Hiệu lực đối kháng trong quan hệ thế chấp hàng hóa luân chuyển: kinh nghiệm quốc tế và gợi mở cho Việt Nam

Opposability of security interests in floating goods: comparative legal perspectives and implications for Viet Nam

ThS. Võ Văn Đạt Em
Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Thực tiễn, các quy định pháp luật còn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến hiệu lực đối kháng trong quan hệ thế chấp bằng hàng hóa luân chuyển. Bài viết này nhằm tăng cường tính minh bạch, bảo đảm an toàn pháp lý và nâng cao hiệu quả trong giao dịch bảo đảm, thông qua việc phân tích và so sánh với các quy định pháp luật của các nước trên thế giới.

Từ khóa: Hiệu lực đối kháng; biện pháp bảo đảm; hàng hóa luân chuyển; ưu tiên thanh toán.

Abstract: In practice, existing legal regulations continue to reveal numerous issues concerning the opposability of security interests in relationships involving mortgages over floating goods. This article aims to enhance transparency, ensure legal certainty, and improve the effectiveness of secured transactions by analyzing and comparing legal frameworks across countries worldwide.

Keywords: opposability of security interests; security interests; floating goods; priority of claims.

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, theo số liệu từ Cơ quan Hải quan và Thuế, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam có thể cán mốc 900 tỷ USD vào năm 20251. Để có thể tạo nên thành quả đó là một sự nỗ lực của tất cả các doanh nghiệp, huy động tối đa nguồn lực: nhân lực, tài sản và sự điều chỉnh chính sách kịp thời của Nhà nước.

Trong chu kỳ hoạt động kinh doanh để có thể huy động vốn, các doanh nghiệp có bất động sản khi thiếu hụt nguồn vốn kinh doanh họ sử dụng loại tài sản này để thế chấp tại các ngân hàng, nhưng đa phần các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng có sẵn tài sản là bất động sản, do dòng tiền nằm trong tài sản lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh nên chủ yếu tài sản hiện có là sản phẩm đã hoàn thành, sản phẩm dở dang, nguyên phụ liệu, hàng lưu kho. Do đó, để vay vốn, các doanh nghiệp thường chọn giải pháp thế chấp hàng hóa luân chuyển là một giải pháp thuận lợi, nhanh chóng và khá phổ biến hiện nay.

Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp lý có liên quan đã thể hiện rõ ràng việc cho phép dùng hàng hóa luân chuyển (hay còn gọi là hàng hóa luân chuyển trong sản xuất, kinh doanh) để thế chấp bảo đảm nghĩa vụ vay nợ. Tuy nhiên, do tính phức tạp và biến động liên tục của hàng hóa luân chuyển nên vẫn còn những điểm hạn chế nhất định mà pháp luật còn chưa kịp điều chỉnh, dẫn đến xung đột lợi ích giữa các bên tham gia giao dịch, đặc biệt là vấn đề hiệu lực đối kháng đối với bên thứ ba.

Trong các công trình nghiên cứu trước đây, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào giao dịch bảo đảm nói chung hoặc thế chấp đối với các loại tài sản truyền thống khác, trong khi vấn đề hiệu lực đối kháng trong thế chấp hàng hóa luân chuyển vẫn chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu và hệ thống. Do đó, nhằm làm rõ và tiếp cận toàn diện vấn đề này, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp và so sánh để làm sáng tỏ bản chất pháp lý của hàng hóa luân chuyển; cơ chế đăng ký biện pháp bảo đảm nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch của thông tin cũng như việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp có nhiều chủ thể cùng có quyền đối với tài sản thế chấp. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm sự cân bằng lợi ích giữa các chủ thể tham gia giao dịch và nâng cao hiệu quả của các giao dịch bảo đảm bằng hàng hóa luân chuyển.

