The 1945 Declaration of Independence – The pinnacle of human rights diplomacy in Ho Chi Minh’s thought
ThS. Nguyễn Thị Nguyên Ngọc
Trường Đại học Thủy Lợi
ThS. Nguyễn Văn Lộc
Trường Đại học Thái Bình
(Quanlynhanuoc.vn) – Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và công bố không chỉ đánh dấu sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn thể hiện cách tiếp cận đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi gắn vấn đề độc lập dân tộc với các giá trị nhân quyền phổ quát của nhân loại. Trên cơ sở đó, văn kiện này vừa tạo lập nền tảng chính danh cho sự hình thành của Nhà nước Việt Nam mới, vừa phản ánh tầm nhìn ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc đưa vấn đề độc lập của Việt Nam vào diễn ngôn và sự quan tâm của cộng đồng quốc tế1.
Từ khóa: Chủ tịch Hồ Chí Minh; ngoại giao nhân quyền; diễn ngôn nhân quyền; Tuyên ngôn Độc lập năm 1945; quyền dân tộc tự quyết.
Abstract: The 1945 Declaration of Independence, drafted and proclaimed by President Ho Chi Minh, not only marked the establishment of the Democratic Republic of Vietnam but also reflected his distinctive approach in linking national independence with the universal values of human rights. On that basis, this document both established the legal and moral legitimacy for the formation of the new Vietnamese state and embodied Ho Chi Minh’s diplomatic vision in placing Vietnam’s independence within the discourse and attention of the international community.
Keywords: Ho Chi Minh; human rights diplomacy; human rights discourse; the 1945 Declaration of Independence; the right to national self-determination.
1. Đặt vấn đề
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi trật tự thế giới có nhiều biến chuyển và nhân quyền dần trở thành một trong những nội dung quan trọng của đời sống chính trị quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi khởi thảo bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 đã vận dụng các nguyên lý nhân quyền phổ quát để làm cơ sở lập luận khẳng định quyền độc lập của dân tộc Việt Nam, thể hiện tầm nhìn chính trị và ngoại giao sâu sắc của Người. Từ góc độ chính trị học và nghiên cứu nhân quyền cho thấy, cách tiếp cận của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu các giá trị nhân quyền của thời đại mà còn vận dụng chúng một cách sáng tạo vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Do đó, việc phân tích cơ sở hình thành, nội dung và ý nghĩa của diễn ngôn nhân quyền quốc tế trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ giá trị chính trị và ngoại giao của văn kiện này trong bối cảnh hình thành trật tự thế giới mới sau năm 1945 và có giá trị trong giai đoạn hiện nay.
2. Cơ sở hình thành tư duy ngoại giao nhân quyền của Hồ Chí Minh
Thứ nhất, truyền thống nhân nghĩa và tinh thần chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.
Trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, nguyên lý “lấy dân làm gốc” và quan niệm “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” đã trở thành trục xuyên suốt, xác lập mối quan hệ hữu cơ giữa quyền sống, quyền tự do của con người với độc lập và hòa bình của quốc gia. “Nhân nghĩa” trong truyền thống Việt Nam không chỉ là chuẩn mực đạo đức mà còn là tiêu chí chính trị để đánh giá tính chính danh của quyền lực và chính nghĩa của một cuộc đấu tranh2. Tư tưởng nhân nghĩa luôn gắn chặt với mục tiêu bảo vệ cuộc sống yên ổn và lợi ích căn bản của Nhân dân; một chính quyền chỉ được thừa nhận là chính đáng khi bảo đảm được điều đó3. Điều này cũng khẳng định tính chính nghĩa của một nhà nước gắn liền với khả năng bảo vệ quyền sống và sự ổn định của cộng đồng dân tộc. Nhân quyền trong truyền thống chính trị Việt Nam được đặt trong chỉnh thể quyền cộng đồng – quyền dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa sâu sắc truyền thống tư tưởng này và nâng nó lên tầm khái quát hiện đại. Các quyền cơ bản của con người đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn bó biện chứng với quyền độc lập của dân tộc. Người khẳng định, chỉ trong một quốc gia độc lập, con người mới có điều kiện bảo đảm và hiện thực hóa đầy đủ các quyền căn bản của mình. Do vậy, cách tiếp cận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền con người, kể cả trong lĩnh vực đối ngoại mang đậm dấu ấn của truyền thống chính trị Việt Nam, trong đó việc bảo vệ quyền con người gắn liền với việc bảo vệ sự tồn tại và độc lập của cộng đồng dân tộc.
