Operation and reform of the public administration system in the new era
TS. Phạm Thị Hồng Thắm
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nghiên cứu, phân tích sự vận hành và cải cách hệ thống hành chính công Việt Nam trong bối cảnh kỷ nguyên phát triển của dân tộc. Trên cơ sở phương pháp phân tích hệ thống và tiếp cận chính sách công, bài viết xem xét từng yếu tố cấu thành của hệ thống hành chính công, bao gồm: thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, nguồn lực khác và thủ tục hành chính, để nhận diện thực trạng và làm rõ yêu cầu đổi mới. Đồng thời, cũng nêu rõ nguyên tắc vận hành hệ thống hành chính công ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Hệ thống hành chính công; vận hành và cải cách hệ thống hành chính công; tổ chức bộ máy; nguồn nhân lực công; thủ tục hành chính.
Abstract: This article examines the operation and reform of Vietnam’s public administration system in the context of the nation’s new era of development. Drawing on system analysis and public policy approaches, the study analyzes the constituent elements of the public administration system, including institutions, organizational structure, human resources, other relevant resources, and administrative procedures, to identify the current situation and clarify reform requirements. On this basis, the article identifies the guiding principle underlying the operation and reform of Vietnam’s public administration system: the Communist Party of Vietnam leads the political system, which requires consistent alignment between the Party’s guidelines and the State’s legal policies. This also constitutes the fundamental operating principle of the public administration system in Vietnam today.
Keywords: Public administration system; public administration reform and operation; organizational structure; public sector human resources; administrative procedures.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam, mỗi giai đoạn lịch sử đều đặt ra những yêu cầu khách quan đòi hỏi quốc gia phải thích ứng nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược đã xác định. Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, được xác lập từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng1. Mục tiêu chiến lược được xác định rõ, đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao2.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục đổi mới đồng bộ và nâng cao hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó hệ thống hành chính công giữ vai trò đặc biệt quan trọng với tư cách là bộ phận trực tiếp tổ chức thực thi chính sách và cung ứng dịch vụ công. Việc vận hành hiệu quả và cải cách hệ thống hành chính công không chỉ là yêu cầu nội tại của quản trị nhà nước mà còn là điều kiện bảo đảm cho phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh mới. Bài viết tiếp cận hệ thống hành chính công dưới góc độ cấu trúc và chức năng, tập trung phân tích các yếu tố cấu thành cơ bản, bao gồm: thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, nguồn lực và thủ tục hành chính. Trên cơ sở đó, nghiên cứu nhận diện thực trạng vận hành, làm rõ những yêu cầu cải cách đặt ra đối với từng yếu tố trong bối cảnh phát triển mới.
2. Về thể chế hành chính công
Thể chế hành chính công ở Việt Nam được vận hành trên nền tảng cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, tạo nên khuôn khổ chính trị – pháp lý xuyên suốt cho toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước. Trên cơ sở đó, quan điểm chỉ đạo của Đảng là xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, với hệ thống pháp luật đồng bộ, được thực thi nghiêm minh, bảo đảm công lý, quyền con người và quyền công dân3. Đây là nền tảng để hình thành một hệ thống hành chính công vận hành thông suốt, chuyên nghiệp, minh bạch, liêm chính và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Trong bối cảnh kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu hoàn thiện thể chế được đặt ra với mức độ toàn diện và sâu sắc hơn. Đảng xác định trọng tâm là xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững; kịp thời tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế, khơi thông nguồn lực và tạo động lực cho phát triển. Việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, minh bạch, khả thi và ổn định không chỉ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn tạo nền tảng cho đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại4.
Bên cạnh đó, hiệu quả của thể chế không chỉ phụ thuộc vào chất lượng xây dựng pháp luật mà còn gắn chặt với tổ chức thi hành. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường thực thi pháp luật nghiêm minh, đồng thời chú trọng công tác giải thích và hướng dẫn áp dụng nhằm bảo đảm tính thống nhất trong toàn hệ thống. Việc nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật sẽ góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo, thiếu nhất quán, từ đó nâng cao chất lượng điều hành và quản lý hành chính công.
Trong tổng thể cải cách hệ thống chính trị, công tác xây dựng và thi hành pháp luật được xác định là khâu “đột phá của đột phá”, giữ vai trò then chốt trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam5. Theo đó, cải cách hành chính cần được triển khai đồng bộ với cải cách lập pháp, cải cách tư pháp và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm bảo đảm tính thống nhất, hiệu lực và hiệu quả của toàn bộ hệ thống quản trị quốc gia6.
3. Về tổ chức bộ máy hành chính công
Tổ chức bộ máy hành chính công ở Việt Nam được xây dựng theo định hướng tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trong điều kiện phát triển mới. Theo Hiến pháp năm 2013, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp và là cơ quan chấp hành của Quốc hội, với cơ cấu, gồm: các bộ và cơ quan ngang bộ; chính quyền địa phương được tổ chức, gồm: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, bảo đảm phù hợp với đặc điểm của từng loại hình đơn vị hành chính7.
