TS. Đới Văn Tặng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết khái quát tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng đội ngũ cán bộ “sống trong lòng quần chúng”, coi đây là thước đo quan trọng của phẩm chất, năng lực và uy tín cán bộ. Từ đó, đề xuất một số định hướng vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng đội ngũ cán bộ ở Việt Nam hiện nay, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và củng cố niềm tin của Nhân dân trong kỷ nguyên phát triển mới.
Từ khóa: Cán bộ; Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ nguyên phát triển mới; V.I.Lênin; Việt Nam.
1. Đặt vấn đề
Trong kho tàng lý luận của V.I.Lênin, vấn đề cán bộ luôn chiếm giữ một vị trí trọng yếu, được coi là nhân tố quyết định sự thành bại của chính quyền cách mạng. Đặc biệt, quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ “sống trong lòng quần chúng” không chỉ là một phương châm hành động mà còn là một nguyên tắc sinh tồn của Đảng Cộng sản khi trở thành đảng cầm quyền. Luận điểm này bao hàm sự thấu hiểu sâu sắc về tâm lý xã hội, sự gắn kết hữu cơ giữa người lãnh đạo và người phục tùng sự lãnh đạo cùng với một cơ chế kiểm soát quyền lực nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn sự tha hóa của đội ngũ cán trong Đảng và bộ máy hành chính. Việc thấm nhuần tư tưởng “sống trong lòng quần chúng” của V.I.Lênin là chìa khóa để Đảng xây dựng được đội ngũ cán bộ “vừa hồng”, “vừa chuyên”; tạo “cái gốc” vững bền cho Đảng luôn giữ vững bản chất cách mạng, luôn là “đạo đức, là văn minh” trong lòng Nhân dân và dân tộc. Đặc biệt, trong giai đoạn cách mạng hiện nay việc quán triệt, vận dụng tư tưởng “Sống trong lòng quần chúng” của V.I.Lênin ở Việt Nam để xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở, tiền đề giữ vững, củng cố và tăng cường niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng
2. Tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng đội ngũ cán bộ “sống trong lòng quần chúng”
Sự hình thành tư tưởng V.I. Lênin về xây dựng đội ngũ cán bộ gắn liền với các giai đoạn chuyển mình của cách mạng vô sản Nga. Trong những năm đầu sau cách mạng Tháng Mười, nước Nga Xô viết rơi vào vòng vây của thù trong giặc ngoài, kinh tế kiệt quệ và nạn đói hoành hành. V.I.Lênin nhận ra, nếu cán bộ chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính mà xa rời quần chúng, chính quyền Xô viết sẽ không thể đứng vững. Đây là giai đoạn V.I.Lênin bắt đầu cảnh báo về nguy cơ “kiêu ngạo cộng sản” và tệ quan liêu – những rào cản ngăn cách Đảng với Nhân dân.
Bên cạnh đó, việc thực hiện Chính sách kinh tế mới (NEP) năm 1921 càng làm sâu sắc thêm tư tưởng này. Việc chấp nhận các thành phần kinh tế đa dạng đòi hỏi người cán bộ không chỉ có bản lĩnh chính trị mà còn phải am hiểu kinh tế và thực sự thấu hiểu nhu cầu đời sống của người dân. V.I.Lênin yêu cầu cán bộ phải học cách quản lý từ thực tế, phải “nhúng tay vào việc” thay vì chỉ thảo ra các sắc lệnh. Chính trong bối cảnh thực tiễn khốc liệt đó, luận điểm “sống trong lòng quần chúng” đã trở thành một yêu cầu mang tính sống còn để củng cố mối liên hệ giữa tổ chức đảng, bộ máy nhà nước với quần chúng lao động. V.I.Lênin chỉ rõ, cán bộ phải “Sống trong lòng quần chúng. Biết tâm trạng quần chúng. Biết tất cả. Hiểu quần chúng. Biết đến với quần chúng. Giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng”1.
