ThS. Trần Thị Huyền
Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh tỉnh Hưng Yên
(Quanlynhanuoc.vn) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào mọi hoạt động của xã hội, kể cả trong công tác lãnh đạo, quản lý. Chúng ta tìm thấy trong di sản tư tưởng của Người những chỉ dẫn quý báu về việc thu hút phụ nữ vào các cơ quan lãnh đạo, quản lý, những trở ngại và giải pháp khắc phục để phụ nữ có thể phát huy khả năng lãnh đạo, quản lý. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường vai trò của phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong các lĩnh vực của đời sống xã hội hiện nay.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; đào tạo, bồi dưỡng; phụ nữ; lãnh đạo, quản lý; bình đẳng giới.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, vấn đề giải phóng phụ nữ và phát huy vai trò của phụ nữ trong đời sống chính trị – xã hội luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Người khẳng định: nam nữ bình quyền là một trong những mục tiêu quan trọng của chế độ mới; đồng thời, nhấn mạnh, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công phải phát huy đầy đủ vai trò, tiềm năng của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực lãnh đạo, quản lý. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ không chỉ dừng lại ở quan điểm bình đẳng giới mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược về việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo điều kiện để phụ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc nâng cao tỷ lệ và chất lượng đội ngũ nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý trở thành một nhiệm vụ có ý nghĩa cả về chính trị, pháp lý và thực tiễn. Tuy nhiên, trên thực tế, sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý vẫn còn những hạn chế nhất định. Vì vậy, nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý
2.1. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tầm quan trọng của vấn đề phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý
Thứ nhất, tham gia lãnh đạo, quản lý là biểu hiện cao nhất và là điều kiện cơ bản để đảm bảo quyền bình đẳng thực sự của phụ nữ. Xã hội phong kiến hàng nghìn năm với hệ tư tưởng thiếu đề cao vai trò của phụ nữ đã tạo nên một tâm lý ăn sâu trong xã hội rằng: việc làm quan là của đàn ông, việc nội trợ là của đàn bà. Nói cách khác, xã hội đó đã mặc định phạm vi, giới hạn hoạt động của người phụ nữ trong gia đình. Với phong trào dân chủ, đòi quyền bình đẳng giới và sự phát triển, tiến bộ của xã hội, người phụ nữ không chỉ thể hiện được vai trò chủ đạo trong gia đình mà còn có điều kiện để khẳng định mình ngoài xã hội. Phụ nữ đã tham gia hầu hết các ngành nghề lao động, là lực lượng lao động xã hội không thể thiếu.
Tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ trong lĩnh vực chính trị, hoạt động quản lý, lãnh đạo xã hội đã tạo nên lãnh địa mà phụ nữ khó bước vào. Việc tạo sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý là sự thể hiện rõ ràng nhất về bình đẳng giới. “Có so sánh hoàn cảnh phụ nữ ta bây giờ và hoàn cảnh phụ nữ ta trước khi giải phóng, chúng ta mới thấy rõ, từ ngày nước ta được giải phóng đến nay, phụ nữ đều tiến bộ rõ về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhưng một trong những tiến bộ rõ rệt nhất là phụ nữ ta hiện nay tham gia chính quyền ngày càng nhiều. Thời kỳ thuộc Pháp, phụ nữ ta làm gì được tham gia chính quyền”1. Trong xã hội còn bất bình đẳng giới, chỗ nào là phạm vi cấm của phụ nữ thì việc phá bỏ phạm vi cấm ấy chính là biểu hiện cao nhất của bình đẳng giới. Khi phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý tức là họ có thể tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi mọi chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, là điều kiện bảo đảm cho đường lối, chủ trương ấy tạo cơ chế công bằng, bình đẳng thật sự giữa nam và nữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “…ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo… Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”2.
Thứ hai, tham gia lãnh đạo, quản lý là để phát huy tài năng, trí tuệ của phụ nữ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc để phụ nữ tham gia vào công việc lãnh đạo, quản lý không phải nhằm khẳng định xã hội ấy là tiến bộ, công bằng mà vì tài năng, trí tuệ của phụ nữ. Người khẳng định, phụ nữ hoàn toàn có đủ khả năng, trí tuệ để đảm đương công việc này. Thậm chí, phụ nữ còn có một số ưu điểm, lợi thế hơn nam giới khi tham gia công việc lãnh đạo, quản lý “Các cháu gái ở các hợp tác xã thường có nhiều ưu điểm: ít mắc tệ tham ô, lãng phí, không hay chè chén, ít hống hách mệnh lệnh như một số cán bộ nam”3. Qua khảo sát thực tế về đội ngũ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị ở nước ta thời gian qua cho thấy, những ưu điểm của cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra là hoàn toàn đúng đắn. Vì vậy, việc tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo, quản lý còn là để phát huy tài năng, trí tuệ của họ, đồng thời, bổ sung những điểm yếu của cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm tạo nên một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có đủ khả năng, phẩm chất góp phần đưa đất nước phát triển.
