Raising awareness of mental health care among students – a case study of the Academy of Public Administration and Governance
TS. Nguyễn Thị Trang
Học viện Hành chính và Quản trị công
Mai Hồng Nhung, Nguyễn Như Quỳnh
Trần Thị Ánh Dinh, Phan Thị Thanh Huyền
Sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong kỷ nguyên mới, sức khỏe tâm thần của sinh viên đã trở thành một thách thức chiến lược đối với sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực quốc gia. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có đến 10 – 20% người trẻ gặp vấn đề tâm lý, tỷ lệ sinh viên có biểu hiện lo âu, trầm cảm, stress đạt mức báo động trên 25%1. Bài viết tập trung phân tích trường hợp sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ rào cản tâm lý, hoàn thiện môi trường giáo dục lành mạnh và chuyên nghiệp hóa công tác tư vấn. Điều này không chỉ giúp sinh viên hình thành bản lĩnh vững vàng mà còn góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược về quản trị nhân lực trong khu vực công.
Từ khóa: Kỷ nguyên số; sinh viên; sức khoẻ tâm thần; Nghị quyết số 72-NQ/TW; Học viện Hành chính và Quản trị công.
Abstract: In this new era, student mental health has become a strategic challenge for the sustainable development of the nation’s human resources. According to the World Health Organization (WHO), as many as 10–20% of young people experience mental health issues, with the rate of students exhibiting symptoms of anxiety, depression, and stress reaching an alarming level of over 25%¹. This article focuses on analyzing the case of students at the Academy of Public Administration and Governance, thereby proposing solutions to address psychological barriers, foster a healthy educational environment, and professionalize counseling services. This not only helps students develop a strong sense of resilience but also contributes to the successful achievement of strategic goals regarding human resource management in the public sector.
Keywords: Digital Age; students; mental health; Resolution No. 72-NQ/TW; Academy of Public Administration and Governance.
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, vấn đề sức khỏe tâm thần của sinh viên đã và đang trở thành một thách thức chiến lược đối với sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực quốc gia. Theo số liệu kết quả Điều tra Dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, Việt Nam có khoảng 32 – 33 triệu thanh thiếu niên, chiếm khoảng 32 – 33% tổng dân số cả nước. Đây là lực lượng chiếm tỷ lệ cao và có khả năng tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế – xã hội trong hiện tại và tương lai. Thực tiễn, tại Việt Nam, sinh viên hiện nay chủ yếu thuộc thế hệ gen Z (những người sinh ra trong khoảng từ năm 1995 – 2012), lớn lên và trưởng thành trong môi trường thông tin tức thời, mạng xã hội và các hình thức tổ chức nhóm phi chính thức, thế hệ gen Z có khả năng lan truyền cảm xúc, niềm tin và hành vi tập thể với tốc độ nhanh chưa từng có.
Khi các vấn đề xã hội như bất công, thất nghiệp, tham nhũng hay bạo lực học đường, bắt nạt, các trào lưu lệch chuẩn được lan truyền, khuếch đại trên không gian mạng, tốc độ cộng hưởng tâm lý và khả năng huy động hành vi tập thể chẳng hạn tụ tập đông người, phản ứng bộc phát, kích động hoặc các hành vi mang tính đám đông cũng tăng lên rõ rệt. Bên cạnh đó, cùng với sự bùng nổ của công nghệ số, mạng xã hội và các giá trị sống đa dạng khiến sinh viên phải đối diện với những áp lực tâm lý xã hội chưa từng có, từ khủng hoảng bản sắc giá trị, căng thẳng trong học tập, áp lực trong cuộc sống, cô đơn, đến lệ thuộc vào công nghệ, mạng xã hội… Những biểu hiện này không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần cá nhân mà còn phản ánh sự dịch chuyển sâu sắc trong cấu trúc giá trị và kết nối xã hội của thế hệ mới dẫn đến một số vấn đề cấp bách về tâm lý xã hội khác mà sinh viên phải đối mặt, như: khủng hoảng bản sắc và giá trị sống; nghiện điện thoại, mạng xã hội; vấn đề tự sát và tự hại; cảm giác cô đơn; bắt nạt và bạo lực học đường.
2. Chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho sinh viên – vấn đề cấp bách về tâm lý xã hội trong kỷ nguyên số
Việc chăm sóc sức khỏe tâm thần từ lâu cũng đã được công nhận là một trụ cột quan trọng trong sự phát triển toàn diện của con người, có vai trò tương đương với sức khỏe thể chất. Đây không chỉ đơn thuần là rối loạn tâm thần mà còn là trạng thái cân bằng và hài hòa giữa cảm xúc, tư duy và hành vi. Trạng thái này giúp mỗi cá nhân phát huy tiềm năng của bản thân, đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống và xây dựng các mối quan hệ xã hội tích cực.
Bước vào kỷ nguyên mới, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến việc chăm lo sức khoẻ cho Nhân dân. Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã xác định rõ quan điểm chỉ đạo: “Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là mục tiêu, là động lực, là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, giữ vị trí ưu tiên trong các chiến lược, chính sách phát triển; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và mọi người dân”2.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Sức khỏe tâm thần là trạng thái lành mạnh trong đó mỗi cá nhân nhận thức được năng lực của bản thân, có thể đối mặt với những căng thẳng thông thường của cuộc sống, làm việc hiệu quả và đóng góp cho cộng đồng”3. Định nghĩa này cho thấy, sức khỏe tâm thần không chỉ là trạng thái không mắc bệnh mà còn bao gồm khả năng thích nghi, phục hồi và phát triển bản thân trong môi trường xã hội.
Ở Việt Nam, Bệnh viện Tâm thần Trung ương I (Bộ Y tế) cho rằng: “Sức khỏe tâm thần là trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không có các biểu hiện rối loạn, bảo đảm cho con người khả năng điều khiển hành vi và hoạt động phù hợp với môi trường sống”4.
Quan điểm này nhấn mạnh sự ổn định cảm xúc và khả năng thích nghi của con người với môi trường xung quanh và đặc biệt được coi trọng. Soi vào thực tiễn hiện nay, Bộ Y tế đang xây dựng dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh. Theo đó, dự thảo quy định chi tiết các yếu tố nguy cơ mắc rối loạn tâm thần cần đưa vào diện giám sát, bao gồm áp lực học tập, công việc, stress kéo dài và bạo lực gia đình. Cụ thể, theo Điều 43 của dự thảo, bên cạnh việc giám sát người đã mắc các rối loạn tâm thần phổ biến như tâm thần phân liệt, động kinh, trầm cảm, ngành Y tế sẽ giám sát cả người có nguy cơ mắc bệnh5, các dạng giám sát bảo gồm:
Yếu tố tâm lý: Người bị stress kéo dài hoặc sang chấn tâm lý do mất người thân, ly hôn, thất nghiệp; người chịu bạo lực gia đình, xâm hại, tai nạn; người có đặc điểm nhân cách nhạy cảm, dễ lo âu, tự ti; người từng có ý nghĩ, hành vi tự sát.
Yếu tố xã hội và các yếu tố khác: Người bị cô lập xã hội, thiếu hỗ trợ từ gia đình; môi trường sống không an toàn; người chịu áp lực cao, kéo dài về học tập, lao động, kinh tế; người lạm dụng chất kích thích, như: rượu, bia, ma túy, thuốc an thần. Bên cạnh đó, quá trình giám sát cũng thu thập thông tin về số người chịu áp lực học tập, công việc; người bị bạo lực gia đình, học đường; người lạm dụng chất kích thích; hộ gia đình nghèo đói, thất nghiệp. Dự thảo nêu rõ mục đích giám sát là thu thập, phân tích thông tin liên tục, hệ thống nhằm phát hiện sớm người mắc bệnh hoặc có nguy cơ để có biện pháp xử lý kịp thời.
