Vai trò của phụ nữ Nam Bộ trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1969 – 1975)

The role of southern women in building and protecting the revolutionary base during the resistance against America and national salvation (1969 – 1975)

ThS. Trần Thị Huyền
NCS. Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn,
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Giai đoạn 1969 – 1975, trong bối cảnh Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” gắn với các chương trình bình định, căn cứ địa cách mạng ở Nam Bộ bị tiến công, phá hoại quyết liệt. Trước tình hình đó, phụ nữ Nam Bộ đã nổi lên là lực lượng nòng cốt trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, thể hiện vai trò toàn diện trên các phương diện như bảo đảm hậu cần tại chỗ, xây dựng và giữ vững cơ sở chính trị, phát huy thế trận quần chúng và trực tiếp tham gia bảo vệ an ninh, quân sự. Qua đó, góp phần duy trì, củng cố và mở rộng căn cứ địa cách mạng, đóng vai trò quan trọng trong việc giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân và đi tới thắng lợi năm 1975.

Từ khóa: Phụ nữ Nam Bộ; căn cứ địa; giai đoạn 1969 – 1975; kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; đội quân tóc dài.

Abstract: During the period from 1969 to 1975, in the context of the United States and the Saigon government intensifying the “Vietnamization of the war” strategy, combined with pacification programs, revolutionary bases in the South were subjected to fierce attacks and sabotage. In response, women in the South emerged as the core force in building and defending the revolutionary bases, demonstrating a comprehensive role in areas such as ensuring local logistics, building and maintaining political strongholds, promoting mass participation, and directly participating in security and military defense. Through these efforts, they helped maintain, consolidate, and expand the revolutionary bases, playing an important role in preserving the people’s war front and leading to victory in 1975.

Keywords: Southern Women; Base area, 1969 – 1975; Anti-American resistance, national salvation; Long-haired army.

1. Đặt vấn đề

Trong nghệ thuật quân sự Việt Nam, căn cứ địa là bộ phận trọng yếu của chiến tranh nhân dân, vừa là nơi đứng chân của lực lượng cách mạng, vừa là hậu phương tại chỗ bảo đảm sức người, sức của cho tiền tuyến. Giai đoạn 1969 – 1975, khi Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, kết hợp các biện pháp quân sự, bình định và tâm lý chiến nhằm thực hiện thủ đoạn “tát nước bắt cá”, căn cứ địa cách mạng ở Nam Bộ đứng trước những thử thách đặc biệt gay gắt. Trong bối cảnh đó, việc giữ vững và phát triển căn cứ địa không chỉ phụ thuộc vào lực lượng vũ trang mà trước hết dựa vào “thế trận lòng dân”.

Nổi bật trong việc tạo dựng và duy trì thế trận này là phụ nữ Nam Bộ, lực lượng quần chúng đông đảo, bám dân, bám đất và trực tiếp tham gia vào mọi mặt hoạt động của cách mạng. Từ vị trí chủ yếu mang tính hỗ trợ, phụ nữ từng bước trở thành lực lượng giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hậu cần, xây dựng cơ sở chính trị và tham gia bảo vệ căn cứ địa. Vì vậy, việc nghiên cứu vai trò của phụ nữ Nam Bộ trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng giai đoạn 1969 – 1975 góp phần làm rõ hơn cơ sở xã hội của chiến tranh nhân dân ở miền Nam, đồng thời khẳng định vị trí và đóng góp to lớn của phụ nữ đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

2. Âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn

Sau năm 1969, khi chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã triển khai một hệ thống âm mưu, thủ đoạn toàn diện nhằm giành lại thế chủ động chiến lược, trong đó trọng tâm là triệt phá cơ sở cách mạng và hệ thống căn cứ địa ở miền Nam. Mục đích của chúng là nhằm tách cách mạng ra khỏi quần chúng, làm suy yếu nền tảng chính trị – xã hội của chiến tranh nhân dân.