2. Khái quát về hàng hóa luân chuyển

Khi nói đến hàng hóa chúng ta có thể hình dung ra sự tồn tại dưới dạng vật chất và mang tính kinh tế, đó là sản phẩm do bàn tay, khối óc của con người tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội, giữ vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người, hàng hóa tồn tại song song với sự phát triển của con người, loài người càng văn minh thì sản phẩm càng được cải tiến và hiện đại hơn2. Trong cuộc sống hiện đại những năm gần đây, hàng hóa không chỉ giữ vai trò truyền thống là để thỏa mãn nhu cầu hằng ngày mà hàng hóa còn được dùng làm vật thế chấp tại các ngân hàng để huy vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh tại các doanh nghiệp, với tên gọi là hàng hóa luân chuyển. Tên gọi “hàng hóa luân chuyển” là sự kết hợp của hai cụm từ “hàng hóa”“luân chuyển”, được hiểu là loại hàng hóa được“trao lần lượt từ người nọ, đến người kia hay chỗ nọ đến chỗ kia”3, bao gồm: nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm những hàng hóa này không cố định mà được thay thế, trao đổi, mua bán liên tục thông qua nghiệp vụ xuất – nhập kho thường xuyên tại các doanh nghiệp4.

Quy định của pháp luật Việt Nam, tại Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm trước đây nêu lên định nghĩa về hàng hóa luân chuyển bao gồm: máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, các động sản và các bất động sản khác dùng để trao đổi, mua bán gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh5. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như các văn bản dưới luật hiện hành không nêu lên định nghĩa về hàng hóa luân chuyển mà được thể hiện theo hướng mô tả: hàng hóa luân chuyển là hàng hóa đang tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc đang được lưu giữ trong kho6.  So với các quy định trước đây thay vì nêu lên định nghĩa theo hướng liệt kê chi tiết, mang tính tĩnh và chưa bao quát được loại tài sản này trong Nghị định số 165/1999/NĐ-CP, Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một hướng tiếp cận mới, có sự tiến bộ rõ rệt xác định hàng hóa luân chuyển dựa trên trạng thái tồn kho và vận động trong quá trình sản xuất, kinh doanh phù hợp với nền kinh tế hiện đại, giảm thiểu rủi ro cho các bên tham gia quan hệ bảo đảm.

Thứ nhất, hàng hóa luân chuyển là động sản có đặc điểm dễ suy giảm chất lượng và giá trị theo thời gian. Sự giảm sút này xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau, như: hao mòn tự nhiên do nhiệt độ, thời tiết, điều kiện bảo quản; sự thay đổi về kiểu dáng, mẫu mã không còn phù hợp với nhu cầu thị trường, cũng như hạn sử dụng của hàng hóa. Khi chất lượng bị ảnh hưởng, giá trị kinh tế của hàng hóa theo đó cũng giảm đáng kể. Thực tiễn cho thấy, đối với các mặt hàng có điều kiện bảo quản nghiêm ngặt như thực phẩm đông lạnh, dù được bảo quản đúng tiêu chuẩn, giá trị giảm theo thời gian lưu kho và thời hạn sử dụng còn lại. Ví dụ, thịt trâu đông lạnh nhập khẩu từ Ấn Độ có giá ban đầu 100.000 đồng/kg, nhưng khi hạn sử dụng giảm xuống còn khoảng một nửa, giá bán có thể chỉ còn 60.000 – 70.000 đồng/kg. Điều này cho thấy, hàng hóa luân chuyển thường có vòng đời ngắn và giá trị suy giảm nhanh.

Thứ hai, hàng hóa luân chuyển có tính luân chuyển liên tục. Hàng hóa luân chuyển sinh ra dùng để trao đổi, mua bán đúng như mục đích và kỳ vọng của chủ sở hữu hàng hóa là mong muốn bán được càng nhanh càng tốt để thu hồi vốn và lợi nhuận, đồng thời tái sản xuất cho chu kỳ tiếp theo. Do đó, thông qua các hoạt động mua, bán, nhập kho, xuất kho, trộn lẫn, tiêu hủy…đã làm cho hàng hóa luân chuyển thay đổi liên tục, chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, làm cho việc xác định hàng hóa luân chuyển cụ thể trong quan hệ thế chấp gặp nhiều khó khăn.

