Chuyển đổi số trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả

PGS.TS. Nguyễn Hoàng Hiển
Học viện Khoa học xã hội
ThS. Nguyễn Đình Quý
Văn phòng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Cơ sở tại Huế

(Quanlynhanuoc.vn) – Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định, chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là “động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”. Bài viết phân tích những vấn đề chuyển đổi số quốc gia và đưa ra giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả chiến lược chuyển đổi số quốc gia.

Từ khóa: Chuyển đổi số; chiến lược; cung ứng dịch vụ; hạ tầng số; dữ liệu số; hiện đại; hiệu quả.

1. Đặt vấn đề

Dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 và yêu cầu xây dựng Nhà nước phục vụ, chuyển đổi số đã trở thành mệnh lệnh tất yếu để hiện đại hóa quản trị quốc gia. Bên cạnh những thành tựu bước đầu, thực tiễn triển khai tại Việt Nam đến năm 2025 vẫn đối mặt với các “điểm nghẽn” về sự phân mảnh hạ tầng, hạn chế trong chia sẻ dữ liệu và các thách thức an ninh phi truyền thống. Đáng chú ý, phần lớn nghiên cứu hiện có chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kỹ thuật mà chưa làm rõ mối quan hệ giữa thể chế, mô hình tổ chức với hiệu quả tạo lập giá trị công. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả.

2. Một số vấn đề chung và nội dung chuyển đổi số trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả

2.1. Khái niệm chuyển đổi số

Chuyển đổi số được hiểu là quá trình chuyển dịch tổng thể và toàn diện hoạt động của cá nhân và tổ chức từ môi trường thực sang môi trường số. Đây là một tiến trình phức tạp, dài hạn, đòi hỏi chiến lược kết nối chặt chẽ giữa dữ liệu, quy trình, công nghệ và con người. Do đó, để đạt hiệu quả cao nhất, quá trình này cần nhận diện rõ đặc thù của từng lĩnh vực để có bước đi và lộ trình phù hợp.

2.2. Bản chất của chuyển đổi số

Về mặt kỹ thuật, Siebel xác định bản chất chuyển đổi số là sự hội tụ của bốn công nghệ đột phá: điện toán đám mây, dữ liệu lớn (Big Data), internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI)1. Quá trình này khởi đầu bằng việc số hóa các thực thể hữu hình để kiến tạo không gian mạng, nơi các dữ liệu được kết nối và xử lý nhằm tối ưu hóa hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, dưới lăng kính quản trị công, chuyển đổi số không đơn thuần là việc áp dụng công nghệ mà là quá trình biến đổi toàn diện về dịch vụ công, quy trình nghiệp vụ và văn hóa tổ chức2. Mục tiêu là nâng cao năng lực điều hành và kiến tạo giá trị công thay vì chỉ dừng lại ở các chỉ số kỹ thuật.

Bản chất chuyển đổi số trong quản trị nhà nước là quá trình tái thiết kế căn bản phương thức vận hành dựa trên dữ liệu số và nền tảng số. Sự chuyển dịch này đòi hỏi thay đổi tư duy từ quản lý truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu, trong đó công nghệ đóng vai trò công cụ, còn năng lực quản trị triển khai, sự phối hợp liên ngành và việc tích hợp các giá trị cốt lõi, như: tính minh bạch, trách nhiệm giải trình đóng vai trò quyết định hiệu quả cuối cùng.

Chuyển đổi số bao gồm ba cấp độ:

(1) Số hóa là bước chuyển đổi thông tin từ dạng vật lý sang định dạng số nhằm tạo lập dữ liệu số mà máy tính có thể đọc và xử lý. Trong quản trị công, đây là điều kiện tiên quyết để hình thành kho dữ liệu nền tảng và chuẩn hóa hồ sơ, biểu mẫu. Tuy nhiên, cấp độ này mới chỉ dừng lại ở thay đổi kỹ thuật lưu trữ, chưa tác động sâu đến thể chế hay mô hình quản trị.

