ThS. Nguyễn Văn Tình
NCS của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã có bước tư duy đột phá về nguyên tắc, mục tiêu, nhiệm vụ, phương hướng và giải pháp triển khai chính sách đối ngoại trên cơ sở “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”. Thực tiễn đổi mới tư duy đối ngoại ở Việt Nam được thể hiện từ nhận thức bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, yêu cầu cấp bách cần phải hoạch định, ban hành các chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn nhằm giải quyết nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với tình hình mới. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã triển khai nhiều chính sách đối ngoại phù hợp và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển để công tác đối ngoại ngày càng hoàn thiện.
Từ khóa: Thực trạng; đổi mới tư duy; tư duy đối ngoại; bài học kinh nghiệm; chính sách đối ngoại; thời kỳ đổi mới.
1. Đặt vấn đề
Thành công của sự nghiệp đổi mới là kết quả của quá trình tìm tòi, trải nghiệm, liên tục đổi mới và hoàn thiện tư duy của Đảng trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh. Sau 40 năm đổi mới, tư duy đối ngoại của Đảng, Nhà nước đã có bước phát triển mạnh mẽ, đột phá và được nâng lên tầm cao mới, từ nhận thức về cục diện thế giới, xác định mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ, ưu tiên và phương hướng triển khai chính sách đối ngoại. Đảng đã nhận thức đúng đắn và giải quyết hiệu quả các vấn đề nảy sinh trong hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước và đối ngoại nhân dân; từng bước hoàn thiện tư duy hoạch định chính sách và thực tiễn triển khai phù hợp với bối cảnh quốc tế và tình hình đất nước. Quá trình đổi mới và vận dụng tư duy đối ngoại của Đảng trong thực tiễn đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc, góp phần hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới nói chung và nâng tầm công tác đối ngoại nói riêng.
2. Thực trạng đổi mới tư duy đối ngoại thời kỳ đổi mới
Tại Đại hội VI (tháng 12/1986), Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, coi đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Trên cơ sở nhận thức đặc điểm nổi bật của tình hình thế giới: “Một đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa các lực lượng sản xuất”1, Đại hội VI nhận định: “xu thế mở rộng, phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế – xã hội khác nhau, cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta”2. Từ đó, Đảng chủ trương “…phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới…”3 và “…đặc biệt coi trọng kết hợp các yếu tố dân tộc và quốc tế, các yếu tố truyền thống và thời đại, sử dụng tốt mọi khả năng mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật với bên ngoài phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội…”4; đồng thời, đề ra yêu cầu “… mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại…; tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoa học – kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi”5.
Để phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế đất nước, Đảng đã có bước chuyển quan trọng trong tư duy đối ngoại, bắt đầu từ nhận diện những cơ hội và nguy cơ, thách thức trong bối cảnh mới, qua đó, đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, xác định diện đối tác cần tăng cường hợp tác nằm ngoài hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc. Từ đó, Đảng xác định ngoài đặt nền tảng của chiến lược kinh tế đối ngoại vào sự gắn bó với cộng đồng xã hội chủ nghĩa, trước hết với Liên Xô, “…phấn đấu để có những quan hệ ngày càng năng động về kinh tế và khoa học – kỹ thuật với các khu vực khác trên thế giới. Ngoài hoạt động xuất, nhập khẩu, với những chính sách và thể chế mới, chúng ta sẽ mở thêm quan hệ hợp tác với nhiều nước đang phát triển, với một số nước hoặc tổ chức tư nhân trong thế giới tư bản chủ nghĩa”6.
Nghị quyết 32-NQ/TW của Bộ Chính trị tháng 7/1986 đã chủ trương chuyển từ “đối đầu” sang “cùng tồn tại hòa bình”. Nghị quyết 13-NQ/TW tháng 5/1988 của Bộ Chính trị chủ trương “thêm bạn”, “bớt thù”, đổi mới quan hệ với Liên Xô và các nước anh em Lào, Campuchia, chủ động tạo điều kiện bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, thúc đẩy một Đông Nam Á hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác; đồng thời, tranh thủ Mỹ và từng bước mở rộng quan hệ với các nước phương Tây. Chủ trương này nhằm phục vụ mục tiêu thỏa khỏi tình trạng bị bao vây, cấm vận và mở rộng quan hệ đối ngoại.