Thứ hai, sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tư tưởng nhân quyền phương Tây.
Trong quá trình hoạt động và học tập ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh có điều kiện trực tiếp tiếp cận các văn kiện nền tảng của tư tưởng nhân quyền hiện đại, tiêu biểu là Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789. Từ trải nghiệm thực tiễn của một người dân thuộc địa và từ quan sát trực tiếp đời sống chính trị – xã hội tại các nước tư bản, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận ra những giới hạn lịch sử của các tuyên ngôn này, khi các giá trị nhân quyền được khẳng định về mặt nguyên tắc nhưng lại không được áp dụng đối với các dân tộc thuộc địa4. Chính sự đối lập giữa các tuyên bố nhân quyền của các nước chính quốc với thực tiễn áp bức, bóc lột tại các thuộc địa đã giúp Người nhận thức rõ tính chất mâu thuẫn của chủ nghĩa thực dân đối với các giá trị tự do và bình đẳng mà họ tuyên bố. Do vậy, trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện bước phát triển sáng tạo khi mở rộng nội hàm của diễn ngôn nhân quyền từ quyền cá nhân trong phạm vi quốc gia sang quyền của các dân tộc bị áp bức trong trật tự quốc tế.
Thứ ba, từ nhận thức sâu sắc về vai trò của dư luận và luật lệ quốc tế đến việc xác lập tính chính danh của các quốc gia mới giành độc lập.
Sau năm 1945, trong bối cảnh trật tự thế giới chuyển sang giai đoạn hậu chiến, Liên Hợp quốc ra đời, quyền con người dần trở thành ngôn ngữ chính trị chung trong quan hệ quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ rằng: sự tồn tại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh quân sự mà còn phụ thuộc vào khả năng tạo lập chính danh và pháp lý trên trường quốc tế5. Bởi ở thời điểm đó, diễn ngôn nhân quyền có sức nặng đặc biệt, nó cho phép các quốc gia mới giành độc lập đặt yêu sách của mình trong khuôn khổ các chuẩn mực phổ quát mà cộng đồng quốc tế khó có thể công khai phủ nhận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm bắt và vận dụng sớm logic này khi biến Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 thành một văn kiện vừa mang tính pháp lý trong nước, vừa mang tính đối ngoại nhằm tranh thủ sự đồng tình của dư luận quốc tế6. Do đó, ngoại giao nhân quyền không chỉ là một lựa chọn đạo đức mà còn là một chiến lược chính trị tỉnh táo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoàn toàn phù hợp với bối cảnh lịch sử cụ thể.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, tư duy ngoại giao nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh được hình thành trên nền tảng kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống nhân nghĩa dân tộc, tinh hoa tư tưởng nhân quyền nhân loại và nhận thức chiến lược về môi trường chính trị – pháp lý quốc tế. Chính sự kết hợp này đã tạo nên tính độc đáo, sáng tạo và chiều sâu lý luận của ngoại giao nhân quyền Hồ Chí Minh; đồng thời, lý giải vì sao Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ là một văn kiện lịch sử mà còn là một đóng góp quan trọng vào tư duy nhân quyền và quan hệ quốc tế hiện đại.
