ThS. Trần Thị Mỵ
Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp
(Quanlynhanuoc.vn) – Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là chỉ dẫn phương pháp luận quan trọng cho đường lối và hoạt động ngoại giao của cách mạng Việt Nam. Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, tư tưởng đó tiếp tục soi sáng việc xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao. Trên nền tảng giữ vững độc lập, chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa, đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao cần linh hoạt, sáng tạo trong tư duy và phương pháp hoạt động để thích ứng với những biến động phức tạp của tình hình quốc tế. Việc nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực hội nhập quốc tế của cán bộ ngoại giao có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả công tác ngoại giao, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, đội ngũ cán bộ, công tác ngoại giao, kỷ nguyên phát triển mới.
1. Đặt vấn đề
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại hệ thống quan điểm, tư tưởng toàn diện, sâu sắc về ngoại giao cách mạng, trong đó tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là một chỉ dẫn phương pháp luận đặc biệt quan trọng. Tư tưởng đó thể hiện tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh chính trị vững vàng và nghệ thuật xử lý quan hệ quốc tế đầy trí tuệ của Hồ Chí Minh, trở thành giá trị bền vững soi đường cho đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Vận dụng sáng tạo tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh trong xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao hiện nay không chỉ là yêu cầu mang tính lý luận mà còn là đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn. Bởi trước những biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường của tình hình thế giới, khu vực; sự đan xen giữa hợp tác và đấu tranh; giữa thời cơ và thách thức, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ làm công tác ngoại giao nói riêng ngày càng cao, toàn diện và khắt khe hơn.
2. Giá trị tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc
Tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một khẩu hiệu đơn thuần, mà là sự kết tinh sâu sắc của thực tiễn cách mạng Việt Nam, sự vận động phức tạp của tình hình quốc tế, cùng với trí tuệ, bản lĩnh và kinh nghiệm hoạt động cách mạng phong phú của Người. Tư tưởng này được hình thành và thể hiện rõ nét trong một hoàn cảnh lịch sử hết sức đặc biệt, khi cách mạng Việt Nam đứng trước những thử thách sinh tử, đòi hỏi phải có đường lối và sách lược cực kỳ sáng suốt, linh hoạt nhưng kiên định về nguyên tắc để giữ vững độc lập, chủ quyền và chính quyền non trẻ vừa mới giành được.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách, ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”: nền kinh tế kiệt quệ, nạn đói, nạn dốt hoành hành; lực lượng phản cách mạng chống phá trong nước; cùng lúc nhiều lực lượng quân sự nước ngoài hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam. Trước tình thế đó, nếu chỉ cứng nhắc về sách lược hoặc chỉ linh hoạt mà thiếu nguyên tắc, cách mạng Việt Nam đều có thể rơi vào thế bị động, thậm chí thất bại. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải kiên quyết giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc, đồng thời vận dụng linh hoạt các biện pháp đối ngoại và đối nội để tranh thủ thời gian, củng cố lực lượng, bảo toàn chính quyền cách mạng.
Trước khi lên đường sang Pháp năm 1946 với tư cách Trưởng đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán với Chính phủ Pháp, nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình để bảo vệ nền độc lập non trẻ của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng một câu nói nổi tiếng đã trở thành kinh điển hàm chứa tư tưởng chỉ đạo chiến lược sâu sắc: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở cụ cùng với anh em giải quyết cho. Mong cụ: Dĩ bất biến, ứng vạn biến”1. Trong đó, “cái bất biến” là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, lợi ích tối cao của Tổ quốc, là nguyên tắc bất di bất dịch, không bao giờ thay đổi, không thể nhân nhượng; còn “cái vạn biến” là sách lược, phương pháp, hình thức đấu tranh và đối ngoại, có thể linh hoạt, mềm dẻo tùy theo tình hình cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chiến lược. Đây không chỉ là lời căn dặn cá nhân, mà thực chất là một phương châm lãnh đạo cách mạng và ngoại giao cách mạng trong hoàn cảnh “giữ nước từ khi nước chưa yên”.
Giá trị của tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc ở một số khía cạnh chủ yếu sau đây.
Một là, giá trị của tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lập trường kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội.
Giá trị cốt lõi, xuyên suốt của tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là sự kiên định tuyệt đối mục tiêu độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội; đặt lợi ích quốc gia, dân tộc là tối thượng, là trên hết, trước hết. Đây chính là “cái bất biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Người cũng chỉ rõ: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”2.