2.2. Chủ tịch Hồ Chí đã chỉ ra những yếu tố hạn chế việc phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý.
Thứ nhất, định kiến về giới vẫn còn tồn tại. Các nhà kinh điển Mác – Lênin đã nhìn thấy được sức ỳ, sự lạc hậu của ý thức tâm lý xã hội, mặc dù cơ sở kinh tế của xã hội đã có bước phát triển, pháp luật đã dần công nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ nhưng tâm lý thiếu tin tưởng vào khả năng của phụ nữ vẫn còn tồn tại. Đó là một trở ngại cho phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý. Khi cấp trên không tin tưởng thì sẽ không cất nhắc, đề bạt họ lên những vị trí quan trọng, chủ chốt, không mạnh dạn giao việc cho cán bộ nữ đúng lúc, đúng việc, đúng tầm. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chú ý đến công tác cán bộ nữ. Người viết: “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy là rất sai”4. Người phê phán trực tiếp tâm lý đó, đồng thời, lên án những hình thức biểu hiện của tâm lý này, như việc cất nhắc, đề bạt, giao việc cho phụ nữ chưa tương xứng với khả năng của họ, thiếu công bằng so với nam giới: “Đảng viên phụ nữ ở xã Đại Nghĩa thì lại càng ít, chỉ có hai đồng chí. Như thế là các chú còn trọng nam khinh nữ. Không có lẽ cả xã chỉ có hai chị em xứng đáng được vào Đảng”5.
Thứ hai, tâm lý tự ti, an phận của phụ nữ là một trở ngại cho việc tham gia lãnh đạo, quản lý. Do hoàn cảnh lịch sử để lại, phụ nữ ít có điều kiện, cơ hội để tham gia vào những công việc trọng đại của cộng đồng, đất nước và khẳng định mình trước nam giới, vì vậy đã hình thành tâm lý tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình trong hoạt động xã hội. Với thiên chức làm vợ, làm mẹ nên phụ nữ có trọng trách rất lớn trong việc xây dựng gia đình.
Xã hội phong kiến hàng nghìn năm đã cột chặt người phụ nữ vào trọng trách đó. Khi xã hội phát triển, người phụ nữ được tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội thì gặp phải mâu thuẫn giữa sự nghiệp và gia đình nên thường có tâm lý an phận, đặt gia đình quan trọng hơn sự nghiệp. Họ chấp nhận bớt tham gia vào các hoạt động xã hội để có thể lo lắng, chăm sóc cho gia đình nhiều hơn. Do đó, bản thân phụ nữ cũng là một trở ngại cho chính mình trong việc tham gia lãnh đạo, quản lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ rất sớm đã nhận thấy điều này. Người viết: “Phụ nữ ta còn có một số nhược điểm như bỡ ngỡ, lúng túng, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình”6.
Thứ ba, yếu tố gia đình làm hạn chế khả năng tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ. Với thiên chức làm vợ, làm mẹ, người phụ nữ luôn gắn chặt với những công việc như sinh nở, chăm sóc, giáo dục con cái, chăm lo cho gia đình… khiến họ quá tải về thời gian, sức lực để có thể làm tròn được cả hai nhiệm vụ. Để có cùng một kết quả trong công việc như nam giới, phụ nữ luôn phải cố gắng gấp đôi so với nam giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng “phụ nữ còn gặp nhiều khó khăn về gia đình, con cái”7.
2.3. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra các cách thức, giải pháp phát huy hết khả năng, trí tuệ của phụ nữ trong công việc lãnh đạo, quản lý.
Thứ nhất, cần khắc phục định kiến về giới. Xã hội, đặc biệt là nam giới tôn trọng và ủng hộ bình đẳng giới thì vai trò của phụ nữ trong xã hội sẽ được phát huy. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cần phải cải tạo, sửa đổi tư tưởng, định kiến của các nhà lãnh đạo, quản lý, “Bác mong rằng các đồng chí hãy thật thà sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ”8. Tuy nhiên, để xóa bỏ những định kiến, tư tưởng đã ăn sâu trong nếp nghĩ của cả dân tộc trong nền văn hóa phong kiến không phải là dễ, đòi hỏi phải có sự thay đổi nhận thức về bình đẳng giới của mỗi người và toàn xã hội. Mặc dù pháp luật thừa nhận sự bình đẳng giới nhưng nếu định kiến về giới vẫn còn tồn tại sẽ cản trở rất lớn đối với việc tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ.