Các đặc điểm trên của hàng hóa luân chuyển tác động trực tiếp đến khả năng xác định quyền sở hữu và quyền bảo đảm trong quan hệ dân sự. (1) Tính chất biến đổi liên tục, sự thay đổi về số lượng và chủng loại dẫn đến khó khăn trong việc xác định quyền sở hữu, tại một thời điểm nhất định, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp có vòng quay hàng tồn kho nhanh. (2) Hàng hóa dễ bị tiêu hao, biến đổi hoặc được thay thế trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dẫn đến việc quyền sở hữu không gắn với từng danh mục hàng hóa cụ thể mà mang tính “động”, đóng vai trò phụ thuộc vào toàn bộ khối tài sản luân chuyển chung. Điều này đã làm mờ nhạt đi ranh giới giữa các hàng hóa đã chuyển giao, hàng hóa đang trong quá trình sử dụng, hàng hóa được hình thành mới. Đối với bên nhận bảo đảm, các đặc điểm trên làm gia tăng rủi ro, do tài sản có thể bị giảm sút nhanh về giá trị hoặc có thể không còn tồn tại để xử lý khi bên có nghĩa vụ vi phạm. Do đó, quy định pháp luật cần phải có sự điều chỉnh phù hợp để dung hòa lợi ích của các bên trong quan hệ bảo đảm.

3. Khái quát thế chấp hàng hóa luân chuyển

Thế chấp hàng hóa luân chuyển là một dạng tài sản đặc biệt của chế định thế chấp tài sản. Đối tượng thế chấp là tài sản không xác định cụ thể, riêng rẽ mà đó là một khối tài sản luôn vận động và thay đổi liên tục trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể là Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, hàng hóa dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm hàng hóa trong kho hoặc hàng hóa đang tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh và được mô tả theo giá trị hoặc theo loại7. Cách tiếp cận này cho thấy, pháp luật đã thừa nhận bản chất “động” của tài sản bảo đảm thay vì yêu cầu tài sản đúng hình, không thay đổi như các mô hình thế chấp các tài sản truyền thống (ô tô, tàu bay, tàu biển).

Quan hệ thế chấp hàng hóa luân chuyển gắn liền với chế định thế chấp tài sản hình thành trong tương lai. Tại thời điểm xác lập giao dịch thế chấp, một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc phạm vi thế chấp chưa hình thành hoặc có thể sẽ bị bán ra, thay thế trong quá trình kinh doanh. Quy định pháp luật cho phép số hàng hóa này được bán đi, sử dụng hoặc chuyển hóa sẽ được thay thế bằng hàng hóa mới tương ứng với phần giá trị mà không làm ảnh hưởng đến hay chấm dứt hiệu lực của biện pháp thế chấp. Chính cơ chế này đã khai mở làm nền tảng pháp lý giúp cho doanh nghiệp tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường, đồng thời cũng bảo đảm được nghĩa vụ gắn với một tài sản có giá trị tương đương.

Đây là biện pháp bảo đảm đặc biệt, nên bản chất pháp lý cũng đặt ra nghĩa vụ quản lý tài sản đối với bên thế chấp. Ngoài việc bảo quản tài sản, bên có nghĩa vụ còn có nghĩa vụ duy trì giá trị tài sản thế chấp, khả năng kiểm soát và truy nguyên nguồn gốc của khối tài sản thuộc phạm vi bảo đảm. Thể hiện qua khả năng tổ chức, vận hành kho bãi và quy trình xuất – nhập – tồn kho, không thực hiện các hành vi làm hư hỏng, suy giảm nghiêm trọng giá trị hàng hóa. Để cân bằng lợi ích và hạn chế những rủi ro phát sinh từ loại tài sản đảm bảo này pháp luật cho phép bên nhận bảo đảm được quyền kiểm kê, giám sát tài sản thế chấp, yêu cầu bên thế chấp cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến lô hàng, đồng thời được hưởng quyền ưu tiên thanh toán không chỉ đối với hàng hóa ban đầu mà ngay cả đối hàng hóa thay thế hoặc giá trị thu được từ việc xử lý hàng hóa. Các quyền này bảo đảm tính vận động của hàng hóa luân chuyển nhưng không làm mất đi giá trị bảo đảm nghĩa vụ. Đồng thời, duy trì vị thế pháp lý ưu tiên thanh toán của bên có quyền đối với tài sản bảo đảm.