(2) Xác lập mô hình hoạt động số tập trung vào việc tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ dựa trên công nghệ số và dữ liệu số. Trọng tâm là thiết kế quy trình số “xuyên suốt”, thực hiện nguyên tắc “khai báo một lần” và liên thông dữ liệu liên ngành. Yêu cầu cốt lõi tại cấp độ này là chuẩn hóa dữ liệu và quản trị sự thay đổi để tránh bẫy “tin học hóa quy trình thủ công”, gây lãng phí nguồn lực mà không nâng cao hiệu quả thực tế.

(3) Chuyển đổi là cấp độ cao nhất, đánh dấu sự thay đổi căn bản về phương thức vận hành và cung ứng dịch vụ công hướng tới hiệu quả thực thi và giá trị công. Lúc này, dữ liệu số trở thành “hạ tầng ra quyết định”, nền tảng số đóng vai trò “hạ tầng phối hợp”. Quá trình này đòi hỏi sự đổi mới toàn diện từ tư duy lãnh đạo, văn hóa tổ chức đến năng lực thực thi, biến công nghệ thành động lực kiến tạo mô hình quản trị quốc gia hiện đại.

2.3. Nội dung chuyển đổi số trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả

Dưới góc nhìn quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, chuyển đổi số cần được tiếp cận như một quá trình cải cách tổng thể về thể chế, tổ chức và phương thức vận hành của Nhà nước, trong đó công nghệ số là “đòn bẩy” để tái thiết kế cách Nhà nước điều hành và phục vụ. Chuyển đổi số cần nhấn mạnh việc chuẩn hóa và quản trị dữ liệu, tích hợp – liên thông hệ thống, thiết kế lại quy trình theo hướng số hóa từ đầu đến cuối, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; đồng thời, đo lường được kết quả thông qua các chỉ tiêu đầu ra và tác động, như: thời gian xử lý, chi phí tuân thủ, mức độ hài lòng, mức độ minh bạch, chất lượng ra quyết định. Với cách tiếp cận này, nội dung chuyển đổi số quốc gia có thể được hệ thống hóa thành 6 nhóm nội dung cụ thể sau:

(1) Thể chế, chiến lược và quản trị triển khai: xây dựng khung chính sách, cơ chế điều phối, phân công, phân cấp rõ ràng, gắn trách nhiệm người đứng đầu và quản trị theo kết quả.

(2) Hạ tầng số và nền tảng số: phát triển viễn thông băng rộng, điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu; các nền tảng tích hợp – chia sẻ, định danh – xác thực, nền tảng dùng chung theo kiến trúc chính phủ số.

(3) Dữ liệu số và quản trị dữ liệu: hình thành các cơ sở dữ liệu nền tảng, chuẩn hóa – liên thông – chia sẻ dữ liệu, dữ liệu mở; tăng cường năng lực khai thác dữ liệu phục vụ dự báo, ra quyết định và giám sát.

(4) Dịch vụ số và vận hành số trong khu vực công: thiết kế lại quy trình, số hóa đầu – cuối, cung cấp dịch vụ công số lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; đổi mới phương thức điều hành trên môi trường số và đo lường hiệu quả phục vụ.

(5) An toàn, an ninh mạng và niềm tin số: bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu, quản trị rủi ro; tạo niềm tin để người dân, doanh nghiệp tham gia sâu vào môi trường số.

(6) Hệ sinh thái khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế: thúc đẩy nghiên cứu – phát triển và ứng dụng công nghệ số, khuyến khích thử nghiệm có kiểm soát, nuôi dưỡng văn hóa đổi mới trong khu vực công và doanh nghiệp; đồng thời, mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp thu tri thức, tiêu chuẩn và mô hình quản trị tiên tiến.

3. Thực trạng chuyển đổi số trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả ở Việt Nam

Thứ nhất, về thể chế, chiến lược và quản trị triển khai.