Để thực sự “sống trong lòng quần chúng”, yêu cầu đầu tiên và tiên quyết là cán bộ phải “biết tâm trạng quần chúng”. Trong khoa học quản trị hiện đại, điều này tương ứng với việc nắm bắt dư luận xã hội và nhu cầu của khách hàng, nhưng ở góc độ chính trị của V.I.Lênin, luận điểm này mang tính nhân văn và trách nhiệm cao hơn. Cán bộ không thể lãnh đạo nếu không biết người dân đang lo lắng điều gì, họ đang gặp khó khăn gì trong sinh hoạt và họ phản ứng ra sao trước các chính sách của chính quyền. V.I.Lênin phê phán quyết liệt những cán bộ “lên mặt là quan cai trị”, những người coi quần chúng chỉ là đối tượng để ra lệnh. Việc “biết tất cả” mà V.I.Lênin nhắc đến không phải là sự tò mò cá nhân mà là sự sâu sát thực tế để hiểu rõ căn nguyên của các vấn đề xã hội. Chỉ khi hiểu thấu quần chúng, cán bộ mới có thể “nhận xét tâm trạng của quần chúng, gần gũi họ, giải quyết những nhu cầu của họ, giao cho những phần tử tốt nhất trong số họ đảm nhiệm những chức vụ trong bộ máy nhà nước…”2.
Sống trong lòng quần chúng đồng nghĩa với việc cán bộ giành được “lòng tin tuyệt đối” của họ. V.I.Lênin khẳng định thành công trong lãnh đạo và quản lý nằm ở chỗ giữ được lòng tin này. Niềm tin không phải là thứ có thể cưỡng ép bằng bạo lực hay mệnh lệnh hành chính mà nó được tạo ra từ sự gương mẫu, tận tâm và năng lực thực tế của người cán bộ. Trong tư tưởng V.I.Lênin, quyền lực của cán bộ thực chất là quyền lực được giai cấp công nhân và Nhân dân lao động ủy thác. Do đó, người cán bộ phải có trách nhiệm giải trình trước Nhân dân, phải đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho Nhân dân, nếu không, họ sẽ mất đi tư cách lãnh đạo. Sự gắn bó mật thiết này giúp quần chúng tin tưởng cán bộ nên tích cực tham gia vào các phong trào cách mạng, từ đó tạo ra sức mạnh để xây dựng xã hội mới.
Để có thể “sống trong lòng quần chúng”, người cán bộ phải hội đủ những tiêu chuẩn khắt khe về cả phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn và đạo đức lối sống. V.I. Lênin đã đưa ra những yêu cầu cụ thể để lựa chọn và bố trí cán bộ, bảo đảm họ thực sự là những người ưu tú của giai cấp.
Tiêu chuẩn hàng đầu là phẩm chất chính trị. Trong lựa chọn nhân sự, V.I.Lênin yêu cầu phải tìm những người có bản lĩnh kiên cường, tấm lòng sắt son với lý tưởng, sẵn sàng “hy sinh quên mình phục vụ chủ nghĩa cộng sản”3. Người cán bộ phải có khả năng nhạy bén chính trị để tìm ra “mắt xích đặc biệt” nhằm giữ vững toàn bộ dây chuyền cách mạng trong những thời điểm khó khăn nhất.Tuy nhiên, lòng trung thành không đồng nghĩa với sự bảo thủ. V.I.Lênin đòi hỏi cán bộ phải có khả năng biến các sắc luật từ “trạng thái là giấy lộn” thành “thực tiễn sống động”. Điều này đòi hỏi một sự thấu hiểu lý luận sâu sắc đi đôi với năng lực thực hành. Cán bộ phải là người dám đương đầu với khó khăn, dám chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhân dân về những quyết định của mình.
Tiêu chuẩn quan trọng của cán bộ phải là người có “uy tín chuyên môn”. V.I.Lênin nêu rõ: “Làm sao có thể quản lý được nếu không có uy tín chuyên môn, nếu không có kiến thức đầy đủ, nếu không tinh thông khoa học quản lý… Muốn quản lý được thì cần am hiểu công việc và phải là một cán bộ quản lý giỏi”4. Trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự am hiểu về khoa học kỹ thuật và quản lý kinh tế trở thành một yêu cầu bắt buộc. Đồng thời, phải nêu tấm gương lao động thật sự cộng sản chủ nghĩa.
