Đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hải Phòng hiện nay

Promoting the application of science and technology in the development of high-tech agriculture in Hai Phong city at present

ThS. Nguyễn Thị Nga
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và yêu cầu phát triển bền vững, nông nghiệp công nghệ cao đang trở thành xu hướng tất yếu của nhiều địa phương. Thành phố Hải Phòng với lợi thế về vị trí địa lý, hạ tầng kỹ thuật và thị trường tiêu thụ lớn có nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đẩy ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, việc ứng dụng còn chưa đồng bộ, quy mô chưa lớn, hiệu quả chưa tương xứng với tiềm năng. Bài viết làm rõ thực trạng và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hải Phòng hiện nay.

Từ khóa: Ứng dụng; khoa học – công nghệ; nông nghiệp; công nghệ cao; thành phố Hải Phòng.

Abstract: In the context of the Fourth Industrial Revolution and the imperative of sustainable development, high-tech agriculture has become an inevitable trend in many localities. Hai Phong city with advantages in geographical location, technical infrastructure, and a large consumer market, possesses favorable conditions to promote the application of science and technology in agricultural production. However, in practice, such applications remain inconsistent and limited in scale, therefore have yet to deliver outcomes commensurate with the city’s potential. This article clarifies the current situation and proposes several solutions to enhance the application of science and technology in the development of high-tech agriculture in Hai Phong today.

Keywords: Application; science and technology; agriculture; high-tech agriculture; Hai Phong City.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển mạnh mẽ, “phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại”1. Đối với thành phố Hải Phòng – một trung tâm kinh tế lớn của vùng Bắc Bộ, việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao không chỉ nhằm bảo đảm an ninh lương thực mà còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, thành phố Hải Phòng đã bước đầu ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ, như: công nghệ sinh học, tự động hóa, công nghệ số vào sản xuất nông nghiệp và đạt được một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, việc ứng dụng khoa học – công nghệ trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao vẫn còn những hạn chế về quy mô, trình độ và hiệu quả. Vì vậy, nghiên cứu và tìm ra các giải pháp đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hải Phòng hiện nay có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

2. Thực trạng ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hải Phòng

Thực hiện Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, từ ngày 01/7/2025, tỉnh Hải Dương sáp nhập với thành phố Hải Phòng và lấy tên là thành phố Hải Phòng. Sau sáp nhập, thành phố Hải Phòng là 1 trong 6 thành phố trực thuộc Trung ương, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 3.200 km², dân số đạt khoảng 4,7 triệu người. Thành phố có 114 đơn vị hành chính cấp cơ sở, bao gồm 45 phường, 67 xã và 2 đặc khu2.

Sau sáp nhập, toàn bộ diện tích nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng ước tính là 130.334 ha, đưa thành phố Hải Phòng trở thành một trong những địa phương có diện tích đất nông nghiệp lớn hàng đầu đồng bằng sông Hồng. Diện tích tự nhiên và quy mô dân số rộng lớn, thành phố Hải Phòng không chỉ củng cố vị thế về công nghiệp và dịch vụ mà còn tạo ra những ưu thế vượt trội, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp3.

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của cấp ủy và chính quyền các cấp ở thành phố Hải Phòng (bao gồm cả tỉnh Hải Dương trước khi sáp nhập), ứng dụng khoa học – công nghệ trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân và thúc đẩy quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.

Thứ nhất, diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sản xuất hữu cơ, áp dụng tiêu chuẩn GAP được mở rộng, đã hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung quy mô lớn. Tính đến cuối năm 2025, toàn thành phố có 948 vùng sản xuất lúa tập trung quy mô từ 10 ha trở lên, diện tích là 14.000 ha; 323 vùng rau quy mô từ 1 ha trở lên diện tích 485 ha; 318 vùng cây ăn quả, quy mô từ 1 ha trở lên, diện tích 500 ha; có 12 khu, vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung với 145 trang trại đang hoạt động hiệu quả; có 100 cơ sở chăn nuôi trang trại được cấp Giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh, 22 cơ sở chăn nuôi áp dụng quy trình VietGAP4.