2. Ngoại giao nhân quyền quốc tế trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945
Trong nghiên cứu học thuật hiện nay, khái niệm ngoại giao nhân quyền được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau và chưa có một định nghĩa hoàn toàn thống nhất. Tuy nhiên, có thể hiểu ngoại giao nhân quyền là những hoạt động ngoại giao chuyên biệt tập trung vào quyền con người, bao gồm cả nỗ lực thuyết phục và ngăn chặn hành vi làm suy yếu quyền đó; đồng thời, phản ánh mối liên hệ giữa luật quốc tế và thực tiễn ngoại giao quốc gia7. Từ cách tiếp cận này có thể thấy, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ là một văn kiện chính trị – pháp lý tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn thể hiện việc vận dụng các nguyên lý nhân quyền phổ quát như một cơ sở lập luận nhằm khẳng định tính chính đáng của quyền độc lập dân tộc và đặt cuộc đấu tranh của Việt Nam trong hệ chuẩn mực chung của cộng đồng quốc tế.
Một là, diễn ngôn nhân quyền – phương thức quốc tế hóa vấn đề độc lập của Việt Nam.
Một trong những đặc điểm nổi bật của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng các nguyên lý nhân quyền phổ quát của nhân loại như một cơ sở lập luận chính trị nhằm quốc tế hóa vấn đề độc lập của Việt Nam. Ngay trong phần mở đầu của văn kiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn trực tiếp những nguyên lý cơ bản của Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776, trong đó khẳng định rằng: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”8. Việc dẫn chiếu các nguyên lý nhân quyền của một văn kiện có ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây không chỉ nhằm khẳng định tính phổ quát của quyền con người mà còn thể hiện một chiến lược lập luận có ý thức. Thông qua việc viện dẫn các chuẩn mực đã được thừa nhận rộng rãi trong lịch sử tư tưởng chính trị hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong cùng hệ chuẩn mực với các giá trị phổ quát của nhân loại.
Điểm đặc sắc trong lập luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm ở thao tác phát triển logic của các nguyên lý nhân quyền. Sau khi trích dẫn nguyên lý về quyền con người trong Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng nội hàm của lập luận bằng cụm từ nổi tiếng: “suy rộng ra” để chuyển từ quyền tự nhiên của cá nhân sang quyền bình đẳng của các dân tộc, thể hiện một bước phát triển sáng tạo trong lập luận chính trị của Người. Nếu như trong triết học chính trị khai sáng, các tuyên ngôn nhân quyền chủ yếu khẳng định các quyền tự nhiên của cá nhân trong phạm vi quốc gia, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng logic đó sang phạm vi quan hệ quốc tế, khẳng định rằng, quyền con người và quyền dân tộc có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong bối cảnh các dân tộc thuộc địa đang bị tước đoạt quyền tự quyết, việc mở rộng nguyên lý nhân quyền sang quyền của các dân tộc bị áp bức đã cho phép Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam trong cùng hệ chuẩn mực với các giá trị phổ quát của tự do và bình đẳng.
Cách lập luận này cũng có thể được xem như một hình thức ngoại giao nhân quyền. Theo đó, các chuẩn mực nhân quyền được sử dụng như một công cụ chính trị nhằm tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế và tạo lập tính chính danh cho các yêu sách của một quốc gia trong hệ thống quốc tế. Trong bối cảnh năm 1945, khi trật tự quốc tế hậu chiến đang được tái cấu trúc và các nguyên tắc về quyền con người bắt đầu trở thành một phần quan trọng của hệ chuẩn mực quốc tế, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng diễn ngôn nhân quyền trong Tuyên ngôn Độc lập đã góp phần đưa cuộc đấu tranh của Việt Nam ra khỏi khuôn khổ của hệ thống thuộc địa; đồng thời, đặt nó trong không gian của các giá trị phổ quát của nhân loại. Độc lập dân tộc, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là điều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền con người. Quan điểm đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh trong các bài viết, tiêu biểu là trong Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước (ngày 17/7/1966), Người khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do9.