Quan điểm, tư tưởng này trở thành nền tảng tư tưởng bất biến, chi phối mọi sách lược linh hoạt mà Người vận dụng sau này. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, trong quan hệ quốc tế, có thể nhân nhượng có nguyêntắc, nhưng tuyệt đối không được đánh đổi độc lập, chủ quyền: “Dân tộc ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”3. Điều đó cho thấy, tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” không phải là sự thỏa hiệp, mà là bản lĩnh kiên định về mục tiêu chiến lược, tạo cơ sở cho sự linh hoạt đúng đắn về sách lược. Thực tiễn trong giai đoạn bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ (1945 -1946) vận dụng tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đã kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, đồng thời thực hiện sách lược mềm dẻo trong đối nội và đối ngoại, như: ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, Tạm ước 14/9/1946 nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn, củng cố lực lượng. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tư tưởng này tiếp tục được vận dụng nhất quán: kiên quyết đấu tranh bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước, đồng thời linh hoạt trong phương thức đấu tranh, kết hợp quân sự, chính trị, ngoại giao, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, cô lập kẻ thù.
Hai là, giá trị của tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phương pháp luận đặc biệt quan trọng.
Tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” này phản ánh rõ tinh thần biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó nhấn mạnh sự thống nhất giữa tính ổn định và tính vận động, giữa mục tiêu chiến lược và sách lược cụ thể. Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa cái bất biến một cách cứng nhắc, cũng không coi linh hoạt là sự thỏa hiệp vô nguyên tắc mà luôn đặt linh hoạt trong khuôn khổ bảo vệ mục tiêu chiến lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải phân biệt rõ giữa cái “không thể thay đổi” và cái “có thể thay đổi” trong từng giai đoạn, hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Trong quá trình chỉ đạo đối ngoại và cách mạng nói chung, Người căn dặn “Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ; phải tùy thời, tùy thế mà hành động”. Chính nhờ sự quán triệt tư tưởng đó mà giúp chúng ta tránh được hai khuynh hướng sai lầm: Giáo điều, cứng nhắc, không thích ứng với thực tiễn biến đổi. Cơ hội, thực dụng, xa rời mục tiêu, nguyên tắc cách mạng. tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” là sự kết hợp chặt chẽ giữa trí tuệ và bản lĩnh, giữa mềm dẻo và kiên quyết, góp phần quan trọng bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.
Tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh không sao chép máy móc các mô hình, công thức có sẵn, mà luôn xuất phát từ thực tiễn dân tộc, từ tương quan lực lượng trong nước và quốc tế để đề ra đường lối phù hợp. Chính sự kết hợp giữa kiên định lập trường giai cấp công nhân với linh hoạt trong sách lược dân tộc và ngoại giao đã giúp cách mạng Việt Nam vượt qua những thời điểm cam go nhất, giữ vững được chính quyền non trẻ và tạo tiền đề cho thắng lợi lâu dài. Đồng thời, góp phần làm phong phú tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao và lãnh đạo cách mạng; là hạt nhân tư tưởng chi phối quan điểm của Người về ngoại giao, về xử lý quan hệ quốc tế, về lãnh đạo và quản lý xã hội. Tư tưởng này thể hiện rõ bản lĩnh độc lập, tự chủ, đồng thời mở ra không gian linh hoạt để tranh thủ thời cơ, hóa giải thách thức.
Ba là, giá trị của tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cơ sở, nền móng cho công tác ngoại giao của Đảng, Nhà nước hiện nay.
Bước vào thời kỳ đổi mới, tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Việt Nam kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, lợi ích quốc gia – dân tộc, đồng thời chủ động hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế.
Trong bối cảnh thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” tiếp tục là kim chỉ nam cho đường lốiđối ngoại của Việt Nam. Kiên định độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia – dân tộc, đồng thời linh hoạt, khôn khéo trong quan hệ với các đối tác, tránh bị cuốn vào các xung đột, đối đầu. Trong mọi giai đoạn cách mạng, việc nắm vững và vận dụng sáng tạo tư tưởng này sẽ giúp Đảng và Nhà nước giữ vững định hướng chiến lược, đồng thời thích ứng linh hoạt với thực tiễn, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước.
3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao trong kỷ nguyên mới
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao về tầm quan trọng tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao quán triệt và thực hiện nghiêm túc tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật Nhà nước về hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; phải tuyệt đối kiên định về lập trường, nguyên tắc, mục tiêu, nhưng đồng thời phải có tư duy linh hoạt, nhạy bén, khả năng thích ứng cao trước những biến động nhanh chóng của tình hình quốc tế. Không dao động trước những tác động phức tạp của môi trường quốc tế, không mơ hồ về mục tiêu, không bị chi phối bởi áp lực, cám dỗ hay sự tác động từ bên ngoài.