Từ các quan niệm trên có thể thấy, sức khỏe tâm thần là một trạng thái đa chiều, bao gồm sự cân bằng giữa yếu tố tâm lý, cảm xúc và xã hội. Khi các yếu tố này được duy trì ổn định, con người có khả năng phát triển bản thân, thích nghi với môi trường sống và duy trì cuộc sống tích cực. Đối với nhóm đối tượng sinh viên là những thanh niên, chủ nhân tương lai của đất nước, việc chăm sóc sức khoẻ tâm thần là vô cùng quan trọng, bởi “Sức khỏe có tốt, tâm thế mới vững và bản lĩnh chính trị mới kiên định”.
Các biểu hiện của vấn đề sức khoẻ tâm thần dễ dàng được nhận diện qua nhiều khía cạnh trong đời sống tâm lý và hành vi của mỗi sinh viên. Trước hết, sức khỏe tâm thần thể hiện ở khả năng duy trì trạng thái cảm xúc ổn định và tích cực, biết kiểm soát cảm xúc và phản ứng phù hợp trước các tình huống trong cuộc sống. Sinh viên có sức khỏe tâm thần tốt thường có thái độ sống lạc quan, tự tin và có khả năng thích nghi với môi trường học tập, làm việc cũng như các mối quan hệ xã hội.
Bên cạnh đó, sức khỏe tâm thần còn thể hiện ở năng lực nhận thức và quản lý bản thân, bao gồm: khả năng tự nhận thức, xác định mục tiêu cá nhân và ứng phó với căng thẳng trong cuộc sống. Đối với sinh viên, điều này được biểu hiện qua việc duy trì động lực học tập, quản lý thời gian hợp lý và giữ sự cân bằng giữa học tập và đời sống cá nhân. Ngoài ra, sức khỏe tâm thần còn được phản ánh thông qua chất lượng các mối quan hệ xã hội của sinh viên. Người có trạng thái tâm thần lành mạnh thường có khả năng giao tiếp, hợp tác và xây dựng các mối quan hệ tích cực với gia đình, bạn bè và cộng đồng. Từ đó có thể thấy sức khỏe tâm thần là trạng thái đa chiều, bao gồm sự hài hòa giữa cảm xúc, nhận thức và các mối quan hệ xã hội.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng, với quy mô dân số lớn và tiềm năng phát triển mạnh mẽ của Việt Nam, thanh thiếu niên nói riêng và lực lượng nguồn nhân lực từ sinh vên chính là “lợi thế vàng” của đất nước trong giai đoạn mới hiện nay. Bởi vậy, chăm sóc, hỗ trợ sinh viên giải quyết các vấn đề cấp bách về tâm lý nói chung và sức khoẻ tâm thần nói riêng không chỉ mang ý nghĩa xã hội mà còn là điều kiện tiên quyết để Việt Nam tận dụng hiệu quả cơ hội dân số, thúc đẩy tăng trưởng và hướng tới phát triển bền vững.
3. Thực trạng nhận thức của sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công về sức khoẻ tâm thần
Trong bức tranh tổng thể về sức khỏe cộng đồng hiện nay, sức khỏe tâm thần không còn là vấn đề của riêng cá nhân mà đã trở thành một thách thức toàn cầu. Đối với sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công (sau đây viết tắt là Học viện), áp lực này mang một sức nặng đặc thù. Sự đa dạng trong cộng đồng sinh viên tại Học viện không chỉ thể hiện ở quy mô 11.521 sinh viên (năm học 2025 – 2026)5 mà còn nằm ở sự giao thoa giữa các thế hệ nhân sự công vụ tương lai từ khắp mọi miền đất nước. Được đào tạo trong một môi trường học thuật đặc thù với trọng tâm là quản lý nhà nước, chính sách công và khung pháp lý, sinh viên của Học viện hình thành một tư duy hệ thống và khả năng phân tích logic sắc bén. Đặc biệt, với định hướng nghề nghiệp tập trung vào khu vực công – nơi đòi hỏi sự chuẩn mực cao về đạo đức và kỷ luật – sinh viên luôn chú trọng phát triển các năng lực chuyên môn như soạn thảo văn bản, quản lý nhân sự và giải quyết vấn đề trong bối cảnh dịch vụ công.