Khác với Việt Nam một số nước thuộc hệ thống Common law, như: Anh, Hoa Kỳ, Ôtxtraylia, Canada, áp dụng mô hình bảo đảm động (floating chage) cơ chế hoạt động của biện pháp bảo đảm này cho phép bên nhận thế chấp có quyền đối với tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai của doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp được tự do buôn bán, trao đổi, thay thế hàng hóa trong quá trình kinh doanh bình thường. Cơ chế hoạt động của loại hình bảo đảm này được chia thành hai giai đoạn cụ thể. Giai đoạn một, tài sản được bảo đảm theo dạng treo lơ lửng, mang tính linh hoạt, không gắn với hàng tài sản cụ thể; bên thế chấp có quyền định đoạt tài sản mà không cần có sự đồng ý của chủ nợ; ở giai đoạn này, chủ nợ có quyền ưu tiên tiềm tàng đối với tài sản nói chung. Sang giai đoạn hai nếu xảy ra các sự kiện, như: bên có nghĩa vụ mất khả năng thanh toán, vi phạm nghĩa vụ nghiêm trọng, mở thủ tục phá sản. Giai đoạn này, tài sản sẽ bị “đóng băng” và chuyển hóa thành (fixed charge) quyền ưu tiên của chủ nợ được gắn với tài sản hiện hữu. Từ thời điểm này, con nợ sẽ mất khả năng định đoạt tài sản và chủ nợ thực thi quyền xử lý tài sản để thu hồi nợ8. Mô hình floating charge được thiết kế để dung hòa lợi ích giữa các bên và bảo đảm cho bên nhận bảo đảm quyền ưu tiên khi bên có nghĩa vụ vi phạm9.

4. Hiệu lực đối kháng trong giao dịch bảo đảm

Pháp luật Việt Nam “hiệu lực đối kháng” là quyền dân sự đã được công nhận hợp pháp không chỉ ràng buộc các đối tượng trực tiếp tham gia giao dịch mà bắt buộc người thứ ba phải tôn trọng, kể cả người thứ ba không biết hoặc không tham gia vào quan hệ phát sinh quyền đó. Bộ luật Dân sự năm 2015 không đưa ra định nghĩa khái quát về hiệu lực đối kháng nhưng điều này được công nhận trong môt số quy định về quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, đặc biệt là các quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng như: kể từ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm, chuyển giao tài sản hoặc thông báo. Hiệu lực đối kháng phản ánh quyền dân sự hoàn chỉnh, quyền này chỉ thực sự được pháp luật bảo vệ một cách đầy đủ khi có yêu sách từ người thứ ba. Chế định này nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch trong các giao dịch và an toàn pháp lý trong giao lưu dân sự, tạo cơ sở cho bên thứ ba nhận diện được trạng thái hàng hóa và từ đó đi đến quyết định phân bổ rủi ro một cách hợp lý.

Trong thế chấp hàng hóa luân chuyển, cơ chế xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo pháp luật Việt Nam quy định theo hướng mở, tức là để cho các bên lựa chọn theo hướng tự nguyện, không bắt buộc đăng ký biện pháp bảo đảm mà để các bên tự thỏa thuận10. Điều 297 và 298 Bộ luật Dân sự quy định hiệu lực đối kháng phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm một cách hợp pháp11. Đăng ký biện pháp bảo đảm cũng là cơ chế công khai hóa duy nhất cho phép bên thứ ba nhận biết được sự tồn tại của quyền bảo đảm đối với hàng hóa đang lưu thông.

Hiệu lực đối kháng là một quyền đã được pháp luật công nhận và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ trước bên thứ ba có yêu sách về tài sản nếu đáp ứng điều kiện theo pháp luật quy định, nghĩa là có đăng ký biện pháp bảo đảm. Đối với hàng hóa luân chuyển, khi thế chấp do bên thế chấp nắm giữ và được quyền bán, thay thế mà không cần thông báo với bên chủ nợ, nên dẫn đến những rủi ro khi con nợ không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Hiệu lực đối kháng giúp xác định rõ ràng về quyền ưu tiên thanh toán, hạn chế rủi ro cho chủ nợ. Bên cạnh đó, hiệu lực đối kháng góp phần bảo vệ người bên thứ ba ngay tình. Qua việc đăng ký giao dịch bảo đảm, họ sẽ biết được tình trạng pháp lý của hàng hóa trước khi đưa ra quyết định giao dịch, góp phần tăng tính minh bạch trong quan hệ thương mại.