Để thực hiện chiến lược này, địch đẩy mạnh các cuộc hành quân càn quét quy mô lớn, kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng bộ binh với không quân và pháo binh nhằm đánh phá trực tiếp các vùng căn cứ. Hỏa lực được sử dụng với cường độ cao, tập trung vào những khu vực nghi có lực lượng cách mạng đứng chân, nhằm tiêu diệt sinh lực, phá hủy cơ sở vật chất và gây sức ép tâm lý đối với nhân dân. Cùng với đó, địch tăng cường hoạt động “tìm diệt” và “bình định”, thường xuyên mở các cuộc hành quân lấn chiếm, “tràn ngập lãnh thổ”, từng bước thu hẹp vùng giải phóng và phá vỡ thế đứng chân của cách mạng.

Cùng với các hoạt động quân sự, địch triển khai các chương trình bình định quy mô lớn như “bình định cấp tốc”, “bình định đặc biệt”, coi đây là biện pháp then chốt để kiểm soát nông thôn. Nội dung chủ yếu của các chương trình này là dồn dân, lập ấp, kiểm soát chặt chẽ hộ khẩu, phân loại dân cư và xây dựng hệ thống kìm kẹp từ cơ sở. Thực chất, đây là sự tiếp nối và phát triển của thủ đoạn “tát nước bắt cá”, nhằm cô lập lực lượng cách mạng khỏi quần chúng, môi trường tồn tại và phát triển của căn cứ địa. Trong điều kiện đó, nhiều vùng nông thôn bị chia cắt, phong trào quần chúng bị hạn chế, cơ sở cách mạng bị tổn thất. Cùng với việc bình định, địch chú trọng xây dựng và củng cố hệ thống chính quyền cơ sở, từ ấp, xã đến quận, tỉnh, kết hợp với mạng lưới cảnh sát, tình báo, gián điệp nhằm phát hiện và triệt phá tổ chức cách mạng từ bên trong.

Các lực lượng như “bình định nông thôn”, “phòng vệ dân sự”, “nghĩa quân” được tăng cường nhằm tạo thế kiểm soát thường xuyên đối với địa bàn. Điều này làm cho hoạt động của cách mạng gặp nhiều khó khăn, nhất là trong việc duy trì cơ sở và liên lạc. Bên cạnh đó, địch đẩy mạnh chiến tranh tâm lý với nhiều hình thức như tuyên truyền, chiêu hồi, mua chuộc và phân hóa quần chúng. Các chiến dịch chiêu hồi được tổ chức rộng khắp, kết hợp với các biện pháp khủng bố, bắt bớ, tra tấn nhằm làm suy giảm ý chí đấu tranh của nhân dân và lực lượng cách mạng.

Đặc biệt, địch tập trung vào các tầng lớp trung gian, trí thức, tiểu thương… nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy yếu “thế trận lòng dân”. Những âm mưu và thủ đoạn trên đã đặt căn cứ địa cách mạng ở miền Nam, nhất là Nam Bộ, trước những thử thách hết sức gay gắt. Căn cứ địa không chỉ bị đánh phá về quân sự mà còn bị xâm nhập, phá hoại từ bên trong và bị cô lập về chính trị – xã hội. Trong bối cảnh đó, yêu cầu giữ vững mối liên hệ giữa cách mạng với quần chúng trở thành vấn đề có ý nghĩa sống còn.

3. Chủ trương của Trung ương Cục miền Nam về xây dựng và bảo vệ căn cứ địa (1969 – 1975)

Trước âm mưu và thủ đoạn toàn diện của Mỹ và chính quyền Sài Gòn nhằm triệt phá cơ sở cách mạng và hệ thống căn cứ địa, Đảng và Trung ương Cục miền Nam đã kịp thời đề ra những chủ trương đúng đắn, phù hợp với thực tiễn chiến trường. Nhất quán xuyên suốt là quan điểm lấy quần chúng làm nền tảng, lấy công tác dân vận làm then chốt, coi xây dựng và bảo vệ căn cứ địa là nhiệm vụ chiến lược nhằm giữ vững và phát triển thế trận cách mạng.

Tháng 7/1969, Trung ương Cục miền Nam ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9, quán triệt Nghị quyết Bộ Chính trị (5/1969), xác định nhiệm vụ trọng tâm là “xây dựng vùng giải phóng thành những vùng căn cứ cách mạng hoàn chỉnh và hậu phương trực tiếp của cuộc kháng chiến”1. Trên cơ sở đó, Trung ương Cục nhấn mạnh yêu cầu cấp bách phải củng cố và mở rộng căn cứ địa theo hướng liên hoàn, vững chắc về mọi mặt, vừa thu hẹp vùng kiểm soát của địch, vừa tạo thế và lực để chủ động đối phó trong mọi tình huống.