Đối với sinh viên Học viện, áp lực học tập, định hướng nghề nghiệp, cùng với những tác động từ môi trường số và mạng xã hội có thể tạo ra những căng thẳng tâm lý trong quá trình học tập và rèn luyện. Kết quả khảo sát 2.250 sinh viên tại Học viện (trong đó, tại Hà Nội với 826 sinh viên; Phân hiệu tại TP. Hồ Chí Minh với 903 sinh viên; Phân hiệu tại Đắk Lăk với 186 sinh viên), cho thấy, sự quan tâm của sinh viên đối với chủ đề sức khoẻ tâm thần. Bên cạnh đó đã phản ánh bức tranh thực trạng nhận diện về hoạt động chăm sóc sức khoẻ tâm thần trong sinh viên. Cụ thể như sau: bên cạnh những cơ hội phát triển, sinh viên hiện nay cũng đang phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý ngày càng gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tâm thần. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, như: (1) Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều; (2) Thiếu tập trung hoặc không có hứng thú trong học tập, sinh hoạt; (3) Ngại tiếp xúc với những người khác; (4) Tính tình đổi thay hay cáu gắt, buồn rầu, lo lắng; (5) Cảm thấy bản thân còn thiếu sót, tự ti; (6) Mất nhận thức thoáng qua, hay quên; (7) các vấn đề về tiêu hoá cũng là một nhân tố ảnh hưởng (xem Biểu đồ 1).

Xét trên bình diện chung, sức khỏe tâm thần của sinh viên có nhiều biểu hiện đáng lo ngại, thể hiện qua tỷ lệ gia tăng các vấn đề như căng thẳng, lo âu, trầm cảm và các rối loạn cảm xúc khác. Những vấn đề này không chỉ xuất hiện ở một bộ phận nhỏ mà đang có xu hướng lan rộng trong cộng đồng sinh viên, đặc biệt tại các cơ sở giáo dục đại học ở khu vực đô thị lớn. Điều này cho thấy sức khỏe tâm thần của sinh viên không còn là vấn đề mang tính cá nhân mà đã trở thành một vấn đề mang tính xã hội, cần được nhìn nhận và giải quyết một cách nghiêm túc.
Một trong những biểu hiện phổ biến nhất của thực trạng sức khỏe tâm thần ở sinh viên hiện nay là tình trạng căng thẳng kéo dài. Áp lực học tập, thi cử, khối lượng bài vở lớn cùng với yêu cầu cao về kết quả học tập khiến nhiều sinh viên thường xuyên rơi vào trạng thái mệt mỏi, căng thẳng và kiệt sức về tinh thần. Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt về học bổng, việc làm và cơ hội phát triển sau khi ra trường, áp lực tâm lý đối với sinh viên ngày càng trở nên nặng nề hơn. Thậm chí áp lực về tài chính dễ khiến giới trẻ hiện nay gặp phải vấn đề sức khoẻ tâm thần.
Bên cạnh căng thẳng, lo âu cũng là một vấn đề nổi bật trong thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên. Lo âu ở sinh viên thường liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau, như kết quả học tập, các mối quan hệ xã hội, vấn đề tài chính và định hướng tương lai. Nhiều sinh viên thường xuyên cảm thấy bất an, lo lắng kéo dài mà không xác định rõ nguyên nhân cụ thể. Tình trạng lo âu này nếu diễn ra trong thời gian dài có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tập trung, hiệu quả học tập và chất lượng cuộc sống của sinh viên. Không ít sinh viên rơi vào trạng thái buồn bã kéo dài, mất động lực học tập, giảm hứng thú với các hoạt động thường ngày và có xu hướng thu mình khỏi các mối quan hệ xã hội. Trầm cảm không chỉ ảnh hưởng đến đời sống tinh thần mà còn tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất, làm suy giảm năng lượng, rối loạn giấc ngủ và ăn uống. Trong những trường hợp nghiêm trọng, trầm cảm có thể dẫn đến các hành vi tiêu cực, thậm chí là ý nghĩ tự làm hại bản thân.