Thứ hai, cần có kế hoạch cụ thể trong công tác phát triển cán bộ nữ. Việc thay đổi định kiến về giới phải được biểu hiện bằng những hành động thực tế, đó là phải xây dựng kế hoạch phát triển cán bộ nữ mang tính chiến lược lâu dài và có tính đột phá. Trong khi khẳng định cần thay đổi định kiến về giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời quan tâm đến công tác tạo nguồn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ. Người nhắc nhở “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo”9; “Các cấp lãnh đạo cần quan tâm hơn nữa về công tác phụ nữ và chú ý hơn nữa đào tạo cán bộ, phát triển đảng viên và đoàn viên phụ nữ”10.
Người khẳng định, cần có kế hoạch thiết thực trong việc đào tạo, bồi dưỡng và cất nhắc cán bộ nữ. Các cấp lãnh đạo phải thường xuyên quan tâm xây dựng chỉ tiêu cụ thể, chi tiết trong từng năm, từng thời kỳ cho công tác cán bộ nữ và nghiêm túc thực hiện, trong đó, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ là khâu nền tảng. Người cho rằng, tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ít là do thiếu quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ “Cán bộ nữ ít như vậy là một thiếu sót. Các đồng chí lớp học chưa quan tâm đến việc bồi dưỡng cán bộ nữ. Đây cũng là thiếu sót chung ở trong Đảng”11.
Thứ ba, bản thân phụ nữ cần tích cực nâng cao trình độ, năng lực. Trong mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao yếu tố nội lực. Người cho rằng, nếu bản thân phụ nữ không cố gắng vươn lên thì sẽ không có ý nghĩa gì. Người viết: “Muốn giải quyết khó khăn không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quan tâm học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng vào khả năng của mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn của phụ nữ trong công tác chính quyền”12.
Trước hết, phụ nữ phải xóa bỏ tâm lý tự ti để tin tưởng vào khả năng của mình. Khi phụ nữ đã tin tưởng vào bản thân thì sẽ không quản ngại khó khăn, cố gắng học tập để khẳng định mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở phụ nữ phải cố gắng học tập mọi lúc, mọi nơi, bởi lẽ chỉ có tự nâng cao trình độ, trí tuệ của mình thì mới có thể đảm đương được mọi công việc mà Đảng và Nhà nước giao “Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là phần tử trong nước, có quyền bầu cử và ứng cử”13. Nhận thức được những khó khăn của phụ nữ trong việc tham gia lãnh đạo, quản lý, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cổ vũ, khuyến khích phụ nữ phấn đấu không ngừng, đồng thời kêu gọi phụ nữ phải đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Thứ tư, phát triển các dịch vụ về gia đình. Lãnh đạo, quản lý là một loại lao động chất lượng cao, đòi hỏi nhiều trí tuệ và chất xám. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, điều kiện để người phụ nữ có thể tham gia vào nền sản xuất xã hội là làm công việc nhà ít đi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng minh điều này bằng thực tế ở Liên Xô: “Chị em Liên Xô trong gia đình thì không phải bận bịu với việc chăm lo con mọn và hui hút với việc bếp núc. Ngoài xã hội thì thật sự bình đẳng với đàn ông, gánh vác mọi công tác chính trị, kinh tế, văn hóa… Trong ngành giáo dục và ngành y tế, cán bộ phụ nữ đã nhiều hơn cán bộ đàn ông”14. Do đó, để phụ nữ có thể phát huy hết khả năng của mình trong việc lãnh đạo, quản lý phải phát triển tốt các dịch vụ về gia đình như nhà trẻ, bếp ăn… góp phần giải phóng phụ nữ khỏi một số công việc nhà. Bởi lẽ, trong điều kiện phụ nữ không thể giảm bớt công việc gia đình sẽ không có điều kiện cống hiến cho công việc lãnh đạo, quản lý một cách tốt nhất. “Muốn cho người mẹ sản xuất tốt thì cần tổ chức tốt những nơi gửi trẻ và những lớp mẫu giáo”15; “Nên cố gắng tổ chức những nhà ăn công cộng cho tốt để giải phóng phụ nữ ra khỏi bếp núc”16.
3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý hiện nay
Quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vấn đề phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất chú trọng tới công tác phụ nữ.
