Thúc đẩy phát triển giáo dục – đào tạo cho người dân tộc thiểu số và miền núi hướng tới tiếp cận công bằng về giáo dục

ThS. Nông Minh Đức
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(Quanlynhanuoc.vn) – Giáo dục và đào tạo cho người dân tộc thiểu số và miền núi là một nội dung trọng yếu trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia, giữ vai trò nền tảng trong việc nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, bảo đảm công bằng xã hội và củng cố ổn định chính trị – xã hội ở những địa bàn chiến lược của đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai chính sách cho thấy, giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, bất cập, đặc biệt là sự chênh lệch về điều kiện tiếp cận và chất lượng giáo dục so với các vùng thuận lợi; hiệu quả gắn kết giữa giáo dục đào tạo với phát triển nguồn nhân lực và sinh kế tại chỗ còn hạn chế. Trên cơ sở tiếp cận từ góc độ quản lý nhà nước và xã hội học giáo dục, bài viết phân tích có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển giáo dục đào tạo cho người dân tộc thiểu số hiện nay, đồng thời chỉ ra những khó khăn trong tổ chức thực hiện chính sách.

Từ khóa: Công bằng giáo dục; chính sách giáo dục; giáo dục dân tộc thiểu số; nguồn nhân lực; tiếp cận giáo dục.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển đất nước, giáo dục và đào tạo luôn được Đảng và Nhà nước xác định là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Quan điểm này được khẳng định xuyên suốt trong các nghị quyết quan trọng của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm cơ hội học tập công bằng cho mọi người dân, nhất là các nhóm yếu thế và vùng khó khăn.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi – khu vực chiếm khoảng ba phần tư diện tích tự nhiên và hơn 14% dân số cả nước, giáo dục không chỉ là con đường nâng cao dân trí mà còn là giải pháp chiến lược để phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, xóa đói, giảm nghèo bền vững, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo đảm ổn định chính trị – xã hội. Nhận thức rõ vai trò đặc biệt quan trọng này, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên, trong đó có Nghị quyết Đại hội XIII, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 và tiếp tục được nhấn mạnh trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định phát triển giáo dục – đào tạo là một trong những nội dung trọng tâm và xuyên suốt.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai chính sách cho thấy, việc tiếp cận giáo dục của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, địa hình chia cắt, dân cư phân tán, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, cùng với sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa đã tạo ra những rào cản đáng kể trong tổ chức mạng lưới trường lớp và cung ứng dịch vụ giáo dục. Hệ quả là khoảng cách về trình độ học vấn, chất lượng giáo dục và cơ hội học tập giữa vùng dân tộc thiểu số với các vùng thuận lợi vẫn tồn tại, thậm chí có nguy cơ gia tăng nếu không có các giải pháp can thiệp phù hợp.

Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu đối với nguồn nhân lực ngày càng cao, trong khi chất lượng nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số vẫn là một trong những “điểm nghẽn” của quá trình phát triển. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục thúc đẩy phát triển giáo dục – đào tạo cho người dân tộc thiểu số theo hướng công bằng, bao trùm và bền vững, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong tổ chức thực hiện các chính sách đã ban hành.

2. Cơ sở lý luận về tiếp cận công bằng giáo dục cho người dân tộc thiểu s

Trong khoa học quản lý và xã hội học giáo dục, giáo dục được xem là một trong những công cụ quan trọng nhất để điều chỉnh bất bình đẳng xã hội và thúc đẩy phát triển con người. Việc phát triển giáo dục – đào tạo cho người dân tộc thiểu số không chỉ xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền học tập của công dân mà còn từ mục tiêu phát triển bền vững và quản lý hiệu quả các nguồn lực xã hội trong dài hạn.

Thứ nhất, từ góc độ phát triển nguồn nhân lực, người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu dân số cả nước, sinh sống chủ yếu ở những địa bàn có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái. Nếu không được đầu tư đầy đủ về giáo dục – đào tạo, nhóm dân cư này khó có thể tham gia hiệu quả vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội, dẫn đến nguy cơ đói nghèo, tụt hậu và gia tăng bất bình đẳng giữa các vùng, các dân tộc. Do đó, phát triển giáo dục cho người dân tộc thiểu số chính là đầu tư cho nguồn nhân lực tại chỗ, góp phần mở rộng nền tảng phát triển quốc gia một cách toàn diện và bền vững.