Tiến trình chuyển đổi số ở Việt Nam giai đoạn vừa qua thể hiện sự thống nhất từ cấp “chủ trương – chiến lược” đến “chương trình – mục tiêu”. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về chủ động tham gia cách mạng công nghiệp 4.0 đặt nền tảng tư duy, nhấn mạnh vai trò của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như động lực phát triển. Tiếp nối và nâng tầm, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định chuyển đổi số là cuộc cách mạng toàn diện, cần triển khai quyết liệt, đồng bộ và lâu dài; đồng thời, nhấn mạnh các điều kiện nền tảng, như: thể chế, hạ tầng số, dữ liệu, nhân lực và an ninh, an toàn thông tin, hướng đến phương thức quản trị hiện đại, hiệu quả và dựa trên bằng chứng.

Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã cụ thể hóa bằng các văn bản quan trọng, như: Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia theo ba trụ cột chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 định hình chuyển dịch từ “ứng dụng công nghệ” sang “vận hành số”, đặt trọng tâm tái thiết kế dịch vụ dựa trên dữ liệu liên thông và trải nghiệm người dùng; Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 nhấn mạnh vai trò Nhà nước kiến tạo trong phát triển kinh tế, xã hội số; theo đó, ngày 25/3/2025, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 292/QĐ-BKHCN về khung kiến trúc chính phủ số Việt Nam, phiên bản 4.0, tạo cơ sở tăng kết nối – chia sẻ dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và thích ứng mô hình tổ chức trung ương, tỉnh, xã.

Về quản trị triển khai, kỷ luật thực thi được tăng cường thông qua cơ chế “cảnh báo sớm” và quy trách nhiệm; Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06) phát huy vai trò người đứng đầu và phương pháp tổ chức theo nguyên tắc “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ kết quả/sản phẩm, rõ thẩm quyền), qua đó, thúc đẩy tính nhất quán trong điều phối liên ngành.

Thứ hai, về hạ tầng số và nền tảng số.

Hạ tầng số và nền tảng số đã có bước phát triển nhanh, tạo tiền đề cho chuyển đổi số trong quản trị quốc gia. Về hành lang pháp lý, Luật Viễn thông sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 mở rộng không gian phát triển từ hạ tầng viễn thông sang hạ tầng số, thừa nhận các dịch vụ mới như trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây.

Về hạ tầng viễn thông và Internet, đến tháng 12/2025, tỷ lệ phủ sóng 5G đạt 58,9% dân số; đưa vào hoạt động thêm 3 tuyến cáp quang biển, nâng tổng dung lượng thiết kế lên 198 Tbps; 26% người dùng có khả năng sử dụng tốc độ trên 1Gb/s; tốc độ băng rộng cố định vào Top 10 thế giới và tỷ lệ IPv6 thuộc nhóm cao trong ASEAN3. Quy mô hạ tầng 5G tăng nhanh với 16.737 trạm, phủ sóng khoảng 39,52% dân số có khả năng tiếp cận4; hạ tầng trung tâm dữ liệu hình thành rõ nét với 41 data center thương mại, tổng công suất thiết kế 221 MW5.

Về nền tảng số dùng chung, nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP) hoàn thành kết nối 100% bộ, ngành, địa phương; riêng tháng 11/2025 ghi nhận 106,5 triệu giao dịch, bình quân 3,6 triệu lượt chia sẻ/ngày, góp phần thay thế phương thức xác minh thủ công6.

Thứ ba, về dữ liệu số và quản trị dữ liệu số.

Dữ liệu số ngày càng khẳng định vai trò trụ cột trong chuyển đổi số quốc gia, thể hiện qua việc hình thành khung thể chế dữ liệu và mở rộng kết nối – chia sẻ phục vụ cải cách thủ tục hành chính và điều hành. Giai đoạn 2021 – 2025, cùng với Luật Dữ liệu năm 2024 và các văn bản hướng dẫn, chiến lược dữ liệu quốc gia, thể chế dữ liệu được củng cố theo hướng khắc phục “cát cứ dữ liệu” và thúc đẩy khai thác dữ liệu số như tư liệu sản xuất quan trọng.