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, tiêu biểu như: Chỉ thị số 21-CT/TW, ngày 20/01/2018 về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới. Đặc biệt, mới đây nhất, Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 14/4/2025 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đã định hướng cơ cấu cấp ủy viên nữ: phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong ban thường vụ.
Xuyên suốt qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề bình đẳng giới, chăm lo cho phụ nữ, tạo điều kiện để chị em ngày càng khẳng định vị trí trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có tham gia lãnh đạo, quản lý. Nhìn chung, các quan điểm, đường lối và chính sách của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới đã tạo nên hành lang pháp lý cho việc thực hiện bình đẳng giới. Ngày 03/3/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 28/NQ-CP ban hành “Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 – 2030” đã xác định mục tiêu tổng quát nhằm tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Cụ thể, trong lĩnh vực chính trị, Chiến lược đề ra chỉ tiêu đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ.
Theo Báo cáo Chỉ số khoảng cách giới toàn cầu (Global Gender Gap Index) thường niên do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố, Việt Nam xếp thứ 74/148 quốc gia về thu hẹp khoảng cách giới vào năm 2025 với tổng điểm khoảng 0,713 với tỷ lệ bình đẳng giới khoảng 71,3%, vượt mức trung bình toàn cầu và khu vực Đông Á – Thái Bình Dương17. Nhìn lại những con số thống kê qua các kỳ bầu cử cho thấy, những thành quả quan trọng mà cả hệ thống chính trị đã quyết tâm thực hiện trong lĩnh vực tham chính của phụ nữ…
Kết quả bầu cử Đại biểu quốc hội (khóa XV), tỷ lệ đại biểu là nữ đạt 30,26% và đây cũng là lần đầu tiên từ nhiệm kỳ Quốc hội (khoá VI) trở lại đây, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là phụ nữ đạt trên 30%18. Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 29,7% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước)19. Việc bố trí lãnh đạo nữ trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%. Đây là minh chứng cho thấy sự ưu việt trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ, giải phóng con người của Đảng, Nhà nước ta và cũng cho thấy, sự vươn lên của phụ nữ Việt Nam, đưa vị thế phụ nữ Việt Nam tham gia Quốc hội đứng thứ hai khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đứng thứ 6 ở châu Á.
Tỷ lệ nữ cấp ủy các nhiệm kỳ qua có xu hướng tăng dần. Tính đến tháng 5/2025, nữ Ủy viên Bộ Chính trị là 6,25%, nữ Ủy viên Trung ương Đảng (khóa XIII) (chính thức và dự khuyết) đạt 10,65%. Sau sắp xếp các tỉnh, thành phố, có 3/34 nữ bí thư tỉnh/thành uỷ, chiếm 8,82% (tại thời điểm cuối tháng 6/2025 có 7/63 nữ bí thư, chiếm 11,11%); có 19 nữ phó bí thư (trước sắp xếp là 16). Ở địa phương, theo số liệu sơ kết giữa nhiệm kỳ, tỷ lệ nữ cấp ủy cấp tỉnh là 15,87%, cấp huyện là 19,22%, cấp cơ sở là 24,52%; cán bộ nữ tham gia ban thường vụ cấp tỉnh đạt 12,50%, cấp huyện đạt 14,26%, cấp cơ sở đạt 15,73%20.
Trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) (nhiệm kỳ 2026 – 2031), có 21 nữ ủy viên chính thức trên tổng số 180 ủy viên, đạt tỉ lệ 11,66% trong đó có 1 nữ Ủy viên Bộ Chính trị (bà Bùi Thị Minh Hoài). Có nhiều đồng chí cán bộ nữ giữ các chức vụ cao trong hệ thống chính trị như Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng21…
Trong hệ thống chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Lạng Sơn ghi nhận những gam màu tươi sáng khi tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy các cấp nhiệm kỳ 2025 – 2030 đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030: 11/52 đồng chí, chiếm 21,15% (tăng 2,28%); lãnh đạo nữ các sở, ban, ngành; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội tỉnh và tương đương: 35/131 đồng chí, chiếm 26,71% (tăng 3,01%). Ủy viên ban chấp hành các đảng bộ xã, phường nhiệm kỳ 2025 – 2030 có 518/1.667 đồng chí, chiếm 31,07%; ủy viên ban thường vụ đảng ủy xã, phường nhiệm kỳ 2025 – 2030 có 142/569 đồng chí, chiếm 24,96%22…
Theo đánh giá của Liên hợp quốc, bình đẳng giới ở Việt Nam là điểm sáng trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Ở Việt Nam hiện nay, trên tất cả các lĩnh vực đều có sự cống hiến của nữ giới. Chất lượng, hiệu quả, uy tín của cán bộ nữ đã ngày càng chứng tỏ nỗ lực cá nhân phụ nữ cũng như vai trò của các cấp, các ngành trong quá trình thực hiện bình đẳng giới. Đã xuất hiện nhiều nữ Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị là hết sức cần thiết, bảo đảm tiếng nói đại diện, thể hiện tâm tư, nguyện vọng của nữ giới cũng như đóng góp vào quá trình phát triển xã hội bền vững. Trên thực tế, phụ nữ Việt Nam có cơ hội tham chính, quyền năng chính trị của họ được thúc đẩy bởi quy định tạo điều kiện thuận lợi của chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, rào cản để phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, như: định kiến giới và vai trò giới trong gia đình, nhất là với đội ngũ nữ cán bộ lãnh đạo; hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ còn có những hạn chế nhất định… Do đó, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: xóa bỏ định kiến giới trong lĩnh vực chính trị; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thực hiện bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ; nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong việc đảm bảo quyền tham chính của phụ nữ.
4. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý thể hiện quan điểm nhất quán và tiến bộ về bình đẳng giới, gắn quyền của phụ nữ với việc tham gia thực chất vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Những chỉ dẫn của Người về khắc phục định kiến giới, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ nữ, phát huy nội lực của phụ nữ đến nay vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao tỷ lệ và chất lượng đội ngũ nữ lãnh đạo, quản lý, đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước, việc thu hẹp khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị vẫn đòi hỏi những giải pháp đồng bộ, lâu dài và quyết liệt hơn. Vì vậy, tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý không chỉ là yêu cầu khách quan của công tác cán bộ hiện nay mà còn là điều kiện quan trọng để xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và bao trùm, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Chú thích:
1, 6, 7, 12, 14. Hồ Chí Minh Toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 639, 640, 640, 640, 507-508.
2, 3, 4, 8, 9, 11. Hồ Chí Minh Toàn tập (2011). Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 617, 275, 275, 275, 617, 275.
5, 15, 16. Hồ Chí Minh Toàn tập (2011). Tập 13. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 209, 59, 59.
10. Hồ Chí Minh Toàn tập (2011). Tập 14. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 231.
13. Hồ Chí Minh Toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 41.
17. Báo cáo Khoảng cách Giới toàn cầu năm 2025 của Diễn đàn kinh tế Thế giới. https://reports.weforum.org/docs/WEF_GGGR_2025.pdf.
18. Cơ hội trúng cử của nữ ứng cử viên – Phân tích từ kết quả bầu cử Quốc hội khoá XV. https://vwu.vn/web/guest/tin-chi-tiet/chi-tiet/co-hoi-trung-cu-cua-nu-ung-cu-vien-phan-tich-tu-ket-qua-bau-cu-quoc-hoi-khoa-xv-40073-6601.html.
19. Bảo đảm tỷ lệ nữ ứng cử viên đại biểu quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. https://www.vwu.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/viec-nang-cao-ty-le-nu-đai-bieu-quoc-hoi-khoa-xvi-va-hđnd-cac-cap-nhiem-ky-2026-2031-van-la-mot-thach-thuc-khong-nho-59175.
20. Tỷ lệ Ủy viên Bộ Chính trị đạt 6,25%, nữ uỷ viên Ttrung ương Đảng khoá XIII đạt 10,65%. https://vietnamnet.vn/ti-le-nu-uy-vien-bo-chinh-tri-dat-6-25-nu-uy-vien-trung-uong-khoa-13-10-65-2445064.
21. Danh sách uỷ viên chính thức và uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/ket-qua-bo-phieu-bau-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv.
22. Lạng Sơn: Tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 đạt và vượt chỉ tiêu. https://hoilhpn.org.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/lang-son-ty-le-nu-tham-gia-cap-uy-cac-cap-nhiem-ky-2025-2030-đat-va-vuot-chi-tieu-806501-2.html).
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2018). Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới.
2. Bộ Chính trị (2007). Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3. Bộ Chính trị (2025). Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 14/4/2025 về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
4. Trần Thị Chiên (2019). Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện bình đẳng giới từ 2006 đến 2016. Luận án Tiến sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
5. Trần Thị Minh Thi (2017). Bình đẳng giới trong chính trị từ chiều cạnh thể chế, văn hóa và hội nhập quốc tế. H. NXB Khoa học xã hội.
6. Nguyễn Thị Tuyết (2015). Phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng đồng bằng Sông Hồng trong thời kỳ đổi mới. Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.