Về đạo đức, V.I.Lênin yêu cầu cán bộ phải có các chuẩn mực đạo đức, như: phẩm chất trung thành; tinh thần tự giác gánh vác nhiệm vụ gian khổ, hiểm nguy và hy sinh quên mình phục vụ chủ nghĩa cộng sản; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong đảng; tận tâm, tận tụy, trách nhiệm với công việc; tinh thần gương mẫu, nêu gương, làm gương; khiêm tốn, cầu thị, không “kiêu ngạo cộng sản”, không tự phụ, không tự cao tự đại; thái độ khách quan, không thiên vị, không hẹp hòi, không có đầu óc bè phái, phường hội; không tham ô, hối lộ; tiết kiệm, tránh lãng phí; không ham địa vị, không lạm quyền, không đặc quyền, đặc lợi; trung thực, không che giấu sai lầm, khuyết điểm, dũng cảm nhận sai lầm, khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa; không quan liêu; tôn trọng, gần gũi, tin tưởng và phục vụ lợi ích của nhân dân5. Muốn vậy, theo V.I. Lênin, cần thực hiện tốt tất cả các khâu của quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đồng thời, phải tuyển chọn đúng người vào các tổ chức cao nhất của bộ máy nhà nước theo các tiêu chuẩn: uy tín cao, được nhiều đảng viên giới thiệu; phải qua sát hạch để kiểm tra trình độ lý luận về nhà nước, những nguyên tắc của khoa học quản lý và khả năng phối hợp cao với đồng nghiệp trong công tác.
Để bảo vệ sự gắn bó mật thiết giữa cán bộ và quần chúng, V.I.Lênin đề xuất những giải pháp mang tính “không khoan nhượng”, gồm:
Kiểm tra và giám sát: V.I.Lênin coi kiểm tra việc thực hiện công việc là mấu chốt của toàn bộ công tác cán bộ. Phải có cơ chế kiểm tra từ trên xuống và từ dưới lên, gắn trách nhiệm cá nhân nghiêm ngặt đối với những sai lầm của cấp dưới.
Thanh đảng và sàng lọc: kiên quyết gạt bỏ ra khỏi Đảng những phần tử quan liêu, những kẻ làm ô danh Đảng trước Nhân dân. Việc sàng lọc thường xuyên giúp bộ máy luôn tinh gọn và hiệu quả.
Phát huy dân chủ trực tiếp: lôi cuốn quần chúng tham gia vào việc giám sát các cơ quan nhà nước. Cuộc đấu tranh chống tiêu cực chỉ thành công khi có sự giúp đỡ tích cực của chính quần chúng nhân dân.
Cải cách bộ máy theo hướng tinh gọn: thực hiện phương châm “Thà ít mà tốt”, lấy chất lượng và hiệu quả của chính quá trình cải cách bộ máy nhà nước làm tiêu chuẩn đánh giá kết quả.
Tư tưởng xây dựng đội ngũ cán bộ “sống trong lòng quần chúng” của V.I.Lênin trực tiếp bổ sung và phát triển học thuyết Mác về vai trò của quần chúng trong lịch sử, đồng thời làm sâu sắc quan niệm về mối quan hệ biện chứng giữa Đảng – cán bộ – Nhân dân trong điều kiện Đảng cầm quyền. Tư tưởng này đặt nền tảng khoa học cho nguyên tắc xây dựng đội ngũ cán bộ theo hướng vừa có phẩm chất chính trị, năng lực tổ chức, vừa có đạo đức cách mạng và phong cách quần chúng. Trong thực tiễn, tư tưởng “sống trong lòng quần chúng” là phương châm quan trọng để phòng, chống quan liêu, tham nhũng, suy thoái, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và nhà nước, vào sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.
3. Vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng đội ngũ cán bộ “sống trong lòng quần chúng” trong kỷ nguyên phát triển mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và phát triển xuất sắc tư tưởng của V.I.Lênin về đội ngũ cán bộ, từ đó xây dựng thành những chỉ dẫn hành động cụ thể cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”6. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu cán bộ phải tích cực, chủ động sửa đổi lối làm việc để “sát quần chúng, hợp quần chúng”7 có thái độ “vui vẻ, thân mật” để Nhân dân và cấp dưới dám nói, dám phê bình. Người căn dặn cán bộ lãnh đạo “cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh”8 phải “thật thà nhúng tay vào việc”9 để giúp đỡ cấp dưới thay vì chỉ đứng ngoài ra lệnh.
Trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh những thành tựu to lớn trong công tác cán bộ, Đảng ta thẳng thắn thừa nhận tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện xa dân, quan liêu, nhũng nhiễu. Văn kiện Đại hội XIII chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãnh phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”10.
Dự thảo Báo cáo chính trị trình đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện đùn đẩy, né tránh, không dám làm, không dám đổi mới sáng tạo”11. Những biểu hiện này hoàn toàn trái ngược với yêu cầu “sống trong lòng quần chúng” của V.I.Lênin và đang trở thành lực cản đối với sự phát triển của đất nước. Vận dụng tư tưởng V.I.Lênin về xây dựng đội ngũ cán bộ sống “trong lòng quần chúng”, cần thực hiện tốt một số nhóm giải pháp đột phá sau:
Một là, đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng của cán bộ. Cần đổi mới nội dung giáo dục theo hướng làm cho cán bộ thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về lấy Nhân dân làm trung tâm, coi phục vụ Nhân dân là mục tiêu, lẽ sống và chuẩn mực cao nhất của hoạt động công vụ. Công tác giáo dục không chỉ dừng lại ở trang bị tri thức chính trị mà phải gắn chặt với rèn luyện đạo đức cách mạng, ý thức trách nhiệm, tinh thần nêu gương và thái độ tôn trọng, gần gũi Nhân dân.
Cần đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa tự giác rèn luyện với kiểm tra, giám sát; lấy thực tiễn công tác và sự đánh giá của quần chúng làm thước đo hiệu quả giáo dục. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, quan liêu, xa dân – những biểu hiện làm xói mòn phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần hình thành đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng và niềm tin vững chắc của Nhân dân.
Hai là, tiếp tục thực hiện hiệu quả, đồng bộ thể chế về công tác cán bộ. Tập trung triển khai nghiêm các quy định mới ban hành, nhất là trong đánh giá, đào tạo, sử dụng cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, công tâm, khách quan theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí, gắn với sản phẩm cụ thể, theo vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh; coi trọng uy tín trong Đảng và tín nhiệm trong Nhân dân; theo đúng chủ trương “có vào có ra”, “có lên có xuống”.
Thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Quan tâm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước; tăng cường cán bộ cho các địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu.
Ba là, đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ. Hoạt động này cần được triển khai một cách chủ động, có lộ trình và giải pháp đồng bộ. Cần xác định rõ yêu cầu, tiêu chuẩn chức danh và khung năng lực đối với từng loại cán bộ làm căn cứ xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp; bảo đảm đào tạo đúng đối tượng, đúng nhu cầu, tránh dàn trải, hình thức. Cần đổi mới nội dung đào tạo theo hướng thiết thực, hiện đại, gắn chặt lý luận với thực tiễn, tập trung trang bị tư duy chiến lược, năng lực hoạch định chính sách, kỹ năng lãnh đạo, quản lý và khả năng xử lý các vấn đề phức tạp nảy sinh trong thực tiễn.
