểu hiện lợi dụng dân chủ gây mất đoàn kết, vi phạm kỷ luật quân đội; đồng thời củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng và người chỉ huy, tạo môi trường dân chủ lành mạnh trong đơn vị.
Thực hiện nghiêm chế độ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về thực hành dân chủ ở đơn vị. Trên cơ sở kết quả kiểm tra, giám sát, kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt; đồng thời phê bình, chấn chỉnh, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm dân chủ hoặc thiếu trách nhiệm trong tổ chức thực hiện. Việc rút kinh nghiệm cần được tiến hành công khai, dân chủ, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ.
5. Kết luận
Thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở trong Quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu có tính nguyên tắc, vừa mang ý nghĩa lý luận sâu sắc, vừa có giá trị thực tiễn to lớn trong sự nghiệp xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Thực tiễn cho thấy, việc phát huy và thực hành dân chủ ở đơn vị cơ sở thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần củng cố đoàn kết nội bộ, nâng cao ý thức trách nhiệm, phát huy trí tuệ tập thể và sức mạnh tổng hợp của cán bộ, chiến sĩ. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, bất cập đòi hỏi phải tiếp tục được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và khắc phục bằng những giải pháp đồng bộ, phù hợp góp phần xây dựng môi trường chính trị, tinh thần lành mạnh, tăng cường niềm tin của cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng, củng cố mối quan hệ đoàn kết quân – dân, nâng cao chất lượng hoàn thành nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr. 263, 572, 64, 310, 610, 67, 293.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 207.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Quốc Phòng (2022). Chỉ thị số 79/CT-BQP ngày 22/7/2022 xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”.
2. Bộ Quốc Phòng (2024). Thông tư số 122/2024/TT-BQP ngày 31/12/2024 quy định về thực hiện dân chủ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam.
3. Bộ Quốc Phòng (2025). Thông tư số 60/2025/TT-BQP ngày 30/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 122/2024/TT-BQP ngày 31/12/2024 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở trong Quân đội Nhân dân Việt Nam.
4. Quốc hội (2022). Luật Quốc phòng năm 2022.
5. Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.