Đến hết năm 2025, danh mục có 10 cơ sở dữ liệu quốc gia, trong đó 5 cơ sở dữ liệu quốc gia hoàn thành khai thác, 3 đang triển khai và 2 có kế hoạch triển khai; đồng thời, tổng số cơ sở dữ liệu dùng chung của bộ, ngành, địa phương đạt hơn 3.030 cơ sở dữ liệu7. Quy mô giao dịch qua NDXP tăng mạnh, từ 11 triệu giao dịch (2020) lên 1.047 triệu (2024), tổng tích lũy gần 3,3 tỷ giao dịch; riêng 5 tháng đầu năm 2025 bình quân 3,4 triệu giao dịch/ngày và giai đoạn 01/01 – 31/10/2025 đạt 1,18 tỷ giao dịch cho thấy, nhu cầu khai thác dữ liệu phục vụ liên thông và đơn giản hóa thủ tục tăng nhanh8.

Thứ tư, về dịch vụ số và vận hành số trong khu vực công.

Dịch vụ số và vận hành số của khu vực công đạt kết quả rõ nét, phản ánh xu hướng chuyển từ “cung cấp dịch vụ điện tử” sang tổ chức vận hành hành chính trên môi trường số. Cổng Dịch vụ công quốc gia tiếp tục đóng vai trò “một cửa số” khi đã kết nối với 151 hệ thống thông tin/cơ sở dữ liệu, tích hợp 4.788 thủ tục hành chính, đồng bộ hơn 590 triệu hồ sơ, tiếp nhận hơn 80 triệu hồ sơ trực tuyến, và ghi nhận hơn 33,9 triệu giao dịch thanh toán trực tuyến thành công; đồng thời, kết nối thông suốt với 34/34 hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh. Năm 2024, mức hài lòng về tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính đạt 95,23% theo bộ chỉ số phục vụ trên Cổng dịch vụ công quốc gia9.

Về vận hành số, các hệ thống dùng chung góp phần thay đổi tác phong làm việc và tăng hiệu quả phối hợp. Hệ thống e-Cabinet đã phục vụ 139 hội nghị/phiên họp, xử lý 3.788 phiếu lấy ý kiến, thay thế hơn 1,2 triệu hồ sơ, tài liệu giấy. Việc tích hợp định danh số trên VNeID hỗ trợ truy cập dịch vụ công thuận lợi, ghi nhận hơn 97 triệu lượt đăng nhập10, góp phần giảm yêu cầu khai lại thông tin đã được xác thực.

Thứ năm, về an toàn, an ninh mạng và niềm tin số.

An toàn, an ninh mạng và niềm tin số ngày càng được xác lập như điều kiện nền tảng để chuyển đổi số được xã hội chấp nhận và tạo giá trị công bền vững. Năng lực an toàn thông tin quốc gia được cải thiện khi Việt Nam duy trì thứ hạng 1711 trên bản đồ an toàn mạng quốc tế, phản ánh nỗ lực tăng cường năng lực phòng vệ, giám sát và chuẩn hóa yêu cầu an toàn trong triển khai các nền tảng, hệ thống phục vụ người dân. Đồng thời, thực tiễn triển khai cho thấy, niềm tin số phụ thuộc trực tiếp vào trải nghiệm ổn định, an toàn và minh bạch của dịch vụ. Vì vậy, bảo đảm an ninh mạng cần được đầu tư về hạ tầng dự phòng, quy trình sao lưu – diễn tập ứng phó và nguồn nhân lực tại chỗ, gắn với cơ chế phối hợp liên ngành trong rà soát và duy trì an toàn thường xuyên12.

Đối với lĩnh vực thể chế bảo vệ dữ liệu, định hướng tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư tiếp tục được quan tâm, cùng xu hướng triển khai an toàn thông tin theo quản trị cấp độ và vận hành năng lực chuyên trách (SOC, rà quét, diễn tập…), nhất là đối với hệ thống giải quyết thủ tục hành chính và các cơ sở dữ liệu trọng yếu.

Thứ sáu, về hệ sinh thái khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế.