Trong mọi tình huống, đội ngũ cán bộ ngoại giao phải luôn đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết; kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và uy tín quốc gia. Cán bộ ngoại giao nhận thức rõ ràng, bản lĩnh chính trị không đồng nghĩa với thái độ cứng nhắc mà phải được thể hiện thông qua khả năng xử lý linh hoạt, khôn khéo các mối quan hệ đối ngoại, biết “tiến thoái đúng lúc”, “cương nhu đúng chỗ” nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích chiến lược của đất nước. Trong thời bình, cán bộ ngoại giao phải đi đầu trong kiến tạo hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và thu hút nguồn lực cho phát triển đất nước. Phải nắm vững và vận dụng nhuần nhuyễn bài học của ông cha: Dựng nước đi đôi với giữ nước, giữ nước từ khi nước chưa nguy, có kế sách ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ chiến tranh “từ sớm, từ xa4.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao thường xuyên đổi mới tư duy, phương pháp hoạt động.
Đổi mới tư duy ngoại giao của đội ngũ cán bộ phải được đặt trên nền tảng kiên định “cái bất biến”, đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; lợi ích quốc gia – dân tộc; mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kiên định không có nghĩa là bảo thủ, giáo điều mà là giữ vững bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng vững vàng trong mọi tình huống. Trên cơ sở đó, đội ngũ cán bộ ngoại giao cần không ngừng đổi mới tư duy chiến lược, tư duy biện chứng, tư duy mở, biết nhìn nhận đúng xu thế vận động của thế giới, nhận diện rõ thời cơ, thách thức, đối tác, đối tượng, từ đó đề xuất và tổ chức thực hiện các chủ trương, giải pháp ngoại giao phù hợp, hiệu quả. Đổi mới phương pháp hoạt động ngoại giao theo hướng chủ động, linh hoạt, sáng tạo, lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ ngoại giao phải biết “ứng vạn biến” trong phương pháp, hình thức, cách thức triển khai hoạt động ngoại giao, song luôn đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết. Trong thực tiễn, điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ ngoại giao không chỉ nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn phải am hiểu sâu sắc luật pháp quốc tế, thông lệ quốc tế, văn hóa, tập quán của từng quốc gia, từng đối tác; biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên tắc và sách lược, giữa cứng rắn về mục tiêu và mềm dẻo về biện pháp.
Một nhà ngoại giao, một nhà hoạt động đối ngoại giỏi trước hết phải là một nhà chính trị giỏi, luôn lấy lợi ích của quốc gia – dân tộc, của chế độ làm kim chỉ nam trong hành động; đồng thời phải có phong cách ứng xử văn hoá, bởi lẽ đối ngoại chính là văn hoá, là đại diện cho văn hoá của dân tộc trong giao lưu với các dân tộc khác. Các nhà ngoại giao, các nhà hoạt động đối ngoại cần luôn luôn ghi nhớ rằng, phía sau mình là Đảng, là Đất nước, là Nhân dân. Phải tự tin, vững vàng, kiên định và khôn khéo, mưu lược5.
Cần gắn đổi mới tư duy, phương pháp hoạt động với nâng cao năng lực dự báo, tham mưu chiến lược cho Đảng, Nhà nước. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đối ngoại không chỉ là hoạt động giao tiếp đơn thuần mà là mặt trận quan trọng của cách mạng, đòi hỏi cán bộ phải có tầm nhìn xa, trông rộng, “biết mình, biết người”. Do đó, đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao hiện nay cần được rèn luyện khả năng phân tích, đánh giá tình hình quốc tế một cách khoa học, toàn diện; nâng cao năng lực dự báo xu hướng, kịch bản phát triển; kịp thời tham mưu những quyết sách đúng đắn, linh hoạt, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc từ sớm, từ xa.
Đổi mới phương pháp hoạt động ngoại giao gắn với chuyển đổi số, ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và các phương thức ngoại giao hiện đại. Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, ngoại giao không chỉ diễn ra trên bàn đàm phán truyền thống mà còn mở rộng trên không gian số, không gian truyền thông, không gian kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ. Đội ngũ cán bộ ngoại giao cần chủ động thích ứng với các phương thức hoạt động mới, nâng cao kỹ năng ngoại giao số, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, ngoại giao quốc phòng, ngoại giao nhân dân; biết khai thác hiệu quả các nền tảng truyền thông hiện đại để lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ uy tín và vị thế quốc gia. Coi trọng rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ và phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ ngoại giao.
Đổi mới tư duy và phương pháp hoạt động chỉ thực sự bền vững khi được đặt trên nền tảng đạo đức cách mạng trong sáng, tinh thần trách nhiệm cao và phong cách làm việc khoa học, chuyên nghiệp. Noi gương Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ ngoại giao phải luôn khiêm tốn, cầu thị, tôn trọng đối tác nhưng không tự ti; mềm dẻo nhưng không nhân nhượng những vấn đề thuộc về nguyên tắc; tận tụy, liêm chính, chí công vô tư đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; nêu cao phẩm chất đạo đức cách mạng của người đảng viên tận trung với Đảng, tận hiếu với dân.