Thứ hai, từ góc độ công bằng xã hội, giáo dục không chỉ là một dịch vụ công mà còn là một quyền cơ bản của con người. Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển không đồng đều, nếu áp dụng cách tiếp cận “bình quân” trong phân bổ nguồn lực giáo dục, các nhóm yếu thế, trong đó có người dân tộc thiểu số, sẽ tiếp tục ở vị thế bất lợi. Vì vậy, công bằng trong giáo dục cần được hiểu là bảo đảm sự khác biệt hợp lý trong chính sách và đầu tư, nhằm tạo ra cơ hội học tập tương đương về mặt thực chất cho mọi người học.

Đối với người dân tộc thiểu số, tiếp cận công bằng giáo dục cần được xem xét trên ba phương diện gắn kết chặt chẽ với nhau: (1) Công bằng trong tiếp cận giáo dục, tức là mọi trẻ em dân tộc thiểu số đều có cơ hội đến trường, không bị cản trở bởi khoảng cách địa lý, điều kiện kinh tế gia đình hay rào cản ngôn ngữ; (2) Công bằng trong quá trình học tập, thể hiện ở việc người học được thụ hưởng môi trường giáo dục phù hợp về chương trình, phương pháp, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất, có tính đến đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ và điều kiện sống của từng dân tộc, từng địa bàn; (3) Công bằng trong kết quả giáo dục, nghĩa là giáo dục không chỉ dừng lại ở việc hoàn thành chương trình học mà còn giúp người học hình thành năng lực thực chất để tiếp cận cơ hội việc làm, tham gia thị trường lao động và nâng cao vị thế xã hội.

Từ góc độ xã hội học giáo dục, đầu tư cho giáo dục vùng dân tộc thiểu số là một hình thức đầu tư mang tính lan tỏa cao, có khả năng tạo ra tác động tích cực lâu dài đối với sự phát triển xã hội. Giáo dục góp phần thay đổi nhận thức, hành vi và năng lực tham gia của người dân, qua đó thúc đẩy sự hòa nhập xã hội, tăng cường gắn kết cộng đồng và củng cố ổn định xã hội ở những địa bàn còn nhiều khó khăn. Do đó, việc hướng tới công bằng giáo dục trên phạm vi cả nước, đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số, không chỉ là yêu cầu mang tính nhân văn mà còn là yêu cầu mang tính chiến lược trong quản lý nhà nước và phát triển quốc gia.

3. Thực trạng phát triển giáo dục – đào tạo cho người dân tộc thiểu số và miền núi

3.1. Những kết quả đạt được

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên phát triển giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần mở rộng mạng lưới trường lớp, nâng cao tỷ lệ huy động học sinh đến lớp và từng bước cải thiện chất lượng nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số. Điều này đã thể hiện rõ vai trò điều tiết và bảo đảm công bằng xã hội của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ giáo dục công.

Mạng lưới cơ sở giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi từng bước được mở rộng và củng cố. Đến nay, hầu hết các xã vùng dân tộc thiểu số đã có trường mầm non và tiểu học; tỷ lệ xã có trường trung học cơ sở đạt mức cao hơn so với giai đoạn trước. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú được phát triển tại hầu hết các tỉnh miền núi, tạo điều kiện cho học sinh ở vùng sâu, vùng xa, vùng có địa hình chia cắt được học tập liên tục. Theo số liệu thống kê, cả nước hiện có trên 300 trường phổ thông dân tộc nội trú và hàng nghìn trường, điểm trường bán trú, góp phần giải quyết căn bản tình trạng học sinh phải đi học xa nhà1.

Về quy mô và tỷ lệ huy động học sinh dân tộc thiểu số ra lớp có chuyển biến tích cực. Tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số trong độ tuổi đi học mầm non và tiểu học ra lớp đạt trên 90%; phổ cập giáo dục tiểu học được duy trì bền vững, phổ cập giáo dục trung học cơ sở đạt kết quả tích cực ở nhiều địa phương. Công tác xóa mù chữ được đẩy mạnh, tỷ lệ người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết tiếng Việt tăng đáng kể so với giai đoạn trước2.

Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục vùng dân tộc thiểu số từng bước được tăng cường. Số lượng giáo viên là người dân tộc thiểu số được bổ sung qua các năm, góp phần nâng cao khả năng giao tiếp, hiểu biết văn hóa bản địa và hỗ trợ học sinh trong quá trình học tập. Việc tổ chức dạy học tiếng nói, chữ viết của một số dân tộc thiểu số như Khmer, Chăm, Êđê, Gia Rai… đã được triển khai ở một số địa phương, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và hỗ trợ nâng cao hiệu quả dạy học.

Giáo dục nghề nghiệp, đào tạo cử tuyển và dự bị đại học cho người dân tộc thiểu số đạt được những kết quả nhất định. Hằng năm, hàng nghìn học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số được hưởng chính sách cử tuyển, học bổng và hỗ trợ học tập, qua đó, hình thành đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.