Hai là, ngoại giao nhân quyền – cơ sở xác lập tính chính danh quốc tế của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Bên cạnh việc quốc tế hóa vấn đề độc lập của dân tộc Việt Nam, Tuyên ngôn Độc lập còn đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập tính chính danh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong bối cảnh trật tự quốc tế hậu chiến đang hình thành. Trong cấu trúc lập luận của Tuyên ngôn, sau khi khẳng định các nguyên lý phổ quát về quyền con người, văn kiện tiếp tục trình bày một hệ thống dẫn chứng nhằm chứng minh rằng, chế độ thực dân Pháp đã vi phạm nghiêm trọng chính những nguyên lý mà họ từng tuyên bố bảo vệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, thực dân Pháp đã: “thi hành những pháp luật dã man”, và “lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân ta đoàn kết”10; đồng thời “thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”11. Những dẫn chứng này cho thấy, các quyền cơ bản của con người và của dân tộc Việt Nam đã bị xâm phạm một cách có hệ thống dưới chế độ thực dân. Từ việc chỉ ra sự vi phạm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra kết luận mang tính chính trị – pháp lý về sự chấm dứt tính chính danh của chế độ thực dân tại Việt Nam. Tuyên ngôn khẳng định: “Sự thực là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Cộng hòa Dân chủ”12.
Bằng cách này, bản Tuyên ngôn không chỉ tuyên bố sự ra đời của một nhà nước mới mà còn xây dựng một lập luận nhằm khẳng định chính quyền cách mạng được hình thành trên cơ sở ý chí của Nhân dân và phù hợp với các nguyên tắc phổ quát về tự do và bình đẳng của các dân tộc. Do đó, sự tồn tại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được trình bày như một kết quả tất yếu của quá trình thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Người khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập”13. Lập luận này cho thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tính chính danh của một nhà nước không chỉ xuất phát từ thắng lợi của một cuộc cách mạng mà còn từ việc nhà nước đó đại diện cho quyền lợi của nhân dân và thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Như vậy, bằng cách sử dụng diễn ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chuyển hóa vấn đề ngoại giao nhân quyền trong Tuyên ngôn Độc lập từ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam thành một yêu sách chính trị phù hợp với các chuẩn mực phổ quát của cộng đồng quốc tế.
Ba là, ngoại giao nhân quyền – nền tảng hình thành định hướng đối ngoại gắn độc lập dân tộc với các giá trị phổ quát của nhân loại.
Trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng các nguyên lý nhân quyền phổ quát không chỉ mang ý nghĩa lập luận chính trị nhằm khẳng định quyền độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn phản ánh một tư duy đối ngoại sâu sắc, trong đó độc lập dân tộc được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các giá trị phổ quát của nhân loại. Sau khi viện dẫn các nguyên lý cơ bản về quyền con người từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển logic của các tuyên ngôn này thành luận điểm mang tính khái quát rộng hơn khi khẳng định: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”14.
Thông qua lập luận này, quyền độc lập của dân tộc Việt Nam được đặt trong cùng hệ chuẩn mực với các giá trị phổ quát về tự do, bình đẳng và quyền sống – những nguyên lý nền tảng của tư tưởng chính trị hiện đại. Cách lập luận đó cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu các giá trị tiến bộ của tư tưởng nhân quyền phương Tây mà còn phát triển chúng theo hướng mở rộng từ quyền tự nhiên của cá nhân sang quyền bình đẳng của các dân tộc trong quan hệ quốc tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh hệ thống thuộc địa vẫn tồn tại mạnh mẽ trong nửa đầu thế kỷ XX, khi nhiều dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh vẫn đang phải đấu tranh giành quyền tự quyết. Bằng cách đặt quyền độc lập của dân tộc Việt Nam trong hệ chuẩn mực chung của các giá trị phổ quát, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuyển hóa cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân của Việt Nam thành một vấn đề gắn với các nguyên tắc chung của cộng đồng quốc tế, qua đó, góp phần quốc tế hóa vấn đề độc lập của dân tộc Việt Nam.