Thứ ba, xây dựng phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực xử lý tình huống của đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, cán bộ ngoại giao không chỉ là người đại diện cho Nhà nước về mặt chính trị mà còn là sứ giả văn hóa, hình ảnh, uy tín của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. Tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” giúp cán bộ ngoại giao xây dựng phong cách làm việc điềm tĩnh, khiêm tốn, chân thành, nhưng kiên quyết; mềm dẻo nhưng không nhu nhược; linh hoạt nhưng không đánh mất nguyên tắc.
Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại toàn diện về bản lĩnh, phẩm chất, đạo đức và trí tuệ, hiện đại về phong cách, phương pháp làm việc, có năng lực đổi mới sáng tạo, đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới6. Với tinh thần đó, cần xây dựng lối sống liêm chính, giản dị, khiêm tốn, tôn trọng pháp luật và thông lệ quốc tế; chủ động phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, biểu hiện cơ hội, thực dụng trong hoạt động đối ngoại. Gắn xây dựng đạo đức, lối sống với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm nêu gương, góp phần nâng cao uy tín, hình ảnh của nền ngoại giao Việt Nam trên trường quốc tế.
Thực tiễn công tác ngoại giao hiện nay cho thấy, nhiều vấn đề nảy sinh nhanh, bất ngờ, nhạy cảm, đòi hỏi đội ngũ cán bộ ngoại giao phải có năng lực phân tích, dự báo và xử lý tình huống ở trình độ cao. Tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” chính là kim chỉ nam giúp đội ngũ cán bộ ngoại giao xác định đúng trọng tâm, giữ vững thế chủ động chiến lược trong những tình huống đó. Việc xác định rõ “cái bất biến” giúp cán bộ ngoại giao không lúng túng, không sa vào xử lý vụ việc thuần túy tình thế; còn việc vận dụng “cái vạn biến” cho phép lựa chọn giải pháp tối ưu, hạn chế rủi ro, tận dụng thời cơ, bảo vệ lợi ích quốc gia trong từng điều kiện, hoàn cảnh, tình huống cụ thể.
Thứ tư, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao.
Phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đủ năng lực để làm việc tại các tổ chức quốc tế và khu vực, các cơ quan trọng tài, tư vấn quốc tế. Chú trọng đào tạo, xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi trên một số lĩnh vực trọng yếu7. Theo đó, đào tạo không chỉ dừng lại ở trang bị kiến thức chuyên môn, mà phải chú trọng hình thành bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược và phương pháp xử lý linh hoạt các vấn đề quốc tế.
Cần đổi mới toàn diện nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng hiện đại, chuyên sâu, gắn lý luận với thực tiễn, lấy yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc làm trung tâm. Chú trọng trang bị cho cán bộ ngoại giao nền tảng lý luận chính trị vững vàng, hiểu biết sâu sắc đường lối, quan điểm đối ngoại của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời cập nhật kịp thời tri thức mới về quan hệ quốc tế, luật pháp quốc tế, kinh tế, văn hóa và khoa học – công nghệ. Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo trong nước và đào tạo ở nước ngoài; giữa đào tạo cơ bản, dài hạn với bồi dưỡng ngắn hạn, chuyên đề; giữa đào tạo kiến thức với rèn luyện kỹ năng thực hành, xử lý tình huống đối ngoại. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, phương pháp giảng dạy tiên tiến, lấy người học làm trung tâm; tăng cường đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp liên văn hóa và năng lực hội nhập quốc tế. Qua đó, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, phong cách chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc; tăng cường huấn luyện kỹ năng đàm phán, dự báo, xử lý tình huống, trên cơ sở kiên định mục tiêu, nguyên tắc ngoại giao của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, cần chú trọng rèn luyện đạo đức công vụ, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh cho cán bộ.
4. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là kết tinh trí tuệ, bản lĩnh và nghệ thuật ngoại giao cách mạng Việt Nam, có giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc, tiếp tục soi sáng đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta trong mọi giai đoạn. Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, khi tình hình thế giới, khu vực biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng đó vào xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Kiên định “cái bất biến” là lợi ích quốc gia – dân tộc, độc lập, chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời linh hoạt “ứng vạn biến” trong tư duy, phương pháp và phong cách hoạt động đối ngoại, chính là yêu cầu xuyên suốt đối với đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao hiện nay. Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, trình độ chuyên môn cao, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng linh hoạt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, củng cố vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Điều đó không chỉ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Chú thích:
1. Hồ Chí Minh (1996). Biên niên sử. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 216.
2, 3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 3, 534.
4, 5, 6, 7. Nguyễn Phú Trọng (2023). Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 125, 164, 97, 55.