Như vậy, có thể thấy, sự thiếu cân bằng này nếu kéo dài có thể gây ra những hệ lụy lâu dài đối với sự phát triển toàn diện của sinh viên. Một thực tế đáng chú ý là mặc dù gặp nhiều vấn đề về sức khỏe tâm thần, không ít sinh viên vẫn chưa có nhận thức đầy đủ hoặc chưa sẵn sàng tìm kiếm sự hỗ trợ. Tâm lý e ngại, sợ bị đánh giá, kỳ thị hoặc cho rằng các vấn đề tâm lý là dấu hiệu của sự yếu đuối khiến nhiều sinh viên lựa chọn im lặng và tự chịu đựng. Điều này làm cho các vấn đề sức khỏe tâm thần trở nên nghiêm trọng hơn và khó được phát hiện, can thiệp kịp thời. Chính vì vậy, cần triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao nhận thức cho sinh viên về chăm sóc sức khoẻ tâm thần trong giai đoạn hiện nay.
4. Đề xuất một số giải pháp
Thứ nhất, xây dựng chiến lược truyền thông tổng thể, dài hạn về chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho sinh viên.
Để xây dựng được chiến lược truyền thông tổng thể, dài hạn về chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho sinh viên, Học viện cần tập trung vào việc xác lập hành lang pháp lý nội bộ, chuyển hóa các thông điệp truyền thông thành các quy định mang tính cam kết của nhà trường đối với sinh viên. Đây là nền tảng bền vững nhất để nâng cao nhận thức cho sinh viên về sức khoẻ tâm thần và sẽ trở thành một phần của văn hóa học đường của sinh viên trường Đảng.
(1) Chuẩn hóa và ban hành danh mục các quy định về hỗ trợ sức khoẻ tâm thần. Học viện cần rà soát, bổ sung và ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về quyền lợi của sinh viên trong việc tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ tâm lý. Việc văn bản hóa các cam kết về bảo mật thông tin, quy trình tiếp nhận phản hồi và các hình thức hỗ trợ đặc biệt như bảo lưu kết quả học tập, miễn giảm áp lực thi cử tạm thời cho sinh viên có xác nhận bất ổn tâm lý, sẽ tạo niềm tin tuyệt đối cho người học. Khi “nhận thức” được bảo đảm bằng “quy định”, sinh viên sẽ cởi mở hơn trong việc chia sẻ vấn đề của mình.
(2) Lồng ghép tiêu chí sức khoẻ tâm thần vào Quy chế quản lý sinh viên và Quy tắc ứng xử của Học viện. Cần bổ sung các điều khoản về tôn trọng sự khác biệt, chống kỳ thị đối với các vấn đề tâm thần vào Quy tắc ứng xử văn hóa học đường. Đồng thời, lồng ghép nội dung sức khoẻ tâm thần vào tiêu chí đánh giá rèn luyện sinh viên theo hướng khuyến khích các hoạt động tự chăm sóc bản thân và tham gia cộng đồng. Việc lồng ghép này giúp hoạt động truyền thông có điểm tựa pháp lý vững chắc, từ đó thay đổi nhận thức của sinh viên từ việc coi sức khoẻ tâm thần là “vấn đề cá nhân” sang “trách nhiệm và quyền lợi của người học”.
(3) Lồng ghép kiến thức về chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho sinh viên vào chương trình giảng dạy. Việc tích hợp nội dung về sức khỏe tâm thần vào các học phần chính khóa và hoạt động ngoại khóa sẽ giúp sinh viên tiếp cận kiến thức một cách hệ thống, khoa học và bền vững, thay vì chỉ qua các chiến dịch truyền thông ngắn hạn. Nội dung có thể bao gồm kỹ năng nhận diện căng thẳng, quản lý cảm xúc, cân bằng học tập – cuộc sống, xây dựng mối quan hệ lành mạnh và tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần thiết. Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy cần mang tính trải nghiệm, như: thảo luận nhóm, tình huống thực tiễn, thực hành kỹ năng thư giãn hoặc quản trị thời gian để tăng tính ứng dụng.