Thứ hai, hiệu quả kinh tế của nông nghiệp công nghệ cao ngày càng được khẳng định. Thay vì canh tác thủ công, nhiều nông dân đã tiếp cận các thiết bị hỗ trợ hiện đại, như: máy bay bay không người lái phun thuốc trừ sâu, hệ thống tưới nước thông minh, phần mềm theo dõi mùa vụ. Nhờ áp dụng công nghệ, sản lượng và chất lượng nông sản được cải thiện, đồng thời tiết kiệm được nhân công và chi phí sản xuất5.

Thứ ba, việc ứng dụng công nghệ cao giúp giảm lượng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học và quy trình sản xuất thân thiện với môi trường. Theo khảo sát của Sở Nông nghiệp và Môi trường, mô hình cánh đồng công nghệ giúp giảm 30 – 40% nhân công, tăng năng suất từ 5 – 10% so với phương pháp truyền thống. Đồng thời, mô hình còn tiết kiệm 30 – 40% lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, góp phần giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng6. Điều này không chỉ bảo đảm an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên đất, nước và hệ sinh thái nông nghiệp. Đồng thời, quá trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao đã tạo động lực thu hút doanh nghiệp, trí thức trẻ và lao động có trình độ tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp, góp phần đổi mới tư duy sản xuất của nông dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy, ứng dụng khoa học – công nghệ trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hải Phòng vẫn còn có những tồn tại và hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả và tính bền vững của sản xuất nông nghiệp.

(1) Mức độ ứng dụng công nghệ cao chưa đồng đều và chưa thật sự sâu rộng. Việc áp dụng các công nghệ tiên tiến, như: tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ sinh học hay hệ thống quản lý sản xuất thông minh mới chủ yếu tập trung ở một số mô hình, doanh nghiệp hoặc trang trại quy mô lớn. Phần lớn hộ nông dân vẫn sản xuất theo phương thức truyền thống, ứng dụng công nghệ còn mang tính manh mún, thiếu đồng bộ, dẫn đến hiệu quả chưa cao và khó hình thành chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao ổn định.

(2) Chất lượng nguồn nhân lực có chuyên môn cao về sản xuất, chế biến nông sản, biết sử dụng vận hành các thiết bị (tự động, số, thiết bị phân tích…) còn hạn chế7. Đội ngũ lao động nông nghiệp phần lớn chưa được đào tạo bài bản về công nghệ, kỹ thuật số và quản lý sản xuất hiện đại. Khả năng tiếp cận, làm chủ và vận hành các thiết bị, quy trình công nghệ mới còn gặp nhiều khó khăn. Điều này làm giảm hiệu quả đầu tư công nghệ, thậm chí dẫn đến tình trạng “có thiết bị nhưng không khai thác hết công năng”.

(3) Hạ tầng phục vụ ứng dụng khoa học – công nghệ trong nông nghiệp chưa thực sự đồng bộ. Một số vùng sản xuất tập trung vẫn gặp khó khăn về giao thông nội đồng, kho bảo quản và cơ sở chế biến. Bên cạnh đó, hạ tầng số và hệ thống thông tin phục vụ quản lý, giám sát sản xuất nông nghiệp công nghệ cao chưa được đầu tư tương xứng, gây hạn chế trong việc triển khai các mô hình nông nghiệp thông minh, truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường.

3. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi cho việc nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học – công nghệ trong nông nghiệp công nghệ cao.

Cơ chế, chính sách có vai trò định hướng và dẫn dắt quá trình đổi mới khoa học – công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp. Để khoa học – công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hải Phòng, cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh và bổ sung hệ thống chính sách theo hướng đồng bộ, thống nhất và phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

Trước hết, cấp ủy và chính quyền thành phố Hải Phòng cần có chính sách ưu tiên đầu tư cho các dự án nông nghiệp công nghệ cao, nhất là các dự án ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ số, tự động hóa và công nghệ môi trường. Việc xây dựng các khu, vùng nông nghiệp công nghệ cao phải gắn với cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất tham gia đầu tư, thông qua các chính sách về đất đai, tín dụng, thuế và hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật.

Đồng thời, cần ban hành các chính sách khuyến khích nghiên cứu, thử nghiệm và chuyển giao tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, trong đó chú trọng cơ chế đặt hàng nghiên cứu, hỗ trợ kinh phí cho các đề tài, dự án khoa học gắn với nhu cầu thực tiễn của ngành nông nghiệp. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong quản lý và triển khai các chương trình khoa học – công nghệ phục vụ nông nghiệp công nghệ cao có ý nghĩa quan trọng nhằm tránh chồng chéo, phân tán nguồn lực.