Quan điểm này tiếp tục được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong nhiều tuyên bố và hoạt động đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám. Chẳng hạn, trong Lời kêu gọi Liên Hợp quốc năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình” và “nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”15.
Những tuyên bố này cho thấy, mục tiêu của Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc mà còn hướng tới việc tham gia tích cực vào đời sống quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc chung của hòa bình, hợp tác và tôn trọng quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Từ góc độ đó, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt quyền độc lập của dân tộc trong mối liên hệ với các giá trị phổ quát của tự do và bình đẳng không chỉ có ý nghĩa đối với việc khẳng định tính chính danh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn góp phần hình thành một định hướng đối ngoại đặc trưng trong tư tưởng chính trị của Người. Trong định hướng đó, việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc luôn được gắn kết với các nguyên tắc cơ bản của hòa bình, hợp tác và tôn trọng các giá trị chung của nhân loại. Điều này cho thấy, trong tư duy chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền độc lập của dân tộc Việt Nam không tồn tại tách biệt, mà luôn được đặt trong mối liên hệ với xu thế phát triển chung của thế giới và với khát vọng tự do, bình đẳng của các dân tộc trên toàn cầu. Chính sự kết hợp giữa lợi ích dân tộc và các giá trị phổ quát của nhân loại đã tạo nên nền tảng tư tưởng cho đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đầu xây dựng nhà nước độc lập; đồng thời, phản ánh tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc gắn kết cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam với phong trào tiến bộ của nhân loại.
Như vậy, ngoại giao nhân quyền trong Tuyên ngôn Độc lập không chỉ có ý nghĩa đối với việc quốc tế hóa vấn đề độc lập và xác lập tính chính danh của nhà nước mới mà còn đặt nền tảng cho một định hướng đối ngoại đặc trưng trong tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong định hướng đó, việc khẳng định chủ quyền và độc lập của dân tộc luôn được trình bày như một bộ phận của các giá trị phổ quát về tự do, bình đẳng và quyền sống của các dân tộc trên thế giới, qua đó, gắn kết cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam với xu thế chung của phong trào tiến bộ của nhân loại.
3. Ý nghĩa của tư tưởng ngoại giao nhân quyền Hồ Chí Minh đối với chính sách đối ngoại của Việt Nam hiện nay
Tư tưởng ngoại giao nhân quyền được thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ mang ý nghĩa lịch sử gắn với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn có giá trị định hướng đối với tư duy và thực tiễn ngoại giao của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Trong môi trường quốc tế đương đại, nhân quyền ngày càng trở thành một trong những nội dung quan trọng của quan hệ quốc tế, được thảo luận thường xuyên trong các diễn đàn đa phương, các cơ chế giám sát quốc tế và các khuôn khổ hợp tác song phương. Từ góc nhìn đó, tư tưởng ngoại giao nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 cung cấp những gợi mở quan trọng cho việc định hình cách tiếp cận của Việt Nam đối với vấn đề nhân quyền trong quan hệ quốc tế hiện nay.
Thứ nhất, tư tưởng ngoại giao nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh gợi mở một cách tiếp cận nhân quyền gắn với quyền dân tộc tự quyết và quyền phát triển của các quốc gia. Quan điểm này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khi các quốc gia đang phát triển nhấn mạnh mối quan hệ giữa quyền con người với quyền phát triển và quyền tự quyết của các dân tộc. Trong nhiều văn kiện quốc tế, đặc biệt là Tuyên bố về quyền phát triển năm 1986 của Liên Hợp quốc, quyền phát triển được xem là một quyền con người cơ bản, trong đó các dân tộc có quyền tự do lựa chọn con đường phát triển của mình16. Từ góc độ này, cách tiếp cận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa quyền con người và quyền dân tộc tự quyết đã sớm phản ánh một xu hướng tư duy quan trọng trong lý luận nhân quyền hiện đại.