Thứ hai, ban hành quy chế phối hợp giữa các đơn vị chức năng. Học viện cần ban hành quy chế phối hợp giữa Phòng Công tác sinh viên, các khoa, ban chuyên môn và Đoàn Thanh niên trong việc nhận diện, truyền thông và xử lý các vấn đề sức khoẻ tâm thần. Việc quy định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong văn bản giúp hoạt động truyền thông được triển khai đồng bộ, xuyên suốt từ cấp Học viện đến từng chi đoàn. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả truyền thông mà còn thể hiện tinh thần “Lấy người học làm trung tâm” một cách thiết thực nhất theo đúng tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Thứ ba, xây dựng bộ thông điệp truyền thông định hướng “quản trị bản thân”.
Thay vì các thông điệp khoa học khô khan, nội dung truyền thông cần gắn liền với hình ảnh người cán bộ, công chức, viên chức hiện đại qua khẩu hiệu: “Bản lĩnh chính trị đi đôi với sức khỏe tinh thần vững vàng”, hướng đến mục tiêu “Sức khỏe tốt – Tâm thế vững – Chính trị kiên định”. Nội dung này góp phần xây dựng “lá chắn tinh thần” giúp sinh viên thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số. Việc chuyên nghiệp hóa chủ thể truyền thông và kiểm soát chặt chẽ chất lượng nội dung sẽ trực tiếp nâng cao uy tín của nguồn tin đối với sinh viên.
Thứ tư, đa dạng hóa các kênh truyền thông số và xây dựng các mô hình truyền thông mới.
Trong bối cảnh sinh viên thế hệ Gen Z có xu hướng tiếp cận thông tin chủ yếu thông qua mạng xã hội, việc đổi mới phương thức truyền thông về sức khoẻ tâm thần tại Học viện cần chuyển từ mô hình truyền thông truyền thống, một chiều sang các nền tảng truyền thông số có tính tương tác cao. Theo đó, Học viện có thể phát triển các chuyên mục truyền thông dưới dạng podcast, video ngắn, infographic, livestream tư vấn tâm lý trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, TikTok hoặc website chính thức của Học viện. Các nội dung như “Chuyện quản trị – chuyện tâm hồn” hay “Sinh viên hỏi – chuyên gia trả lời”. Giải pháp này giúp xóa bỏ khoảng cách giữa nhà trường và sinh viên, tạo ra môi trường tương tác ẩn danh, từ đó, gia tăng tỷ lệ tiếp cận và phản hồi của đối tượng đối với các thông điệp sức khoẻ tâm thần.
Thực tiễn cho thấy, một số mô hình hoạt động cộng đồng đã góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống tinh thần cho sinh viên. Tiêu biểu như mô hình “Đan yêu thương – Gửi trọn tình yêu nước” tại Hà Nội, thông qua hoạt động đan thủ công và các hoạt động tình nguyện đã tạo không gian sinh hoạt tích cực, giúp sinh viên rèn luyện sự kiên nhẫn, giảm áp lực tâm lý và tăng cường sự gắn kết. Bên cạnh đó, các “Cuộc thi sắc đẹp học đường” được tổ chức tại các Phân hiệu Học viện, như Đà Nẵng và Đắk Lắk cũng tạo môi trường để sinh viên thể hiện sự tự tin, giao lưu và phát triển bản thân, qua đó, góp phần nâng cao trạng thái tinh thần tích cực.
Trên cơ sở những kinh nghiệm thực tiễn, nhóm nghiên cứu đề xuất Học viện có thể phát triển mô hình truyền thông xây dựng mô hình “Văn hóa trường Đảng”, gắn với các hoạt động giáo dục đạo đức công vụ, diễn đàn sinh viên về trách nhiệm xã hội và xây dựng môi trường học tập kỷ cương, nhân văn. Mô hình này không chỉ góp phần bồi dưỡng bản lĩnh chính trị và ý thức trách nhiệm của sinh viên mà còn tạo nền tảng tinh thần tích cực, hỗ trợ nâng cao sức khỏe tâm thần trong quá trình học tập và rèn luyện.