Bên cạnh đó, cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng cho hoạt động chuyển giao công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực nông nghiệp, qua đó, tạo niềm tin cho các tổ chức, cá nhân khi đầu tư nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới. Khi hệ thống cơ chế, chính sách được hoàn thiện theo hướng minh bạch, ổn định và khuyến khích đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ sẽ có điều kiện thuận lợi để thâm nhập sâu vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của thành phố Hải Phòng.

Hai là, đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng khoa học – công nghệ và cơ sở vật chất phục vụ nông nghiệp công nghệ cao.

Hạ tầng khoa học – công nghệ và cơ sở vật chất kỹ thuật là nền tảng vật chất để triển khai các ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp. Đối với thành phố Hải Phòng, việc đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng cần được thực hiện theo hướng hiện đại, đồng bộ và phù hợp với đặc thù của nông nghiệp đô thị và nông nghiệp ven biển.

Trước hết, cấp ủy và chính quyền thành phố cần chú trọng xây dựng và hoàn thiện các khu, vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao gắn với hệ thống nhà kính, nhà màng, hệ thống tưới tiêu tự động, kho lạnh bảo quản nông sản và các trung tâm sơ chế, chế biến. Việc đầu tư này không chỉ giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn tạo điều kiện để áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến, giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng của nông sản.

Cùng với đó, cần quan tâm phát triển hạ tầng số phục vụ nông nghiệp, bao gồm: hệ thống mạng internet, cơ sở dữ liệu nông nghiệp, nền tảng số phục vụ quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong nông nghiệp sẽ giúp người sản xuất tiếp cận nhanh hơn với tri thức khoa học, thị trường và các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật. Mặt khác, đầu tư cho các cơ sở nghiên cứu, thử nghiệm và trình diễn công nghệ cũng là một yêu cầu quan trọng. Các trung tâm nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi, các phòng thí nghiệm về công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch cần được nâng cấp cả về trang thiết bị và nhân lực để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Thông qua hệ thống này, các tiến bộ khoa học – kỹ thuật có thể được thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện trước khi nhân rộng ra sản xuất đại trà.

Ngoài ra, việc đầu tư hạ tầng logistics phục vụ nông nghiệp, đặc biệt là hệ thống giao thông kết nối các vùng sản xuất với khu chế biến và thị trường tiêu thụ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao. Khi hạ tầng khoa học – công nghệ và cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư đồng bộ, hiện đại, nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hải Phòng sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển theo hướng bền vững và cạnh tranh.

Ba là, phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ và nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ cho người lao động trong nông nghiệp.

Cấp ủy và chính quyền thành phố Hải Phòng cần có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật chuyên sâu về nông nghiệp công nghệ cao, nhất là trong các lĩnh vực, như: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, tự động hóa và quản lý chất lượng nông sản. Việc hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học trong và ngoài nước để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ của địa phương.

Đồng thời, cần chú trọng đào tạo, tập huấn cho đội ngũ cán bộ quản lý nông nghiệp các cấp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận, tổ chức và điều hành các chương trình, dự án ứng dụng khoa học – công nghệ; củng cố hoạt động của cán bộ chuyên trách phụ trách mảng nông nghiệp ở các địa phương đủ trình độ, năng lực để tham mưu cấp ủy và chính quyền chỉ đạo điều hành sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, hướng dẫn nông dân áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ bảo vệ thực vật, thú y chăn nuôi, khuyến nông, lâm ngư, thông tin phổ biến kiến thức khoa học, công nghệ đến người nông dân8.

Bên cạnh đó, việc nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ cho nông dân và người lao động trong nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thông qua các chương trình khuyến nông, đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật, người sản xuất cần được trang bị kiến thức và kỹ năng để sử dụng thành thạo các thiết bị, quy trình và phần mềm quản lý sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Việc phổ biến các mô hình sản xuất tiên tiến, tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm trong và ngoài địa phương cũng là hình thức hiệu quả để nâng cao nhận thức và năng lực ứng dụng khoa học – công nghệ của người dân.

Ngoài ra, cần có chính sách thu hút và đãi ngộ đội ngũ trí thức trẻ, các chuyên gia khoa học – công nghệ tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, nhất là tại các vùng sản xuất tập trung và các doanh nghiệp nông nghiệp. Khi nguồn nhân lực khoa học – công nghệ được phát triển cả về số lượng và chất lượng, quá trình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp sẽ có nền tảng vững chắc để triển khai hiệu quả.