3.2. Một số hạn chế và thách thức đặt ra

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn phát triển giáo dục – đào tạo cho người dân tộc thiểu số và miền núi vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, phản ánh những “điểm nghẽn” trong tiếp cận công bằng về giáo dục.

Thứ nhất, điều kiện cơ sở vật chất và môi trường học tập ở nhiều địa bàn còn khó khăn. Nhiều điểm trường lẻ vẫn thiếu phòng học kiên cố, thiết bị dạy học tối thiểu; điều kiện sinh hoạt của học sinh bán trú chưa bảo đảm. Ở một số địa phương vùng sâu, vùng xa, học sinh phải đi bộ nhiều kilômét để đến trường, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ chuyên cần và chất lượng học tập.

Thứ hai, chất lượng giáo dục giữa vùng dân tộc thiểu số và mặt bằng chung cả nước còn khoảng cách đáng kể. Theo số liệu điều tra, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số hoàn thành trung học phổ thông và tiếp tục học lên giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học thấp hơn nhiều so với học sinh người Kinh. Tình trạng bỏ học sớm vẫn xảy ra, nhất là ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông, do áp lực kinh tế gia đình và hạn chế về điều kiện học tập.

Thứ ba, đội ngũ giáo viên còn thiếu và chưa đồng bộ về chất lượng. Ở nhiều địa phương, thiếu giáo viên dạy các môn chuyên biệt; giáo viên có năng lực dạy học song ngữ và am hiểu sâu về văn hóa dân tộc còn hạn chế. Rào cản ngôn ngữ vẫn là nguyên nhân quan trọng khiến một bộ phận học sinh dân tộc thiểu số gặp khó khăn trong tiếp thu kiến thức, dẫn đến học lực yếu và nguy cơ bỏ học.

Thứ tư, hiệu quả gắn kết giữa giáo dục – đào tạo với nhu cầu việc làm và sinh kế tại chỗ còn thấp. Giáo dục nghề nghiệp cho người dân tộc thiểu số chưa thực sự sát với điều kiện kinh tế – xã hội địa phương; một bộ phận người học sau đào tạo chưa tìm được việc làm phù hợp hoặc không quay trở về địa phương làm việc, làm giảm hiệu quả đầu tư của Nhà nước và tác động tích cực của giáo dục đối với phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số.

Những hạn chế nêu trên cho thấy, mặc dù đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, song giáo dục – đào tạo cho người dân tộc thiểu số và miền núi vẫn đứng trước yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa về chính sách và phương thức quản lý nhằm bảo đảm tiếp cận công bằng và nâng cao chất lượng giáo dục trong thời gian tới.

4. Giải pháp thúc đẩy tiếp cận công bằng về giáo dục cho người dân tộc thiểu số

Để bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục một cách công bằng, thực chất và bền vững cho người dân tộc thiểu số trong bối cảnh phát triển mới, việc triển khai các giải pháp cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia, đồng thời xuất phát từ đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, văn hóa và ngôn ngữ của từng vùng, từng dân tộc. Các giải pháp không chỉ nhằm khắc phục những hạn chế hiện nay mà còn hướng tới nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong tổ chức thực hiện chính sách giáo dục dân tộc.

Một là, tăng cường đầu tư nguồn lực cho giáo dục vùng dân tộc thiểu số theo hướng có trọng tâm, trọng điểm

Thực tiễn cho thấy, một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục của người dân tộc thiểu số là sự thiếu hụt về cơ sở vật chất, điều kiện học tập và môi trường giáo dục. Do đó, Nhà nước cần tiếp tục ưu tiên bố trí ngân sách cho giáo dục – đào tạo ở các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo, phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội XIII, XIV của Đảng.

Việc đầu tư cần được thực hiện theo hướng tập trung, có chọn lọc, ưu tiên các hạng mục thiết yếu như kiên cố hóa trường, lớp học; xây dựng và nâng cấp ký túc xá, nhà bán trú; bảo đảm điều kiện ăn, ở, sinh hoạt và học tập an toàn cho học sinh dân tộc thiểu số. Đồng thời, cần lồng ghép và điều phối hiệu quả các nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 với các chương trình, dự án giáo dục khác, khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực, qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư công.

Hai, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu giáo dục vùng dân tộc thiểu số.

Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là yếu tố then chốt quyết định chất lượng giáo dục. Trước thực trạng thiếu giáo viên và hạn chế về năng lực dạy học trong môi trường đa văn hóa, cần có chính sách đồng bộ trong đào tạo, tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên và cán bộ quản lý là người dân tộc thiểu số. Đồng thời, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ sử dụng, gắn trách nhiệm đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực tại địa phương. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế đãi ngộ về tiền lương, phụ cấp, nhà ở công vụ và điều kiện làm việc để thu hút, giữ chân giáo viên yên tâm công tác lâu dài ở vùng khó khăn. Công tác bồi dưỡng chuyên môn cần tập trung vào năng lực dạy học song ngữ, kỹ năng sư phạm trong môi trường đa văn hóa, hiểu biết phong tục, tập quán của đồng bào, qua đó giảm rào cản ngôn ngữ và nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức của học sinh.

Ba, đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp với đặc thù vùng dân tộc thiểu số.

Chương trình và phương pháp giáo dục cần được điều chỉnh theo hướng linh hoạt, lấy người học làm trung tâm, phù hợp với điều kiện sống, ngôn ngữ và văn hóa của từng dân tộc, từng địa bàn. Việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới cần đặc biệt chú trọng đến đối tượng học sinh dân tộc thiểu số, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả trong thực tiễn. Trong đó, cần tăng cường dạy tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số ngay từ bậc mầm non, đồng thời mở rộng dạy và học tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số theo quy định của Luật Giáo dục. Việc kết hợp hài hòa giữa tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ không chỉ góp phần nâng cao chất lượng học tập mà còn bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường trải nghiệm, thực hành, gắn kiến thức với đời sống sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng, giúp người học thấy rõ ý nghĩa và giá trị thực tiễn của việc học tập.

Bốn là, gắn giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số.

Một trong những hạn chế lớn hiện nay là hiệu quả gắn kết giữa giáo dục – đào tạo với nhu cầu việc làm và sinh kế tại chỗ còn thấp, làm giảm động lực học tập của người học và gia đình. Do đó, cần tăng cường liên thông giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và thị trường lao động địa phương, phù hợp với định hướng phát triển nguồn nhân lực trong các nghị quyết và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.

Các địa phương cần phát triển các mô hình đào tạo nghề ngắn hạn, đào tạo vừa học vừa làm, tập trung vào những ngành nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên, lợi thế và nhu cầu phát triển của địa phương như nông nghiệp ứng dụng phù hợp địa hình, chế biến nông sản, du lịch cộng đồng, thủ công truyền thống. Việc đào tạo nghề cần gắn với hỗ trợ khởi nghiệp, tạo việc làm tại chỗ, qua đó góp phần nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững và củng cố niềm tin của người dân đối với giáo dục.

Năm, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và phát huy vai trò của cộng đồng trong phát triển giáo dục dân tộc thiểu số.

Bên cạnh vai trò chủ đạo của Nhà nước, cần đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục theo đúng tinh thần các nghị quyết của Đảng, huy động sự tham gia của gia đình, cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong hỗ trợ giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số. Việc xã hội hóa không chỉ nhằm bổ sung nguồn lực tài chính, mà còn góp phần nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của giáo dục và trách nhiệm của các chủ thể trong thực hiện chính sách.

Cần phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín và các thiết chế văn hóa, tôn giáo trong vận động học sinh đến trường và duy trì việc học. Đồng thời, khuyến khích các mô hình học bổng, hỗ trợ học tập, “nuôi em đến trường” phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình – xã hội sẽ tạo môi trường giáo dục thân thiện, bền vững, qua đó thúc đẩy tiếp cận công bằng về giáo dục cho người dân tộc thiểu số.

5. Kết luận

Thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng khẳng định phát triển giáo dục – đào tạo cho người dân tộc thiểu số và miền núi là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, gắn với phát triển con người và nguồn nhân lực tại chỗ nhằm bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc; đồng thời yêu cầu tăng cường chính sách ưu tiên, đầu tư có trọng tâm và tổ chức giáo dục phù hợp với đặc thù văn hóa, ngôn ngữ và điều kiện kinh tế – xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó góp phần phát triển bền vững và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chú thích:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Báo cáo “Giáo dục Dân tộc 2023”. Hà Nội.
2. Tổng cục Thống kê & Ủy ban Dân tộc (2020). Theo kết quả điều tra, thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
2. Bộ Chính trị (2019). Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện công tác dân tộc trong tình hình mới.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Công văn số 4193/BGDĐT-GDDT ngày 24/9/2021 về báo cáo ban hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác dân tộc.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
6. Quốc hội nước (2013). Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
7. Quốc hội (2019). Luật Giáo dục năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
8. Ủy ban Dân tộc (2019). Kết quả điều tra kinh tế – xã hội 53 dân tộc thiểu số.