Tiếp đó, Đại hội VII đã xác định: “Nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chúng ta chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” và “Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”7.
Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (tháng 6/1992) thông qua phương châm đối ngoại mới, lấy lợi ích quốc gia dân tộc chân chính làm mục tiêu, kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đồng thời đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và tự cường. Như vậy, đường lối đối ngoại của Việt Nam từ Đại hội VI đến Đại hội VII đã có chuyển biến lớn trong nhận thức: chuyển từ “đường lối đối ngoại mang đậm ý thức hệ” sang “đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế”8. Bắt đầu từ Đại hội VII, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam đã được triển khai mạnh mẽ và mang lại những kết quả quan trọng.
Đại hội lần thứ VIII (tháng 6/1996), tổng kết chặng đường 10 năm đổi mới, Đảng rút ra một trong sáu bài học kinh nghiệm là “…Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại…”9, khẳng định một số luận điểm mới, đó là: “phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh và đối ngoại”10; “tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”; “mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, thông qua thương lượng để tìm những giải pháp phù hợp giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấp, bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển”11. Lần đầu tiên cụm từ “đối ngoại nhân dân” được nhắc đến với nội hàm cụ thể: “Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển”12.
Từ năm 1995, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ, các trung tâm kinh tế lớn của thế giới, quan hệ hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như IMF, WB, ADB. Đến năm 2000, Việt Nam đã là thành viên của hầu hết các diễn đàn/tổ chức khu vực và quốc tế quan trọng từ Liên hợp quốc đến ASEAN, APEC, Cộng đồng Pháp ngữ.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (tháng 4/2001) đề ra chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực. Trên cơ sở những thành tựu sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, nhận thức sâu sắc và phản ánh kịp thời sự thay đổi tư duy về bối cảnh quốc tế, thế và lực của đất nước, Đại hội IX lần đầu tiên đưa ra khái niệm đối tác trong chính sách đối ngoại, phát triển phương châm được nêu tại Đại hội VII “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”13.
Khái niệm “đối tác tin cậy” vừa thể hiện tính trách nhiệm cao hơn của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, vừa cho thấy tính bình đẳng và cùng có lợi trong các mối quan hệ hợp tác mà Việt Nam sẵn sàng thiết lập. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh “là bạn với tất cả các nước” sang “là bạn, là đối tác tin cậy của các nước” đã cho thấy tính chọn lọc, có trọng tâm, trọng điểm trong quyết tâm của Việt Nam nhằm thiết lập và tăng cường quan hệ đối tác14. Đây là một trong những bước phát triển về chất trong tiến trình triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) nêu hai quan điểm, chủ trương quan trọng về mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.Đó là, “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời, mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” và “đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững”15.
Đại hội XI, xác định: “… thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước;… là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng động quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”16. Đại hội XI khẳng định mục tiêu của đối ngoại là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”17. Từ đó, Đảng ta đề ra các chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác” được thông qua tại Đại hội X của Đảng thành “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”18. Có thể thấy, với chủ trương này, hội nhập quốc tế được mở rộng từ kinh tế sang các lĩnh vực khác chính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa – xã hội.
Đại hội XI cũng chính thức đưa ra phương châm cho công tác đối ngoại nhân dân: “coi trọng và nâng cao hiệu quả của công tác ngoại giao nhân dân”19. Tiếp đó, Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Hội nhập quốc tế” nhất quán khẳng định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là sự nghiệp của toàn dân. Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 06/7/2011 của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới” nêu hai quan điểm quan trọng, đó là “đối ngoại nhân dân là bộ phận cấu thành của công tác đối ngoại chung của Đảng và Nhà nước.
Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng (tháng 01/2016) bổ sung phương hướng, nhiệm vụ: “nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại đa phương” và “Mở rộng, làm sâu sắc hơn và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại giao nhân dân”20. Tiếp đó, Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị (Khóa XII) nêu rõ nhiệm vụ tăng cường và nâng cao hiệu quả đối ngoại Đảng trong tình hình mới. Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 08/8/2018 của Ban Bí thư (Khóa XII) về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 đã chuyển mạnh tư duy đối ngoại đa phương từ “tham dự” sang “chủ động tham gia” và phát huy vai trò của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế
Tại Đại hội XIII của Đảng (2021), trên cơ sở xác định định hướng đối ngoại giai đoạn 2021- 2030 là: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả…”21, Đảng chỉ rõ, về đối ngoại đa phương cần thực hiện nhiệm vụ: “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”22. Trong đó nội hàm, “toàn diện” thể hiện triển khai đối ngoại của nước ta qua các chủ thể, đối tượng và các địa bàn, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, quốc phòng, an ninh…; nội hàm “hiện đại” là trên cơ sở kế thừa truyền thống ngoại giao Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh, vì lợi ích quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi, thích ứng linh hoạt trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và khu vực.
Tại Đại hội XIV (2026), tư duy đối ngoại Đảng tiếp tục có bước phát triển vượt bậc khi xác định đối ngoại và hội nhập quốc tế cùng với quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”23 trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu tự chủ chiến lược và tự cường để hội nhập sâu rộng mà không lệ thuộc, đưa đối ngoại ngày càng “chuyên nghiệp” và “toàn diện” để tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế mới của đất nước. Trạng thái đối ngoại chuyển mạnh từ “tham gia” sang “kiến tạo”, sẵn sàng đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt tại các thể chế đa phương. Đảng xác định mọi hoạt động đối ngoại đều đặt người dân và doanh nghiệp ở vị trí trung tâm, lấy hiệu quả phục vụ các chủ thể này làm thước đo giá trị cao nhất24.
3. Thành tựu của đổi mới tư duy đối ngoại và thực tiễn triển khai
Quá trình phát triển tư duy đối ngoại thời kỳ đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, đóng góp chung vào sự nghiệp xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam tạo được cục diện đối ngoại thuận lợi nhất kể từ sau khi giải phóng thống nhất đất nước: từ chỗ bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành bạn và đối tác tin cậy của hầu hết các quốc gia, các trung tâm quyền lực và trung tâm kinh tế lớn, các tổ chức quốc tế; hội nhập ngày càng sâu rộng, có vai trò ngày càng quan trọng trong các tổ chức khu vực và toàn cầu; đã tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác của cộng đồng quốc tế thông qua khai thác hiệu quả lợi thế địa chiến lược, vị thế quốc tế của đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, an ninh quốc phòng…
Đối ngoại đã góp phần duy trì, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; phá vỡ thế bị cô lập, bao vây, cấm vận; đưa quan hệ với các nước và đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, nhất là tiếp tục thiết lập, mở rộng và củng cố mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với các đối tác có tầm quan trọng chiến lược với sự phát triển bền vững của đất nước. Đối ngoại cũng đã làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo, cùng quốc phòng và an ninh bảo vệ vững chắc an ninh chế độ từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; tham mưu cho Đảng, nhà nước xử lý các cuộc khủng hoảng, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; đóng góp tích cực, đầy trách nhiệm và mang tính xây dựng vào hòa bình, hợp tác; qua đó không ngừng nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia; xây dựng quan hệ đối tác toàn diện trở lên với 43 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược hoặc đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới thuộc nhóm G20 và tất cả các nước ASEAN. Đảng ta có quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, trong đó bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội có quan hệ với Quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và tổ chức nhân dân cũng đã triển khai đối ngoại thiết thực với 1.200 tổ chức nhân dân và đối tác nước ngoài. Đối ngoại quốc phòng, an ninh và đối ngoại chuyên ngành ngày càng mở rộng, đóng góp quan trọng vào kết quả đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân25.
Những thành tựu của đổi mới tư duy đối ngoại và thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới xuất phát từ sự lãnh đạo của Đảng dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa, phát huy truyền thống ngoại giao của cha ông để lại, những kinh nghiệm quý báu của Đảng ta đã được tích lũy qua hơn 96 năm lãnh đạo cách mạng. Đó là những yếu tố rất quan trọng được vận dụng thành công trong quá trình đổi mới tư duy đối ngoại trong 40 năm đổi mới đất nước.