Bước sang năm 1970, trước các cuộc hành quân quy mô lớn và hoạt động phong tỏa, đánh phá ác liệt của địch vào căn cứ, Trung ương Cục tiếp tục quán triệt Nghị quyết Bộ Chính trị (7/1970) và chỉ thị của Quân ủy Trung ương. Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 10 (11/1970) khẳng định, quyết tâm đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”; đồng thời, xác định rõ một trong những nhiệm vụ trọng tâm là “hết sức xây dựng hậu phương tại chỗ, củng cố và mở rộng vùng căn cứ và giải phóng, đồng thời, ra sức làm tốt công tác bảo đảm hậu cần”2. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức về vai trò của căn cứ địa gắn với yêu cầu tự lực, tự cường trong điều kiện chiến tranh ác liệt.

Trước việc địch đẩy mạnh kế hoạch bình định, Trung ương Cục ban hành Chỉ thị số 01/71-CT (01/1971), xác định đánh bại bình định là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời nhấn mạnh “Nhiệm vụ giữ vững và mở rộng vùng căn cứ và hành lang là một trong những yêu cầu chiến lược để chuẩn bị tốt cho thế tấn công chiến lược mới”3. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 11 tiếp tục khẳng định phải “ra sức giữ vững và củng cố căn cứ địa chung của cả ba nước, nỗ lực khôi phục, xây dựng căn cứ địa của toàn miền và mỗi địa phương”4.

Sau Hiệp định Paris (1973), trong điều kiện mới, Trung ương Cục miền Nam tiếp tục phát triển chủ trương xây dựng căn cứ địa lên một bước cao hơn. Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 12 (12/1973), xác định nhiệm vụ “ra sức xây dựng và củng cố vùng giải phóng (bao gồm các căn cứ địa) là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong tình hình mới”5, với mục tiêu hình thành hệ thống căn cứ liên hoàn, nối liền với hậu phương lớn miền Bắc và vùng giải phóng của Lào, Campuchia, tạo cơ sở phát triển thực lực cách mạng toàn diện. Đồng thời, Trung ương Cục đặc biệt “quan tâm xây dựng các căn cứ địa của toàn miền, của các khu, các tỉnh, đồng thời tạo địa bàn căn cứ (lõm hay mảng) cho các huyện và xã nhất là ở đồng bằng”6.

Đến năm 1974 – 1975, trong bối cảnh cách mạng chuyển sang giai đoạn tiến công chiến lược, chủ trương xây dựng và phát triển căn cứ địa tiếp tục được đẩy mạnh với yêu cầu cao hơn. Nghị quyết số 01-NQ/74 (9/1974) của Thường vụ Trung ương Cục nhấn mạnh “cần khẩn trương xây dựng vùng căn cứ, giải phóng, các xã, ấp mới mở và các lõm giải phóng xen kẽ ở vùng nông thôn phía trước vững mạnh về mọi mặt”7. Ngày 24/3/1975, Trung ương Cục tiếp tục nhấn mạnh “vấn đề xây dựng vùng giải phóng và khu căn cứ đặt ra hết sức cấp bách”8 và chỉ đạo nhanh chóng củng cố chính quyền cách mạng, tổ chức lực lượng vũ trang, ổn định đời sống nhân dân và phát triển sản xuất ở các địa bàn mới giải phóng.

Những chủ trương trên đã tạo cơ sở để căn cứ địa và vùng giải phóng không ngừng được củng cố, mở rộng và phát triển vững chắc, hình thành thế trận liên hoàn, áp sát các đô thị và trung tâm đầu não của địch. Đây chính là nền tảng quan trọng để cách mạng miền Nam chuyển sang tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đi đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

4. Vai trò của phụ nữ Nam Bộ trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng (1969 – 1975)

Trên cơ sở chủ trương đúng đắn của Đảng và Trung ương Cục miền Nam, phụ nữ Nam Bộ đã phát huy vai trò đặc biệt quan trọng, trở thành một trong những lực lượng nòng cốt trực tiếp tham gia xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng. Vai trò này không chỉ thể hiện ở phạm vi hỗ trợ mà còn phát triển thành vai trò chủ thể trên nhiều lĩnh vực then chốt của căn cứ địa, từ bảo đảm hậu cần, xây dựng cơ sở chính trị đến tham gia đấu tranh và bảo vệ căn cứ.