Hệ sinh thái khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế được củng cố, góp phần tạo “nguồn cung” tri thức và công nghệ cho chuyển đổi số. Năm 2025, Quốc hội ban hành Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Chính phủ ban hành Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; đồng thời, có hướng dẫn cơ chế tài chính – kế hoạch để triển khai nhiệm vụ cấp bách theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, qua đó, tạo cơ sở bố trí nguồn lực cho khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tiếp tục được củng cố cả về vị thế và mạng lưới. Việt Nam năm 2025 xếp hạng 44/139 theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII); hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo đạt vị trí 55 toàn cầu, đứng thứ 5 ASEAN. Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) bảo trợ thành lập 10 mạng lưới đổi mới sáng tạo tại 22 quốc gia/vùng lãnh thổ với hơn 2.000 thành viên13; đồng thời, hình thành 05 mạng lưới chuyên ngành (AI, bán dẫn, lượng tử, hàng không – vũ trụ, an ninh mạng), góp phần tăng kết nối nghiên cứu – đào tạo – chuyển giao.

Hợp tác quốc tế có xu hướng chủ động và có trọng tâm, gắn với công nghệ chiến lược và mục tiêu tự chủ công nghệ, thể hiện qua phối hợp với Hàn Quốc xây dựng kế hoạch hành động 2026 – 2030, tham gia sáng kiến AI của APEC, mở rộng hợp tác trong ASEAN và thúc đẩy tiến trình đàm phán Hiệp định khung kinh tế số (DEFA)14.

Bên cạnh các kết quả đạt được, chuyển đổi số trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả còn những hạn chế như sau:

Một là, một số quy trình triển khai dự án công nghệ cao vẫn gặp vướng mắc do cơ chế lựa chọn nhà thầu và thủ tục đấu thầu chưa linh hoạt đối với sản phẩm công nghệ thông tin có tính sáng tạo, khó định giá hoặc ít nhà cung cấp, làm kéo dài tiến độ và giảm tính kịp thời của đổi mới. Bên cạnh đó, mức độ đồng đều về năng lực điều phối liên ngành và chất lượng thực thi giữa các bộ, ngành, địa phương chưa cao, ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai chiến lược chuyển đổi số trên thực tế.

Hai là, vẫn còn tình trạng phân tán nền tảng do các bộ, ngành hiện đang triển khai số lượng lên tới 250 nền tảng15, trong đó còn một phần đang triển khai hoặc chưa có kế hoạch cụ thể.

Ba là, mức độ hoàn thiện cơ sở dữ liệu chưa đồng đều giữa các bộ, ngành, địa phương; một số cơ sở dữ liệu quốc gia theo kế hoạch vẫn thiếu nền tảng tập trung hoặc chưa triển khai thực tế, làm giảm khả năng kết nối đồng bộ. Bên cạnh đó, dữ liệu số trong nhiều trường hợp chưa được chuẩn hóa theo mô hình dữ liệu thống nhất, chưa gắn chặt với quy trình nghiệp vụ và chưa bảo đảm chất lượng (đúng, đủ, kịp thời, nhất quán). Ngoài ra, khả năng tái sử dụng dữ liệu còn thấp, làm phát sinh “gánh nặng cung cấp lại thông tin” cho người dân và doanh nghiệp; đồng thời, hạn chế hiệu quả điều hành dựa trên dữ liệu số.

Bốn là, chất lượng “toàn trình” trong dịch vụ công số và năng lực vận hành số giữa các cấp còn chênh lệch lớn. Đến hết tháng 10/2025, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình đạt 39,98%, trong đó, khối các bộ đạt 54,46% nhưng khối tỉnh chỉ 16,94%16. Điều này cho thấy, dịch vụ công số đã mở rộng về phạm vi, tuy nhiên, mức độ “xử lý – trả kết quả toàn trình trên môi trường số” ở cấp địa phương vẫn là điểm nghẽn. Cùng với đó, kết quả số hóa đã cải thiện, nhưng tái sử dụng dữ liệu số hóa còn rất thấp ở khối bộ, ngành (4,18%)17, làm suy giảm lợi ích “một lần khai báo – nhiều lần sử dụng”.