Thứ năm, ứng dụng phương pháp truyền thông ngang hàng và phát huy vai trò xung kích của Đoàn Thanh niên.
Giải pháp này tập trung vào việc tận dụng sức ảnh hưởng của các thủ lĩnh sinh viên, Ban cán sự lớp và các Câu lạc bộ. Thông qua việc bồi dưỡng kiến thức sức khoẻ tâm thần cho đội ngũ này, Học viện có thể hình thành mạng lưới truyền thông vệ tinh, lan tỏa thông điệp một cách tự nhiên và gần gũi nhất. Phương thức truyền thông “từ sinh viên đến sinh viên” giúp giảm thiểu rào cản tâm lý e ngại đối với các vấn đề nhạy cảm, từ đó nâng cao hiệu quả nhận thức của người học. Bên cạnh đó, cần chú trọng lan tỏa các mô hình, cách làm hay trong sinh viên, phát huy các giá trị tích cực theo phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”.
Thông qua việc tuyên dương những tấm gương sinh viên có lối sống tích cực, tinh thần vượt khó, tham gia các hoạt động ngoại khóa hoặc các sáng kiến hỗ trợ bạn bè về mặt tinh thần, nhà trường có thể tạo ra những hình mẫu truyền cảm hứng trong cộng đồng sinh viên. Những câu chuyện tích cực này khi được truyền thông rộng rãi trên các kênh của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên và các nền tảng truyền thông số sẽ góp phần định hướng giá trị sống lành mạnh, củng cố niềm tin và tạo động lực tinh thần cho sinh viên.
Thứ sáu, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông định kỳ.
Để bảo đảm các hoạt động đi vào thực chất, Học viện cần xây dựng hệ thống đánh giá khoa học dựa trên 3 nhóm tiêu chí: (1) Chủ thể truyền thông (đánh giá tính chính xác của nội dung và sự đa dạng của hình thức truyền thông); (2) Đối tượng tiếp nhận (đo lường tỷ lệ tiếp cận và mức độ tương tác, phản hồi của sinh viên); (3) Kết quả đạt được (đánh giá sự thay đổi về nhận thức, thái độ và hành vi chủ động chăm sóc sức khỏe tâm lý). Đây là cơ sở quan trọng để Học viện điều chỉnh nội dung và phương thức truyền thông phù hợp với đặc điểm tâm lý sinh viên.
Chú thích:
1.World Health Organization – WHO (2021). Mental health and COVID-19: Early evidence of the pandemic’s impact. https://www.who.int/publications
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
3. World Health Organization – WHO (2022). World mental health report: Transforming mental health for all.
4. Bộ Y tế (2022). Tài liệu truyền thông – giáo dục sức khỏe. Hà Nội.
5. Dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh. https://chinhphu.vn/du-thao-vbqppl/du-thao-thong-tu-quy-dinh-chi-tiet-mot-so-dieu-cua-luat-phong-benh-7750.
6. Đoàn Thanh niên Học viện Hành chính và Quản trị công (2025). Báo tổng kết công tác Đoàn năm 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
2. Bộ Y tế (2023). Đề án tăng cường hệ thống chăm sóc sức khoẻ tâm thần giai đoạn 2024 – 2030.
3. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2025). Báo cáo những vấn đề cấp bách về tâm lý xã hội của thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay.
4. Ban hành tài liệu truyền thông về sức khỏe tâm thần của học sinh phổ thông. https://baochinhphu.vn/ban-hanh-tai-lieu-truyen-thong-ve-suc-khoe-tam-than-cua-hoc-sinh-pho-thong-102231117094534689.htm.
5. Trần Thị Minh Đức (2019). Tâm lý học sức khỏe. H. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.