Một là, phụ nữ Nam Bộ giữ vai trò quyết định trong bảo đảm vật chất của căn cứ địa cách mạng.

Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, khi lực lượng nam giới được huy động chủ yếu cho nhiệm vụ chiến đấu, phụ nữ trở thành lực lượng lao động sản xuất chủ yếu tại chỗ. Vai trò này không chỉ mang ý nghĩa bổ sung lực lượng mà thực chất đã trở thành nhân tố quyết định bảo đảm tính tự chủ và khả năng tồn tại của căn cứ địa trong thế bị bao vây, phong tỏa. Như tại Cà Mau, Hội Mẹ Chiến sĩ và Hội Phụ nữ Giải phóng đã tổ chức các phong trào sản xuất và tiết kiệm nổi bật như “Hũ gạo nuôi quân”, “Con gà chống Mỹ” nhằm tạo nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ cho Bộ đội9.

Các phong trào như “hũ gạo nuôi quân”, “nuôi quân tại chỗ” không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn thể hiện sự huy động chính trị sâu rộng, với tổng đóng góp trên 100.000 tấn lương thực và hàng triệu ngày công. Như vậy, phụ nữ không chỉ tham gia sản xuất mà còn trực tiếp bảo đảm điều kiện vật chất, yếu tố nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của căn cứ địa. Không dừng lại ở sản xuất lương thực, phụ nữ còn đảm nhiệm phần lớn các hoạt động bảo đảm hậu cần tại chỗ như chế biến, dự trữ, phân phối lương thực, thực phẩm, may vá quân trang, chăm sóc thương bệnh binh và tổ chức các trạm nuôi quân. Chính sự tham gia toàn diện này đã hình thành một hệ thống hậu cần nhân dân rộng khắp, phân tán nhưng linh hoạt, phù hợp với điều kiện chiến tranh du kích.

Trong bối cảnh địch tăng cường đánh phá, phong tỏa và thực hiện các biện pháp “tát nước bắt cá”, mô hình hậu cần do phụ nữ đảm nhiệm đã phát huy hiệu quả rõ rệt, vừa bảo đảm cung cấp kịp thời cho lực lượng vũ trang, vừa hạn chế tổn thất do tập trung kho tàng quy mô lớn. Trong công tác phục vụ chiến trường, có thể nói hầu hết công tác tiếp tế hậu cần đều do phụ nữ đảm nhiệm, như: “Đường 1C của Khu 9 có 570 nữ trong tổng số 700 người. Khu 8 có Tiểu đoàn vận tải D16, trong tiểu đoàn này có một đại đội là nữ10. Đáng chú ý, vai trò của phụ nữ còn thể hiện ở khả năng duy trì và phục hồi sản xuất ngay sau các đợt càn quét, bình định của địch.

Thực tế cho thấy, sau mỗi đợt đánh phá, chính phụ nữ là lực lượng đầu tiên khôi phục ruộng vườn, tổ chức lại sản xuất, nhanh chóng ổn định đời sống và tái tạo nguồn cung cấp cho căn cứ địa. Điều này không chỉ bảo đảm tính liên tục về vật chất mà còn góp phần ổn định tâm lý xã hội, giữ vững niềm tin của quần chúng đối với cách mạng. Hơn nữa, thông qua hoạt động sản xuất và bảo đảm hậu cần, phụ nữ đã gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ kinh tế với nhiệm vụ chính trị và quân sự, biến mỗi gia đình, mỗi làng xã thành một “đơn vị hậu cần tại chỗ” của chiến tranh nhân dân.