5. Thực trạng pháp luật Việt Nam về hiệu lực đối kháng trong thế chấp hàng hóa luân chuyển

Pháp luật Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý nền tảng cho chế định thế chấp tài sản nói chung. Điều 108 và Điều 317 Bộ luật Dân sự cho phép dùng tài sản hình thành trong tương lai để thế chấp, tạo cơ sở quan trọng cho các doanh nghiệp sử dụng hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh để thế chấp. Bên cạnh đó, pháp luật cũng thừa nhận việc mua, bán, trao đổi, thay thế hàng hóa trong quá trình thế chấp là phù hợp với đặc điểm luân chuyển của hàng hóa trong thương mại, tiến gần đến mô hình floating charge. Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm chưa phù hợp với xu hướng của các quốc gia trên thế giới cũng như tính luân chuyển vốn có của loại tài sản này.

Thứ nhất, về vấn đề xử lý tài sản và quyền truy đòi của chủ nợ. Việc pháp luật quy định phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo nguyên tắc chung với các lọai tài sản thế chấp khác (quyền sử dụng đất, ô tô, nhà ở) theo lối truyền thống và cố định với một loại tài sản cụ thể dẫn đến những khó khăn trong vấn đề xác định phạm vi tài sản nào chịu sự ràng buộc trong quá trình luân chuyển hàng hóa của bên nhận thế chấp.

Thứ hai, vấn đề về hiệu lực đối kháng: có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm. Đây có lẽ là phù hợp và chặt chẽ. Tuy nhiên, điều này đã bộc lộ nhược điểm khá lớn đối với loại tài sản là hàng hóa luân chuyển, có thể so sánh như “việc đang ký là cái chuồng, nhưng hàng hóa thì nằm ngoài chuồng”, vì hàng hóa luôn vận động, được bán, thay thế, trao đổi liên tục, có khi tại thời điểm xử lý hàng hóa luân chuyển không còn trong kho, khiến cho việc đăng ký theo hình thức này rất khó được duy trì. Bên cạnh đó tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP được ban hành với những quy định tiến bộ giúp khai thông cho hàng hóa luân chuyển, nhưng chưa giải quyết được vấn đề về hiệu lực đối kháng, không đưa ra được tiêu chí xác định tài sản thế chấp khi xử lý đảm bảo nghĩa vụ khi hàng hóa đã được thay thế, luân chuyển nhiều lần trong chi trình sản xuất, kinh doanh; quy định pháp luật chưa công nhận rõ ràng quyền ưu tiên của bên thế chấp đối với khoản tiển thu được từ việc bán hoặc các khoản phải thu phát sinh từ việc tiêu thụ hàng hóa luân chuyển. Đây là một khoảng trống làm suy giảm đáng kể tính hiệu lực của hiệu lực đối kháng.

Thứ ba, cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm đối với hàng hóa luân chuyển tại Việt Nam hiện nay vẫn mang nặng cách tiếp cận theo hướng mô tả và gắn với từng tài sản cụ thể, chưa được thiết kế theo mô hình đăng ký mang tính thông báo (notice filing) như pháp luật của một số quốc gia có hệ thống giao dịch bảo đảm hiện đại, điển hình là Hoa Kỳ, Ôtxtraylia và Canada. Cách tiếp cận này không phản ánh đầy đủ và kịp thời tính biến động liên tục của hàng hóa luân chuyển. Bên cạnh đó, hệ thống đăng ký hiện hành còn tồn tại những hạn chế nhất định về khả năng kết nối dữ liệu và cơ chế cập nhật tình trạng của hàng hóa theo thời gian thực, qua đó làm suy giảm hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền bảo đảm.