Năm là, năng lực bảo đảm an toàn thông tin còn tồn tại sự bất cân xứng giữa các cấp, đặc biệt tại địa phương – nơi mà hạ tầng và nhân lực chuyên trách mỏng làm hạn chế khả năng ứng phó sự cố chủ động. Trong khi nguy cơ tấn công mạng gia tăng, quy trình quản trị rủi ro và kiểm thử hệ thống chưa được chuẩn hóa đồng bộ. Bên cạnh đó, các gián đoạn kỹ thuật và sự thiếu nhất quán trong cung ứng dịch vụ công số đang làm suy giảm niềm tin số. Hơn nữa, cơ chế minh bạch và trách nhiệm giải trình về bảo vệ dữ liệu cá nhân chưa rõ ràng. Mặt khác, với nhận thức xã hội chưa đồng đều, tâm lý e ngại với giao dịch số vẫn còn hiện hữu trong một bộ phận người sử dụng.

Sáu là, mối liên kết giữa nghiên cứu – đào tạo – ứng dụng còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng “đứt gãy chuyển giao” các giải pháp số vào thực tiễn quản trị công. Cơ chế tài chính và phương thức đặt hàng nhiệm vụ khoa học còn nặng tính hành chính, thiếu linh hoạt trước đặc thù đổi mới nhanh của công nghệ. Bên cạnh đó, năng lực hấp thụ công nghệ và nguồn nhân lực chuyên sâu phân bố không đồng đều, gây khó khăn cho quá trình chuyển đổi tại cơ sở. Hoạt động hợp tác quốc tế dù mở rộng nhưng thiếu chiều sâu trong đồng nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chiến lược. Mặt khác, sự chưa hoàn thiện của khung quản trị rủi ro về an ninh dữ liệu số và sở hữu trí tuệ đang tạo rào cản cho các hợp tác thực chất, bền vững.

4. Một số giải pháp

Để khắc phục những hạn chế nêu trên và hiện thực hóa mục tiêu tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, quá trình chuyển đổi số trong quản trị quốc gia thời gian tới cần tập trung vào 5 nhóm giải pháp chiến lược sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế kiến tạo và chuẩn hóa mô hình quản trị thực thi. Cần chuyển dịch tư duy lập pháp từ “quản lý chặt” sang “quản lý phát triển”. Trọng tâm là khẩn trương thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các giải pháp công nghệ trong khu vực công, cho phép kiểm chứng hiệu quả trong phạm vi giới hạn trước khi nhân rộng. Đồng thời, cần quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu công nghệ tại các cơ quan nhà nước, gắn hiệu quả chuyển đổi số với đánh giá thi đua.

Thứ hai, đồng bộ hóa hạ tầng số và “khơi thông” dòng chảy dữ liệu. Chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình “Cloud First” (ưu tiên điện toán đám mây) trong đầu tư công để giải quyết bài toán phân tán và lãng phí hạ tầng. Đối với dữ liệu số, cần thể chế hóa danh mục “dữ liệu dùng chung” quốc gia, áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với hành vi “cát cứ dữ liệu”. Triển khai chiến lược quản trị dữ liệu quốc gia để chuẩn hóa quy trình thu thập, xử lý và chia sẻ, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống” phục vụ chỉ đạo điều hành và mở dữ liệu cho xã hội đồng kiến tạo giá trị.

Thứ ba, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ gắn với trải nghiệm người dùng. Kiên quyết thực hiện tái cấu trúc quy trình trước khi số hóa. Chuyển đổi mô hình cung cấp dịch vụ công số từ thụ động sang chủ động dựa trên phân tích dữ liệu lớn và AI, dự báo nhu cầu để phục vụ người dân mà không cần yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia.

Thứ tư, củng cố niềm tin số và tháo gỡ điểm nghẽn nguồn lực. An toàn thông tin cần đẩy mạnh chủ động giám sát và ứng cứu; minh bạch hóa chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhân để xây dựng niềm tin xã hội. Bên cạnh đó, cần đổi mới cơ chế tài chính cho khoa học – công nghệ và chuyển đổi số theo hướng chấp nhận rủi ro và đặc thù sản phẩm vô hình; đồng thời, xây dựng chính sách đãi ngộ đặc thù để thu hút chuyên gia công nghệ chất lượng cao tham gia vào khu vực công.