Tuy nhiên, vẫn còn có những hạn chế, bất cập, như:
Một là, quá trình đổi mới tư duy đối ngoại đã có những bước phát triển vượt bậc, kịp thời giúp đất nước tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, khắc phục khó khăn và đạt nhiều thành tựu tích cực, quan trọng và có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, thực tế đôi khi Ta vẫn còn bị động, lúng túng trong xử lý các vấn đề phát triển mới của khu vực và quốc tế có tác động, ảnh hưởng cả trực tiếp và gián tiếp đến lợi ích, an ninh quốc gia Việt Nam; chưa khai thác triệt để thế và lực mới của đất nước nhằm phục vụ tốt hơn cho lợi ích an ninh và phát triển; chưa tận dụng triệt để, hiệu quả các xu thế phát triển mới của thế giới và xu hướng liên kết/tập hợp lực lượng hiện nay ở cấp độ quốc tế và khu vực.
Hai là, quan hệ với một số đối tác, trong đó có cả các đối tác chiến lược chiến lược, toàn diện chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của hai bên, chưa phát huy được hiệu quả đan xen lợi ích, tiềm năng, dư địa hợp tác, độ tin cậy chưa cao, một số vấn đề tồn tại, vướng mắc còn kéo dài; chưa có giải pháp căn bản, lâu dài cho giải quyết một số vấn đề phức tạp, nhạy cảm; khả năng định hướng, dẫn dắt trong một số cơ chế sát sườn với Việt Nam như ASEAN, hợp tác tiểu vùng chưa cao, chưa phát huy hết tinh thần chủ động, sáng tạo, chưa có nhiều sáng kiến và phân bổ nguồn lực để hiện thực hóa các mục tiêu sáng kiến.
Ba là, chưa thực sự gắn kết chặt chẽ hội nhập quốc tế và hội nhập về chính trị, quốc phòng, an ninh và các lĩnh vực khác. Năng lực hội nhập và khả năng hấp thụ (cải cách thể chế, môi trường đầu tư – kinh doanh…) chưa bắt kịp với quá trình hội nhập nhanh và sâu rộng thời gian qua. Hiệu quả triển khai hội nhập quốc tế vẫn chưa thực sự phản ánh đúng tiềm năng và nhu cầu thực tế của đất nước; việc thực hiện cam kết quốc tế chưa đầy đủ và đồng bộ; văn hóa thực thi khi tham gia hội nhập chưa cao.
Bốn là, công tác phối hợp giữa các ban, bộ, ngành trung ương và địa phương trong triển khai đối ngoại còn một số hạn chế. Việc xử lý một số vấn đề đối nội có trường hợp trở thành vấn đề đối ngoại; ưu tiên đối ngoại, trong đó có một số dự án kinh tế lớn liên quan đến các đối tác quan trọng chiến lược vẫn còn xảy ra sai phạm, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân và nguy cơ tác động trực tiếp đến quan hệ song phương.
Năm là, công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược phục vụ công tác đối ngoại của các cơ quan chức năng tham mưu có sự nỗ lực cải thiện rất lớn, song có lúc, có vấn đề Ta còn bị động, lúng túng, chưa thực sự đồng bộ, kịp thời và chưa tạo được sự đồng thuận nội bộ trong nhận thức và hành động. Công tác phối hợp, chia sẻ thông tin, đánh giá, nhận định tình hình và kiến nghị giữa đối nội và đối ngoại của các cơ quan chủ chốt làm công tác đối ngoại có lúc, có nơi chưa nhịp nhàng; một số cơ chế phối hợp còn hình thức, chung chung.
4. Những vấn đề đặt ra trong kỷ nguyên mới
Trước bối cảnh, tình hình mới, từ tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, trong nhận thức lý luận của Đảng về đối ngoại có nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết:
Thứ nhất, về tổng thể. Hệ thống quan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, trong đó có đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới đất nước đã hình thành những nét cơ bản, góp phần bổ sung, phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về quan hệ quốc tế, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và truyền thống ngoại giao đặc sắc của dân tộc ta. Đảng cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển, hoàn thiện nhận thức lý luận về định hướng xã hội chủ nghĩa, mục tiêu, bản chất của chủ nghĩa xã hội, nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung và lý luận về công tác đối ngoại nói riêng; các mối quan hệ lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, giữa quốc phòng – an ninh – đối ngoại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Thứ hai, về tư duy lý luận. Một số vấn đề tư duy lý luận về đối ngoại đã được đề cập, thể hiện trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, phát biểu chỉ đạo định hướng của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, cần tiếp tục được tổ chức nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện như: “ngoại giao cây tre”; ngoại giao cường quốc tầm trung; ngoại giao toàn diện; vấn đề tự chủ chiến lược; độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; lòng tin chiến lược trong quan hệ quốc tế hiện đại… Những vấn đề trên cần được tổ chức nghiên cứu thấu đáo, góp phần phát triển hệ thống tư duy lý luận của Đảng ta về đường lối đổi mới, trong đó có đường lối đối ngoại.