Bốn là, tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong hệ thống đổi mới sáng tạo nông nghiệp và thúc đẩy chuyển giao, thương mại hóa các kết quả khoa học – công nghệ.

Cần phát huy vai trò của doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao như một trung tâm của quá trình đổi mới sáng tạo, gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu thị trường. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu, logistics nông sản; hỗ trợ hợp tác xã kiểu mới, chuỗi liên kết giá trị và mô hình nông nghiệp gắn du lịch. Thông qua cơ chế hợp tác công – tư, doanh nghiệp có thể phối hợp với các viện, trường để nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện các công nghệ mới phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương. Đồng thời, cần tăng cường vai trò của các tổ chức trung gian, như: trung tâm khuyến nông, trung tâm chuyển giao công nghệ, hiệp hội ngành hàng trong việc kết nối giữa nhà khoa học và người sản xuất. Thông qua các hoạt động tư vấn, đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật, các tổ chức này giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng.

Bên cạnh đó, việc thúc đẩy thương mại hóa các sản phẩm khoa học – công nghệ trong nông nghiệp cũng là một yêu cầu quan trọng. Các giống cây trồng, vật nuôi mới, các quy trình kỹ thuật và thiết bị sản xuất cần được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu và đưa ra thị trường một cách bài bản. Điều này không chỉ tạo động lực cho hoạt động nghiên cứu mà còn góp phần nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao.

Mặt khác, cần gắn việc ứng dụng khoa học – công nghệ với phát triển chuỗi giá trị nông sản, từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Thông qua việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và công nghệ bảo quản, chế biến hiện đại, sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao của thành phố Hải Phòng có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu. Khi mối liên kết giữa các chủ thể được củng cố và quá trình chuyển giao, thương mại hóa công nghệ được thúc đẩy, khoa học – công nghệ sẽ thực sự trở thành động lực trực tiếp của sự phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hải Phòng.

4. Kết luận

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hải Phòng hiện nay là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp; đồng thời, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số. Thực tiễn cho thấy, việc ứng dụng các thành tựu về công nghệ sinh học, tự động hóa, công nghệ thông tin và chuyển đổi số đã góp phần thay đổi phương thức sản xuất truyền thống, hình thành các mô hình nông nghiệp hiện đại, thân thiện với môi trường và gắn với chuỗi giá trị. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao hơn, Hải Phòng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp và nông dân đầu tư vào khoa học – công nghệ; tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người sản xuất; đồng thời, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ, kỹ năng công nghệ. Chỉ khi các giải pháp này được triển khai đồng bộ, việc ứng dụng khoa học – công nghệ trong nông nghiệp công nghệ cao mới thực sự trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp của thành phố theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.

Chú thích:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Thông tin toàn cảnh thành phố Hải Phòng sau khi sáp nhập. https://phobienphapluat.vn/thong-tin-toan-canh-tp-hai-phong-sau-khi-sap-nhap-a1568.html.
3. Nông dân Hải Phòng nỗ lực chuyển đổi số. https://vneconomy.vn/nong-dan-hai-phong-no-luc-chuyen-doi-so.htm
4. Hình thành vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn. https://nhandan.vn/hinh-thanh-vung-san-xuat-tap-trung-quy-mo-lon-post927518.html.
5. Hải Phòng ứng dụng công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất. https://thiennhienmoitruong.vn/hai-phong-ung-dung-cong-nghe-nang-cao-hieu-qua-san-xuat.html.
6. Thực trạng chuyển đổi số với phát triển lực lượng sản xuất mới trong nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/11/06/thuc-trang-chuyen-doi-so-voi-phat-trien-luc-luong-san-xuat-moi-trong-nong-nghiep-o-thanh-pho-hai-phong/.
7. Một số giải pháp đẩy mạnh chuyển đổi số với phát triển lực lượng sản xuất mới trong nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/03/mot-so-giai-phap-day-manh-chuyen-doi-so-voi-phat-trien-luc-luong-san-xuat-moi-trong-nong-nghiep-o-thanh-pho-hai-phong-hien-nay/.
8. Đảng bộ thành phố Hải Phòng (2025). Nghị quyết số 09-NQ/ĐH ngày 27/9/2025 Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.