Trong quá trình đổi mới tổ chức chính quyền địa phương, hệ thống đơn vị hành chính được tổ chức theo hướng tinh giản, hợp lý. Theo quy định hiện hành, đơn vị hành chính gồm hai cấp: cấp tỉnh và cấp xã, trong đó việc phân loại đơn vị hành chính (xã, phường, đặc khu) được xác định trên cơ sở đặc điểm lãnh thổ, dân cư và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh8. Cách tiếp cận này tạo điều kiện linh hoạt trong tổ chức bộ máy; đồng thời, nâng cao tính thích ứng của hệ thống hành chính đối với các yêu cầu phát triển đa dạng giữa các vùng, miền.
Trong bối cảnh kỷ nguyên phát triển mới, Đảng xác định tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính theo hướng rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ chế vận hành; bảo đảm sự phân công, phân cấp, phân quyền hợp lý giữa trung ương và địa phương, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong quản lý. Việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của từng cơ quan mà còn hướng tới xây dựng một hệ thống hành chính vận hành thông suốt, đồng bộ và nhịp nhàng trên phạm vi toàn quốc.
Bên cạnh đó, yêu cầu đặt ra là tiếp tục rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các bộ, cơ quan ngang bộ theo hướng giảm chồng chéo, trùng lặp; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ trong xây dựng thể chế, hoạch định chính sách và tổ chức thực thi9. Đồng thời, việc vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp cần được gắn với khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, thúc đẩy liên kết vùng và phát triển bền vững.
Như vậy, tổ chức bộ máy hành chính công không chỉ là vấn đề cơ cấu tổ chức mà còn gắn chặt với phương thức vận hành và cơ chế phối hợp. Việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả và thích ứng sẽ là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
4. Về nguồn nhân lực hành chính công
Nguồn nhân lực hành chính công giữ vai trò trung tâm trong vận hành và cải cách hệ thống hành chính, phù hợp với quan điểm nhất quán của Đảng rằng cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, công tác cán bộ là khâu “then chốt” trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị10. Trên cơ sở đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển lâu dài, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, trực tiếp và toàn diện của Đảng đối với công tác cán bộ. Trong bối cảnh cải cách hành chính và đổi mới mô hình quản trị, yêu cầu đặt ra là xây dựng đội ngũ nhân lực hành chính có phẩm chất chính trị vững vàng, năng lực chuyên môn cao, tác phong chuyên nghiệp và đạo đức công vụ trong sạch. Đặc biệt, cần chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở, nhằm bảo đảm khả năng tổ chức thực thi chính sách hiệu quả trong điều kiện mới. Việc khuyến khích tư duy đổi mới, sáng tạo và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm được xem là yếu tố quan trọng để tháo gỡ các “điểm nghẽn” trong cơ chế, chính sách11.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, Đảng xác định đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những đột phá chiến lược. Trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có tư duy quản trị hiện đại, đáp ứng yêu cầu của mô hình tổ chức mới và quá trình chuyển đổi số trong khu vực công. Đồng thời, cần đẩy mạnh thu hút, trọng dụng nhân tài; hoàn thiện cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo; tăng cường kiểm soát quyền lực gắn với trách nhiệm giải trình nhằm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Bên cạnh đó, việc hoàn thiện chính sách đãi ngộ, cải cách tiền lương và bảo đảm điều kiện làm việc có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo động lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, nâng cao tính liêm chính và hiệu quả thực thi công vụ. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực hành chính công không chỉ là yêu cầu nội tại của cải cách hành chính mà còn là yếu tố quyết định năng lực quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
5. Về các nguồn lực hành chính công khác
Bên cạnh nguồn nhân lực, việc bảo đảm và khai thác hiệu quả các nguồn lực khác, như: tài chính công, tài sản công, thông tin và công nghệ, có ý nghĩa quan trọng đối với vận hành và cải cách hệ thống hành chính công. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, yêu cầu đặt ra là phát huy tối đa các nguồn lực theo hướng kết hợp hài hòa giữa nguồn lực trong nước và nguồn lực bên ngoài, trong đó nguồn lực nội sinh giữ vai trò quyết định, lâu dài, còn nguồn lực bên ngoài đóng vai trò quan trọng, tạo đột phá cho phát triển.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển Chính phủ điện tử, tiến tới Chính phủ số, được xác định là giải pháp then chốt nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Điều này không chỉ góp phần hiện đại hóa phương thức quản lý mà còn nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế12. Đồng thời, việc thiết lập hệ thống thông tin hai chiều giữa Nhà nước và người dân thông qua các nền tảng số góp phần tăng cường tính minh bạch, sự tham gia và trách nhiệm giải trình trong quản trị công.