Thứ năm, hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nâng tầm hợp tác quốc tế. Thể chế hóa đồng bộ cơ chế “đặt hàng” nhiệm vụ khoa học và “mua sắm công nghệ đầu ra” trong khu vực công, thay thế tư duy quản lý hành chính bằng khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát nhằm thúc đẩy dòng chảy tri thức giữa Nhà nước – viện trường – doanh nghiệp. Song song đó, chuyển dịch chiến lược hợp tác quốc tế sang chiều sâu thông qua việc thiết lập các liên minh đối tác chiến lược về chuyển giao công nghệ lõi, đào tạo nhân lực chất lượng cao và xây dựng hàng rào kỹ thuật bảo vệ chủ quyền số quốc gia.

5. Kết luận

Chuyển đổi số không đơn thuần là sự nâng cấp về công nghệ mà là cuộc cách mạng căn bản về tư duy và phương thức quản trị quốc gia nhằm kiến tạo một nền hành chính hiện đại, hiệu quả và phục vụ. Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và bức tranh thực tiễn triển khai tại Việt Nam (giai đoạn đến năm 2025). Bên cạnh những thành tựu nền tảng về hành lang pháp lý, hạ tầng số và các cơ sở dữ liệu quốc gia trọng yếu, công cuộc này vẫn đang đối diện với những “điểm nghẽn” về sự phân mảnh dữ liệu, an ninh phi truyền thống và năng lực thực thi cấp cơ sở. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “tin học hóa” sang tư duy “quản trị dựa trên dữ liệu”.

Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, hệ thống giải pháp được đề xuất cần được triển khai đồng bộ, xuyên suốt. Trong đó, trọng tâm là hoàn thiện thể chế số đi trước mở đường, khơi thông dòng chảy dữ liệu quốc gia và kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Suy cho cùng, thước đo thành công của chuyển đổi số trong quản trị quốc gia không chỉ nằm ở các chỉ số kỹ thuật mà được định lượng bằng niềm tin của người dân, sự hài lòng của doanh nghiệp và năng lực kiến tạo phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Chú thích:
1. Thomas M. Siebel (2019). Chuyển đổi số (Digital Transformation). NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
2. Ines Mergel, Noella Edelmann, Nathalie Haug (2019). Defining digital transformation: Results from expert interviews. Government Information Quarterly, Volume 36, Issue 4, October 2019.
3, 8, 11, 13, 14. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Báo cáo tình hình thực hiện các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (phục vụ Hội nghị Sơ kết 01 năm triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, 5 năm thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước; 4 năm triển khai Đề án 06).
4, 16, 17. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ).
5, 6, 7, 9, 10, 15. Bộ Nội vụ (2025). Tài liệu sơ kết giai đoạn 2021 – 2025 thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030, nhiệm vụ giải pháp trọng tâm giai đoạn 2026 – 2030.
12. Báo cáo số 3078/BC-TCT ngày 10/12/2025 của Tổ công tác triển khai Đề án 06, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số gắn với Đề án 06 về Kết quả triển khai Đề án 06 giai đoạn 2022 – 2025 và nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2026 – 2030.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
4. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt “Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030”.
5. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt “Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
6. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Quyết định số 292/QĐ-BKHCN ngày 25/3/2025 ban hành Khung kiến trúc Chính phủ số Việt Nam, phiên bản 4.0.
7. Thông báo Kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/30/thong-bao-ket-luan-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-nam-2025-cua-ban-chi-dao-trung-uong-ve-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so.
8. Alp Ustundag and Emre Cevikcan (2018). Industry 4.0: Managing Digital Transformation. Springer Series in Advanced Manufacturing, DOI: 10.1007/978-3-319-57870-5 
9. Chuyển đổi số thời Covid-19. https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Chuyen-doi-so-thoi-Covid19-23135
10. David Acev et al. (2025). Systematic analysis of data governance frameworks and their relevance to data trusts. Management Review Quarterly.
11. Defining digital transformation: Results from expert interviews. https://www.techre
public.com/article/digital-transformation-a-cheat-sheet/
12. Luca Tangi, Marijn Janssen, Michele Benedetti, Giuliano Noci (2021). Digital government transformation: A structural equation modelling analysis of driving and impeding factors. International Journal of Information Management.