Thực tiễn xét xử một số vụ án tranh chấp phát sinh từ quan hệ cho vay thế chấp bằng hàng hóa luân chuyển tại Việt Nam giữa bên vay, bên cho vay và bên mua hàng cho thấy, Tòa án thường gặp nhiều khó khăn trong việc xác định sự tồn tại của tài sản bảo đảm tại thời điểm phát sinh tranh chấp, cũng như trong việc đánh giá phạm vi trách nhiệm quản lý, giám sát của tổ chức tín dụng. Hệ quả là, trong nhiều trường hợp, mặc dù giao dịch bảo đảm đã được đăng ký hợp lệ, hiệu lực đối kháng của biện pháp bảo đảm vẫn không được công nhận khi hàng hóa bảo đảm không còn tồn tại trên thực tế.

Vì vậy, các quy định pháp luật hiện hành đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa theo kịp với bản chất linh hoạt của loại tài sản này. Những hạn chế trong việc xử lý tài sản, hiệu lực đối kháng và cơ chế đăng ký biện pháp bảo đảm đã làm giảm đáng kể hiệu quả trong bảo đảm quyền của chủ nợ trong thực tiễn. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng linh hoạt hơn, tiệm cận thông lệ quốc tế và phản ánh đúng tính luân chuyển của hàng hóa trong hoạt động kinh doanh.

6. So sánh pháp luật các nước trên thế giới

Tại Hoa Kỳ, pháp luật về biện pháp bảo đảm bằng hàng hóa luân chuyển được xây dựng theo hướng bảo vệ chặt chẽ quyền ưu tiên thanh toán của bên nhận bảo đảm. Điều 9 Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code – UCC) đã kế thừa và phát triển mô hình biện pháp bảo đảm động (floating charge), đồng thời thiết lập cơ chế đăng ký biện pháp bảo đảm theo mô hình thông báo (notice filing). Theo đó, việc đăng ký không yêu cầu mô tả chi tiết từng tài sản cụ thể mà chỉ cần mô tả khái quát phạm vi tài sản bảo đảm, thậm chí có thể ghi nhận đối với “toàn bộ tài sản” của con nợ. Nội dung đăng ký không nhằm công bố chi tiết quyền bảo đảm mà chủ yếu mang tính cảnh báo pháp lý, thông báo cho bên thứ ba về sự tồn tại của một quyền bảo đảm đối với khối tài sản của con nợ. Thông tin đăng ký được tập trung và công bố tại cơ quan đăng ký thống nhất của từng bang (Văn phòng Secretary of State – SOS), qua đó tạo điều kiện cho việc tra cứu nhanh chóng và thuận tiện.

Bên cạnh đó, UCC còn ghi nhận hiệu lực mở rộng của quyền bảo đảm đối với tài sản hình thành sau thời điểm xác lập giao dịch, cũng như đối với các giá trị phát sinh và biến đổi từ tài sản bảo đảm, bao gồm tiền thu được từ việc bán hàng hóa và các khoản phải thu. Cơ chế này góp phần bảo đảm vững chắc vị thế ưu tiên của bên nhận bảo đảm. Đồng thời, UCC cũng dành sự bảo vệ nhất định cho người mua hàng trong hoạt động thương mại thông thường, cho phép họ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hóa ngay cả khi quyền bảo đảm đã được đăng ký hợp pháp, qua đó duy trì dòng chảy của thương mại hàng hóa mà vẫn bảo đảm cân bằng lợi ích với quyền ưu tiên của chủ nợ có bảo đảm12.

Tại các quốc gia như Canada, Úc, New Zealand cũng như Hoa Kỳ, hệ thống pháp luật về bảo đảm tài sản luân chuyển đều kế thừa từ mô hình bảo đảm động (floating charge) và được triển khai thông qua Đạo luật Bảo đảm Tài sản Cá nhân (Personal Property Securities Act – PPSA). Đạo luật này áp dụng chung cho nhiều loại giao dịch liên quan đến hàng hóa, thiết bị, các khoản phải thu, cổ phiếu và các tài sản vô hình khác. Tương tự như UCC, PPSA cho phép quyền bảo đảm mở rộng tự động đối với các tài sản hình thành sau thời điểm xác lập giao dịch, bao gồm hàng hóa mới nhập kho, các khoản phải thu phát sinh và các giá trị thay thế của tài sản bảo đảm. Cơ chế này giúp đảm bảo rằng quyền bảo đảm không bị giới hạn bởi thời điểm đăng ký ban đầu mà có thể bao quát toàn bộ vòng đời kinh doanh của tài sản bảo đảm. Đồng thời, PPSA cũng bảo vệ người mua hàng hóa ngay tình, cho phép họ sở hữu hàng hóa mà không bị ràng buộc bởi quyền bảo đảm đã đăng ký, từ đó duy trì tính linh hoạt và an toàn trong các giao dịch thương mại13.