Bên cạnh đó, việc phân bổ và sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước cần gắn chặt với nhiệm vụ được giao và kết quả đầu ra, qua đó, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và khuyến khích đổi mới, sáng tạo trong thực thi công vụ. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân và quốc tế, phục vụ phát triển hệ thống hành chính công hiện đại. Trong kỷ nguyên phát triển mới, Đảng xác định khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những đột phá chiến lược, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Việc hoàn thiện kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng số và hạ tầng phục vụ quản trị, cùng với tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và đổi mới cơ chế quản lý vốn nhà nước, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực công.
Như vậy, việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hành chính công không chỉ bảo đảm điều kiện vận hành của bộ máy nhà nước mà còn là yếu tố quan trọng thúc đẩy cải cách hành chính theo hướng hiện đại, hiệu lực và hiệu quả.
6. Về thủ tục hành chính công
Thủ tục hành chính là khâu trực tiếp phản ánh chất lượng phục vụ của nền hành chính, đồng thời là trọng tâm của cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay. Việc kiểm soát thủ tục hành chính cần được thực hiện ngay từ khâu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và duy trì thường xuyên trong suốt quá trình tổ chức thực thi, nhằm bảo đảm tính hợp lý, khả thi và hiệu quả của các quy định pháp luật13.
Một là, đặt ra là kịp thời rà soát, phát hiện và loại bỏ các thủ tục hành chính không còn phù hợp, phức tạp hoặc gây phiền hà; đồng thời bổ sung những thủ tục cần thiết đáp ứng yêu cầu quản lý và nhu cầu thực tiễn. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng dịch vụ công.
Hai là, Đảng xác định tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đồng bộ, quyết liệt và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Trọng tâm là rà soát, cắt giảm và đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh; loại bỏ các rào cản không cần thiết, cải thiện môi trường đầu tư và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, minh bạch. Đồng thời, cần tăng cường cải cách thủ tục hành chính nội bộ giữa các cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và giảm chi phí hành chính.
Ba là, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử và môi trường số được xem là giải pháp đột phá. Thông qua đó, người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận và sử dụng dịch vụ công mọi lúc, mọi nơi, trên nhiều nền tảng khác nhau, qua đó nâng cao tính thuận tiện, minh bạch và hiệu quả của nền hành chính. Việc triển khai hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông gắn với chuyển đổi số sẽ góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp và phục vụ.
7. Về nguyên tắc vận hành hệ thống hành chính công
Thứ nhất, sự vận hành của hệ thống hành chính công Việt Nam được đặt trên nền tảng thể chế chính trị với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và pháp luật14. Trên cơ sở đó, hệ thống hành chính công hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm tính thống nhất trong quản lý nhà nước; đồng thời, phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân. Trong quá trình vận hành, các cơ quan hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm, thực hiện phục vụ Nhân dân, duy trì mối liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, qua đó, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ.
Thứ hai, về tổ chức quyền lực, hệ thống hành chính công vận hành theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong nội bộ hệ thống hành chính, nguyên tắc cấp dưới phục tùng cấp trên, kết hợp với phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan, cá nhân, đặc biệt là giữa tập thể lãnh đạo và trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, được coi là điều kiện bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý. Bên cạnh đó, việc phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương được thực hiện theo hướng hợp lý, vừa bảo đảm sự quản lý thống nhất của Chính phủ, vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của chính quyền địa phương. Đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản trị đa cấp trong điều kiện phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền.
Thứ ba, Đảng xác định yêu cầu xây dựng hệ thống quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Trọng tâm là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực; tăng cường liên kết vùng; phát triển Chính phủ số, chính quyền số; đồng thời, chuyển đổi phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và cơ chế giám sát hiệu quả.
Như vậy, các nguyên tắc vận hành không chỉ bảo đảm tính ổn định, thống nhất của hệ thống hành chính công mà còn là cơ sở để thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị theo hướng hiện đại, minh bạch và hiệu quả trong bối cảnh phát triển mới.
8. Kết luận
Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nhiệm vụ trung tâm trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị hiện nay. Quá trình này cần được đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa chủ trương của Đảng và tổ chức thực thi của Nhà nước. Việc vận hành và cải cách hệ thống hành chính công phải hướng tới xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả với hệ thống pháp luật đồng bộ, được thực thi nghiêm minh, bảo đảm công lý, quyền con người và quyền công dân. Đây không chỉ là định hướng chiến lược mà còn là điều kiện nền tảng để nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Trong bối cảnh kỷ nguyên phát triển mới, cải cách hành chính cần được triển khai một cách toàn diện, gắn với chuyển đổi số, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và hoàn thiện cơ chế phân bổ, sử dụng nguồn lực. Việc xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, minh bạch, hiện đại và phục vụ không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển trong nước mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và cải thiện vị thế của Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế.
Chú thích:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
2, 4, 5, 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 111 – 168.
3, 6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
7, 13. Quốc hội (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
8, 9, 14. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi, bổ sung) năm 2025.
10. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
12. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/06/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2021). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030.
2. Quốc hội (2025). Luật số 64/2025/QH15 ngày 25/06/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
3. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.