Đổi mới phương pháp đào tạo theo hướng lấy người học làm trung tâm, tăng cường thảo luận, phân tích tình huống, nghiên cứu thực tế, ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy và đánh giá kết quả học tập. Bên cạnh đó, cần thực hiện luân chuyển cán bộ một cách khoa học, minh bạch và có kiểm soát, gắn chặt với công tác quy hoạch, đánh giá và sử dụng cán bộ. Luân chuyển phải có mục tiêu rõ ràng, thời gian hợp lý, lựa chọn đúng người, đúng việc, đúng địa bàn, coi trọng rèn luyện cán bộ ở cơ sở, nhất là những địa bàn khó khăn, phức tạp. Sau luân chuyển, cần có cơ chế đánh giá khách quan và sử dụng cán bộ phù hợp với năng lực, kết quả công tác. Chỉ khi làm đồng bộ các giải pháp trên mới tạo được chuyển biến thực chất trong xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Bốn là, xây dựng và thực hành phong cách lãnh đạo dân chủ, sâu sát, nói đi đôi với làm cho đội ngũ cán bộ các cấp. Theo đó, đội ngũ cán bộ các cấp phải thực sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, coi việc lắng nghe ý kiến, nguyện vọng chính đáng của quần chúng là trách nhiệm chính trị và chuẩn mực đạo đức công vụ. Phong cách lãnh đạo dân chủ đòi hỏi cán bộ không chỉ ban hành chủ trương, quyết định từ phòng họp mà phải thường xuyên đi cơ sở, bám sát thực tiễn, nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh ngay từ cơ sở. Cùng với đó, nói đi đôi với làm phải trở thành nguyên tắc hành động xuyên suốt, thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, tính gương mẫu và hiệu quả thực tiễn của mỗi quyết định lãnh đạo. Cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước tập thể và trước Nhân dân, kiên quyết chống bệnh hình thức, hứa nhiều làm ít, né tránh trách nhiệm. Việc xây dựng và thực hành phong cách lãnh đạo như vậy sẽ góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn mới.
Năm là, tăng cường cơ chế giám sát, phản biện xã hội và trách nhiệm nêu gương của cán bộ. Cần tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về giám sát quyền lực, bảo đảm mọi hoạt động của cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, đều được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của tổ chức Đảng, của Nhân dân và của hệ thống chính trị.
Phát huy thực chất vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, coi đây là kênh quan trọng để Nhân dân tham gia góp ý, kiểm soát cán bộ một cách dân chủ, công khai, minh bạch. Cùng với đó, cần đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, nhất là người đứng đầu, thể hiện ở lối sống trong sạch, tác phong gần dân, tinh thần dám nhận trách nhiệm và thái độ cầu thị trước phê bình. Việc nêu gương không chỉ dừng ở lời nói hay cam kết mà phải được kiểm chứng bằng hành động cụ thể và kết quả công việc. Thực hiện đồng bộ các nội dung này sẽ góp phần phòng ngừa vi phạm, nâng cao kỷ luật, kỷ cương và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với đội ngũ cán bộ.
4. Kết luận
Tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng đội ngũ cán bộ “sống trong lòng quần chúng” mang một giá trị vượt thời gian, là ngọn đuốc soi đường trong công tác xây dựng Đảng. Trong bối cảnh phát triển mới, việc “sống trong lòng quần chúng” còn đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải biết sử dụng công nghệ để gần dân hơn, hiểu dân nhanh hơn và phục vụ dân hiệu quả hơn. Tuy nhiên, công nghệ không thể thay thế được sự chân thành và bản lĩnh đạo đức của người cán bộ. Uy tín của người lãnh đạo vẫn phải bắt nguồn từ sự gương mẫu, khiêm tốn và lòng tận tụy với lợi ích chung. Thành công của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước phụ thuộc vào việc chúng ta có xây dựng được một đội ngũ cán bộ thực sự “ngang tầm nhiệm vụ”, những người coi việc phục vụ Nhân dân là lý tưởng sống và là niềm hạnh phúc lớn nhất. Khi cán bộ thực sự “sống trong lòng quần chúng”, họ sẽ nhận được sức mạnh từ quần chúng để vượt qua mọi khó khăn, đưa đất nước vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa.
Chú thích:
1. V.I.Lênin toàn tập (2006). Tập 44. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 251.
2. V.I.Lênin toàn tập (2006). Tập 41. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 38.
3. V.I.Lênin toàn tập (2006). Tập 39. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 255-256).
4. V.I.Lênin toàn tập (2006). Tập 40. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 257.
5. Nguyễn Tiến Nghĩa (2018). Chuẩn mực đạo đức của người đảng viên Cộng sản trong di sản lý luận của V.I. Lênin về xây dựng Đảng. Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 12/01/2018.
6, 7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 280, 287.
8. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.176.
9. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 234.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đai hội đai biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 95.
11. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XIII) tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ngày 14/10/2025, tr. 12.