Thứ hai, tư tưởng ngoại giao nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy, tầm quan trọng của việc sử dụng các chuẩn mực nhân quyền phổ quát như một công cụ tạo lập tính chính danh quốc tế cho các yêu sách chính trị của quốc gia. Sự kiện năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn xây dựng một hệ thống lập luận dựa trên các nguyên lý nhân quyền phổ quát nhằm chứng minh tính chính đáng của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam thể hiện một nhận thức sớm về vai trò của các chuẩn mực quốc tế trong việc tạo lập sự ủng hộ của dư luận quốc tế.
Trong bối cảnh hiện nay, khi các chuẩn mực về quyền con người đã trở thành một phần quan trọng của hệ thống luật pháp quốc tế và quan hệ quốc tế, việc chủ động tham gia và đóng góp vào các cơ chế nhân quyền quốc tế là một yếu tố quan trọng giúp các quốc gia khẳng định vị thế và uy tín của mình trong cộng đồng quốc tế. Việt Nam trong những năm gần đây đã thể hiện rõ xu hướng này thông qua việc tích cực tham gia vào các cơ chế nhân quyền của Liên Hợp quốc, tiêu biểu như việc đảm nhiệm vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016, 2023 – 2025 và 2026 – 202817 cũng như việc thực hiện các khuyến nghị trong cơ chế Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR). Những hoạt động này cho thấy, Việt Nam đang ngày càng chủ động tham gia vào các diễn đàn quốc tế về quyền con người, qua đó góp phần nâng cao vị thế của mình trong cộng đồng quốc tế.
Thứ ba, tư tưởng ngoại giao nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự kết hợp giữa lợi ích quốc gia và các giá trị phổ quát của nhân loại trong chính sách đối ngoại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt quyền độc lập của dân tộc Việt Nam trong cùng hệ chuẩn mực với các giá trị phổ quát của tự do, bình đẳng và quyền sống đã thể hiện một tầm nhìn chiến lược về khả năng gắn kết giữa lợi ích dân tộc và các giá trị chung của nhân loại. Trong bối cảnh quan hệ quốc tế hiện nay, khi các quốc gia vừa phải bảo vệ lợi ích quốc gia của mình, vừa phải tham gia vào các cơ chế hợp tác quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề chung của nhân loại, như: phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, bình đẳng giới hay quyền của các nhóm yếu thế. Việt Nam chủ trương xây dựng nền ngoại giao “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển”; đồng thời, tích cực tham gia vào các cơ chế đa phương nhằm thúc đẩy hòa bình, phát triển và bảo đảm quyền con người18. Điều này cho thấy, tư tưởng gắn kết giữa lợi ích dân tộc và các giá trị phổ quát của nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được vận dụng trong đường lối đối ngoại của Việt Nam hiện nay.
Thứ tư, tư tưởng ngoại giao nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gợi mở một cách tiếp cận mang tính đối thoại và hợp tác trong việc xử lý các vấn đề nhân quyền trong quan hệ quốc tế. Trong tư duy chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc bảo vệ quyền con người luôn gắn liền với các giá trị hòa bình, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia. Ngay trong những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định mong muốn của Việt Nam được thiết lập quan hệ hữu nghị với tất cả các quốc gia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và bình đẳng. Cách tiếp cận này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi các vấn đề nhân quyền thường được đặt ra trong quan hệ song phương và đa phương giữa các quốc gia. Việc thúc đẩy đối thoại và hợp tác trong lĩnh vực nhân quyền không chỉ góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia mà còn giúp hạn chế xu hướng chính trị hóa vấn đề nhân quyền trong quan hệ quốc tế. Chính vì vậy, trong thực tiễn đối ngoại hiện nay, Việt Nam chủ trương thúc đẩy các cơ chế đối thoại và hợp tác về nhân quyền với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, qua đó, tăng cường trao đổi kinh nghiệm và tìm kiếm các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.