Thứ ba, tạo lập lòng tin chiến lược. Trong lĩnh vực đối ngoại và hợp tác quốc tế, vấn đề quan trọng hiện nay là phải thiết lập được lòng tin chiến lược đối với các nước, nhất là với Trung Quốc, Mỹ và các nước láng giềng. Phát triển quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với các nước theo phương châm: “Tăng cường đồng thuận, hạn chế bất đồng, hóa giải mâu thuẫn, triệt tiêu xung đột, ngăn chặn chiến tranh, không để lệ thuộc”. Có giải pháp chiến lược và giải pháp trước mắt nhằm củng cố quan hệ đặc biệt với Lào, quan hệ hợp tác nhiều mặt với Campuchia; quan hệ hợp tác toàn diện với Trung Quốc; phát huy vai trò cộng đồng ASEAN; tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ tích cực của Nga; khéo léo đan xen, điều tiết lợi ích chiến lược giữa các nước lớn. Hợp tác giải quyết hiệu quả vấn đề tranh chấp biển đảo; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng.
Thứ tư, về dự báo tình hình. Coi trọng các yếu tố tác động đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bao gồm cả yếu tố bên ngoài, yếu tố bên trong và dự báo các khả năng, tình huống bất lợi đe dọa đến lợi ích, an ninh quốc gia của Việt Nam.
5. Kết luận
Thực tiễn cho thấy, sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam luôn là một bộ phận trong tổng thể gắn liền với sự điều chỉnh chính sách chung thời kỳ Đổi mới. Đảng đã đổi mới tư duy đối ngoại với những bước điều chỉnh quan trọng trong nhận thức về tình hình thế giới, khu vực và quan hệ quốc tế, đối tượng, đối tác; cách tiếp cận trong hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại, xác định mục tiêu, tư tưởng chỉ đạo, phương châm, ưu tiên và các định hướng lớn… Đổi mới tư duy đối ngoại đã góp phần quan trọng giúp đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn trong phá thế bị bao vây cấm vận, đưa Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nâng cao vị thế, uy tín trên trường quốc tế, đồng thời rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu cho quá trình triển khai chính sách đối ngoại trong kỷ nguyên mới.
Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 10, 11, 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Phần I (Đại hội VI, VII, VIII, IX). H. NXB.Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 35, 32, 31, 32, 31-32, 164, 334, 655, 656, 718.
8. Sự phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại từ Đại hội VI đến Đại hội XIII. http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/bai-noi-bat/item/3746-su-phat-trien-nhan-thuc-cua-dang-cong-san-viet-nam-ve-doi-ngoai-tu-dai-hoi-vi-den-dai-hoi-xiii.html).
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 55. H. NXB.Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 358 – 362.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 119.
14. Phạm Bình Minh (chủ biên) (2011). Đường lối, chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới (sách tham khảo). H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 111.
15, 20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới. Phần II (Đại hội X, XI, XII, XII). H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 123, 690.
16, 17, 18, 19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 83 – 84, 83, 46, 138.
21, 22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB.Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 331, 162.
23, 24, 25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng (Tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng bộ cấp xã, cấp tỉnh và tương đương). H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 164 – 165.
Tài liệu tham khảo:
4. Đổi mới tư duy dự báo chiến lược trong hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/, ngày 10/5/2024.
5. Dấu ấn đổi mới tư duy đối ngoại qua các Văn kiện Đại hội Đảng trong 40 năm đổi mới. https://songoaivu.hatinh.gov.vn/dau-an-doi-moi-tu-duy-doi-ngoai-qua-cac-van-kien-dai-hoi-dang-trong-40-nam-doi-moi-1769398484.html].