Tiêu biểu như ở Bình Phước, đến đầu tháng 6/1973, “đã gieo cấy được 6.669 ha rẫy và 475 ha ruộng (đạt 82,2% kế hoạch vụ mùa); trồng được 6.739.600 gốc mì; tỉa 9.362 lít giống bắp; khoai lang đạt 5 mét bình quân đầu người”11. Chính sự kết hợp đó đã làm cho căn cứ địa không tồn tại một cách thụ động mà luôn có khả năng tự điều chỉnh, thích ứng và phát triển trong mọi điều kiện, kể cả khi bị địch bao vây, chia cắt. Vì vậy, có thể khẳng định rằng vai trò của phụ nữ trong bảo đảm nền tảng vật chất không chỉ dừng lại ở việc cung cấp lương thực, thực phẩm mà còn trực tiếp tạo nên sức bền, tính ổn định và khả năng phục hồi của căn cứ địa cách mạng.

Hai là, phụ nữ Nam Bộ là lực lượng nòng cốt trong xây dựng và duy trì hệ thống cơ sở chính trị của căn cứ địa.

Căn cứ địa cách mạng không chỉ tồn tại trên nền tảng vật chất mà trước hết phải được bảo đảm bằng một hệ thống chính trị vững chắc ở cơ sở, yếu tố giữ vai trò quyết định đối với sự ổn định và phát triển lâu dài của phong trào cách mạng. Như Tỉnh ủy Bến Tre chủ trương “tích cực đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ không lộ (cán bộ mật) để tăng cường kiện toàn bộ máy chuyên môn các cấp, đủ sức lãnh đạo phong trào đấu tranh ở xã, ấp”12. Nhờ đó, đến cuối năm 1970, “toàn tỉnh phát triển được 1.097 đảng viên mới thì có tới gần một nửa là đảng viên mật”13. Sự tham gia đông đảo này không chỉ phản ánh quy mô huy động mà còn cho thấy mức độ gắn bó sâu sắc của phụ nữ với hệ thống chính trị cách mạng ở cơ sở.

Không chỉ dừng lại ở vai trò quần chúng, phụ nữ còn từng bước tham gia vào đội ngũ cán bộ, trực tiếp đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong tổ chức và điều hành phong trào. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 1974, ở Bến Tre, tổ chức hội phụ nữ cơ sở phát triển cực kỳ mạnh mẽ với 152 hội viên phụ nữ mới được kết nạp, nâng tổng số toàn tỉnh lên 10.997 hội viên phụ nữ (làm nòng cốt chính trị ở cơ sở)14. Đây là lực lượng trực tiếp triển khai chủ trương, nghị quyết của Đảng đến với quần chúng, đồng thời tổ chức và duy trì các hoạt động cách mạng trong điều kiện bị địch kiểm soát gắt gao. Sự hiện diện của đội ngũ cán bộ nữ ở cơ sở đã góp phần quan trọng bảo đảm tính linh hoạt, bí mật và khả năng thích ứng của hệ thống chính trị trong chiến tranh.

Đặc biệt, trong bối cảnh địch tăng cường khủng bố, đánh phá và triệt phá cơ sở cách mạng, chính phụ nữ là lực lượng trực tiếp duy trì hoạt động của các chi bộ, tổ chức quần chúng và mạng lưới liên lạc. Với ưu thế bám trụ tại chỗ, ít bị nghi ngờ hơn so với nam giới, phụ nữ đã đảm nhiệm hiệu quả vai trò “giữ mạch” cho hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo đảm sự lãnh đạo liên tục của Đảng không bị gián đoạn. Ở Bình Phước, qua phong trào giữ đất, giành dân, ngày 8/3/1974, Hội Phụ nữ tổ chức biểu dương thành tích xuất sắc của chị em trong các hoạt động kinh tế, xã hội. Từ những hạt nhân xuất sắc bảo vệ vùng giải phóng và đấu tranh chính trị, nhiều chị em phụ nữ đã được bồi dưỡng kết nạp vào tổ chức Đoàn và tổ chức Đảng, trở thành những cơ sở nòng cốt lãnh đạo phong trào15.