4. Kết luận
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng các nguyên lý nhân quyền phổ quát trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ mang ý nghĩa tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn thể hiện một tư duy chính trị – đối ngoại sâu sắc. Thông qua việc viện dẫn và phát triển các giá trị nhân quyền được thừa nhận rộng rãi trong lịch sử tư tưởng chính trị hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt quyền độc lập của dân tộc Việt Nam trong cùng hệ chuẩn mực với các giá trị phổ quát của tự do, bình đẳng và quyền sống của con người, qua đó, quốc tế hóa vấn đề độc lập của Việt Nam và khẳng định tính chính danh của nhà nước cách mạng. Tư duy đó đặt nền tảng cho một cách tiếp cận đối ngoại gắn lợi ích dân tộc với các giá trị chung của nhân loại.
Trong bối cảnh hiện nay, định hướng này được nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt trong định hướng chiến lược được xác lập tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng “Phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp quốc”19. Từ góc nhìn đó, diễn ngôn nhân quyền trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn gợi mở những cơ sở tư tưởng quan trọng cho việc tiếp tục phát huy vai trò của Việt Nam như một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế hiện nay.
Chú thích:
1. Bài viết là sản phẩm của đề tài: Đặc sắc trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay. Trường Đại học Thái Bình, mã số ĐHTB-ĐT19/25-26.
2. Nguyễn Hữu Phước, Đỗ Thành Đô (2020). Sự phát triển tư tưởng chính trị độc lập dân tộc qua ba bản Tuyên ngôn của Việt Nam. Tạp chí Khoa học Tài chính Kế toán, Đại học Tài chính Kế toán, số 19, tr. 3 – 8.
3. Đỗ Thị Khánh Nguyệt (2024). Từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam đến tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học. Trường Đại học Hải phòng, số 68 (tháng 11/2024), tr.115 – 126.
4. Trần Thị Minh Tuyết (2023). Từ bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc đến việc đả phá luận điệu “khai hóa văn minh”, bảo vệ quyền con người của thực dân Pháp ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Chính trị, số 10/2023, tr. 29 – 35.
5. Phan Xuân Sơn, Lê Thị Thu Hường (2025). Tuyên ngôn Độc lập – những giá trị bất hủ, nguồn cảm hứng bất tận cho nhân dân Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Tạp chí Lý luận Chính trị, số 570 (8/2025), tr. 31 – 38.
6. Trần Văn Lực (2012). Tìm hiểu quan điểm đối ngoại của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập. Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 12/2012, tr. 23 – 27.
7. Naeli Fitria (2023). Exploring the Impact of Human Rights on Diplomatic Relations: A Comparative Analysis of State Interactions. Jurnal Penelitian dan Pengabdian Masyarakat, Volume 03 No. 01 Mei 2023 (306-312), pp. 306 – 312.
8, 10, 11, 12, 13, 14, 15. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 1, 1, 2, 2, 3, 1, 522.
9. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 130 – 133.
16. United Nations (1986). Declaration on the Right to Development. https://www.ohchr.org/en/instruments-mechanisms/instruments/declaration-right-development
17. Việt Nam tái đắc cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2026 – 2028. https://mofa.gov.vn/tin-chi-tiet/chi-tiet/viet-nam-tai-dac-cu-vao-hoi-dong-nhan-quyen-lien-hop-quoc-nhiem-ky-2026-8211-2028-57692-140.html
18. Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/10/24/kien-dinh-duong-loi-doi-ngoai-doc-lap-tu-chu-da-dang-hoa-da-phuong-hoa-quan-he-quoc-te/
19. Toàn văn: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-119260206221643667.htm