7. Tham khảo kinh nghiệm các nước và một số góp ý hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam

Thứ nhất, quyền ưu tiên đối với tiền bán hàng. Việc thừa nhận dòng tiền phát sinh từ tài sản bảo đảm như một giá trị thay thế cho chính tài sản đó là một xu hướng pháp lý hiện đại, phù hợp với đặc thù của thương mại hàng hóa và thể hiện cách tiếp cận của pháp luật theo hướng coi trọng giá trị kinh tế của tài sản. Đặc biệt, trong các doanh nghiệp sản xuất và thương mại, tài sản bảo đảm thường có tính luân chuyển cao và liên tục được chuyển hóa thành dòng tiền thực tế. Nếu quyền bảo đảm chỉ gắn chặt với tài sản cụ thể ban đầu thì hiệu lực của biện pháp bảo đảm sẽ bị suy giảm. Việc mở rộng quyền ưu tiên thanh toán sang dòng tiền và giá trị thay thế của tài sản bảo đảm cho phép duy trì tính liên tục của quyền bảo đảm, qua đó bảo vệ tốt hơn lợi ích của bên nhận bảo đảm. Do đó, pháp luật về giao dịch bảo đảm của Việt Nam cần ghi nhận quyền ưu tiên của bên nhận bảo đảm đối với tiền bán hàng và giá trị thay thế của hàng hóa luân chuyển. Đồng thời, cần xác lập nguyên tắc quyền bảo đảm được tự động mở rộng sang các khoản phát sinh từ việc khai thác, bán hoặc thay thế tài sản bảo đảm là cần thiết và phù hợp với tình hình thực tế.

Thứ hai, xác định phạm vi bảo vệ người mua ngay tình. Việc bảo đảm sự thông suốt của quá trình lưu thông hàng hóa trên thị trường là cần thiết. Tuy nhiên, đồng thời cũng cần xác định rõ cơ chế bảo vệ quyền lợi của bên nhận bảo đảm. Pháp luật cần có quy định phân biệt giữa người mua hàng hóa trong giao dịch thông thường, không biết và cũng không buộc phải biết về sự tồn tại của quyền bảo đảm, với các trường hợp mua hàng hóa khác, chẳng hạn như mua với chủ ý tẩu tán tài sản. Ngoài ra, cần làm rõ các tiêu chí về “ngay tình” và “kinh doanh thông thường” nhằm hạn chế sự tùy tiện và nhầm lẫn trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Cách tiếp cận này góp phần bảo đảm niềm tin của thị trường, đồng thời duy trì hiệu lực thực chất của quyền bảo đảm đã được đăng ký.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế đăng ký. Cơ chế đăng ký giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền của bên nhận thế chấp thông qua hiệu lực đối kháng và cơ chế cạnh tranh quyền ưu tiên thanh toán. Do đó, pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa thủ tục đăng ký, đồng thời tăng cường tính công khai, minh bạch của hệ thống đăng ký. Có thể xem xét tiếp thu các mô hình đăng ký hiện đại của Hoa Kỳ và một số quốc gia khác, theo hướng chuyển từ mô hình đăng ký truyền thống hiện nay sang mô hình đăng ký theo thông báo (notice filing). Như đã phân tích, mô hình này, cơ quan đăng ký chỉ thực hiện chức năng tiếp nhận và công bố thông tin do các bên cung cấp, thay vì thẩm tra tính hiệu lực hoặc tính hợp pháp của giao dịch bảo đảm. Bên cạnh đó, cần đơn giản hóa yêu cầu mô tả tài sản bảo đảm, đặc biệt đối với hàng hóa luân chuyển, theo hướng không gắn với từng hàng hóa cụ thể mà mô tả theo tổng thể. Cách tiếp cận này mang lại lợi ích đáng kể về thời gian và chi phí thủ tục, đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thứ tư, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về hàng hóa và tài sản lưu động. Cơ sở dữ liệu về hàng hóa và tài sản lưu động là điều kiện quan trọng để vận hành cơ chế bảo đảm một cách hiệu quả, minh bạch và bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch. Một cơ sở dữ liệu tập trung, đầy đủ và được cập nhật thường xuyên cho phép ghi nhận toàn bộ vòng đời của giao dịch bảo đảm, từ việc xác lập, thay đổi tình trạng pháp lý cho đến chấm dứt quyền bảo đảm. Điều này không chỉ hỗ trợ việc theo dõi, giám sát tài sản bảo đảm mà còn tạo điều kiện để bên thứ ba tiếp cận thông tin về hàng hóa trước khi xác lập giao dịch. Do đó, việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu hiện đại, đồng bộ và có khả năng liên thông sẽ là cần thiết và là động lực quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản lưu động nói chung và hàng hóa luân chuyển nói riêng, góp phần hạn chế các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn.

8. Kết luận

Hiệu lực đối kháng là một trong những công cụ pháp lý cốt lõi, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm trong các giao dịch bảo đảm. Mặc dù hệ thống pháp luật hiện hành đã có những bước tiến đáng kể trong việc hoàn thiện các quy định liên quan, song vẫn chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt trong các quan hệ cho vay thế chấp được bảo đảm bằng hàng hóa luân chuyển. Thực tiễn áp dụng cho thấy các quy định về thế chấp hàng hóa luân chuyển chưa bảo đảm đầy đủ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch, nhất là quyền của bên nhận bảo đảm, đồng thời còn tồn tại sự lạc hậu nhất định so với pháp luật của các quốc gia có nền thương mại phát triển. Do đó, trong thời gian tới, việc nghiên cứu, rà soát và điều chỉnh các quy định pháp luật liên quan đến thế chấp hàng hóa luân chuyển nói chung và cơ chế bảo đảm hiệu lực đối kháng của quyền bảo đảm là hết sức cần thiết. Việc hoàn thiện khung pháp lý này sẽ góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch thông tin, bảo đảm an toàn tín dụng và thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế.

Chú thích:
1. Xuất nhập khẩu 2025 có thể cán mốc kỷ lục 900 tỷ USD. https://thuehaiquan.tapchikinhtetaichinh.vn/xuat-nhap-khau-2025-co-the-can-moc-ky-luc-900-ty-usd-98500.html,
2. Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Đình Kháng, Lê Danh Tốn (2000). Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin. H. NXB. Chính trị quốc gia.
3. Nguyễn Lân (2000). Từ điển từ và ngữ Việt Nam. NXB. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2000.
4. Lê Vũ Nam (chủ biên) (2023). Giáo trình pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ. NXB. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
5. Chính phủ (1999). Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 quy định về giao dịch bảo đảm.
6, 7. Chính phủ (2021). Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
8. Christian Schneiter & Dorothe Wirth. Floating charge as security in debt finance transactions – Analysis from a Swiss law perspective. Schweizerische Zeitschrift für Wirtschafts- und Finanzmarktrecht (SZW), (6/2023).
9. Roy Goode (2018). Principles of Corporate Insolvency Law. Sweet & Maxwell.
10.  Đỗ Văn Đại (2021). Luật các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam, bản án và bình luận bản án. Tập 1. H. NXB. Hồng Đức.
11. Quốc hội (2015). Điều 297, 298 Bộ Luật Dân sự năm 2015
12. American Law Institute & Uniform Law Commission. Official Comment 2 to § 9‑502 (Notice filing). In the Uniform Commercial Code. Legal Information Institute, Cornell Law School. https://www.law.cornell.edu/ucc/9/9-502.
13. Australian Government. Personal Property Securities Act 2009 (Cth). https://www.legislation.gov.au/C2009A00130.