Việc tham gia xây dựng và bảo vệ hàng nghìn cơ sở bí mật, nuôi giấu hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ không chỉ có ý nghĩa về mặt hậu cần mà còn là điều kiện trực tiếp để duy trì sự tồn tại của các tổ chức Đảng và đoàn thể trong lòng địch. Hơn nữa, thông qua hoạt động của mình, phụ nữ còn góp phần quan trọng trong việc củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Chính họ là cầu nối đưa chủ trương, đường lối của Đảng thấm sâu vào đời sống xã hội; đồng thời, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của quần chúng lên tổ chức Đảng, góp phần điều chỉnh phương thức lãnh đạo phù hợp với thực tiễn. Nhờ đó, hệ thống cơ sở chính trị không chỉ được duy trì về mặt tổ chức mà còn được củng cố về chất lượng và hiệu quả hoạt động.

Ba là, phụ nữ Nam Bộ giữ vai trò xung kích trong xây dựng thế trận chính trị quần chúng.

Nếu hệ thống cơ sở chính trị là “bộ khung” tổ chức thì quần chúng nhân dân chính là nền tảng xã hội quyết định chiều sâu, độ bền và khả năng lan tỏa của căn cứ địa cách mạng. Trong quá trình xây dựng thế trận chính trị quần chúng, phụ nữ Nam Bộ giữ vai trò đặc biệt quan trọng khi vừa là lực lượng tham gia đông đảo, vừa là chủ thể trực tiếp tổ chức và dẫn dắt phong trào. Như Thị ủy Vũng Tàu, để phát triển cơ sở bí mật nội ô thị xã Vũng Tàu, Thị ủy đã tăng cường nhiều nữ cán bộ, đảng viên kiên trung bám trụ như các đồng chí Võ Thị Dậu, Nguyễn Lan, Ngô Thị Bảy, Cái Thị Liên16. Điều này không chỉ phản ánh quy mô tham gia mà còn cho thấy vị trí trung tâm của phụ nữ trong cấu trúc vận hành của phong trào quần chúng.

Thông qua các hoạt động tuyên truyền, vận động linh hoạt và phù hợp với từng đối tượng, phụ nữ đã góp phần mở rộng nhanh chóng cơ sở xã hội của cách mạng. Ở nhiều vùng tranh chấp vào đầu thập niên 1970, nhiều hộ gia đình có người tham gia hoặc ủng hộ cách mạng, trong đó phụ nữ giữ vai trò chủ yếu trong việc vận động, thuyết phục và duy trì sự gắn bó của quần chúng với cách mạng. Trong năm 1973, tại nội ô thị xã Thủ Dầu Một, hàng trăm chị em nữ tiểu thương đã đồng loạt bãi thị, đấu tranh quyết liệt chống thu thuế giá trị gia tăng, chống chiếm chỗ, làm náo loạn cả thị xã, buộc tỉnh trưởng ngụy phải đích thân xoa dịu và chấp nhận yêu sách17. Đặc biệt, thông qua các mối quan hệ gia đình, làng xóm và cộng đồng, phụ nữ đã đưa các chủ trương của Đảng thấm sâu vào đời sống xã hội, biến nhận thức chính trị thành hành động cụ thể, qua đó hình thành mạng lưới quần chúng rộng khắp và có tổ chức.

Đáng chú ý, vai trò của phụ nữ không chỉ dừng lại ở việc phát triển lực lượng mà còn thể hiện ở khả năng duy trì và phục hồi phong trào trong điều kiện bị địch đàn áp. Trong những thời điểm địch đẩy mạnh bình định, khủng bố, nhiều phong trào bị tổn thất, chính phụ nữ là lực lượng bám trụ, giữ mối liên hệ với quần chúng, từng bước khôi phục lại tổ chức và hoạt động đấu tranh. Chính sự bền bỉ, linh hoạt và kiên trì đó đã làm cho phong trào quần chúng không bị triệt tiêu mà luôn có khả năng tái sinh và phát triển. Hơn nữa, thông qua việc tổ chức và dẫn dắt các phong trào đấu tranh, phụ nữ đã góp phần chuyển hóa sự ủng hộ rời rạc của quần chúng thành sức mạnh chính trị có tổ chức, tạo nên sức ép thường xuyên đối với chính quyền và lực lượng đối phương. Đây chính là yếu tố làm suy giảm hiệu quả của các chiến lược bình định, cô lập cách mạng của địch, đồng thời tạo điều kiện để căn cứ địa không chỉ được bảo vệ mà còn từng bước mở rộng.

Bốn là, phụ nữ Nam Bộ trực tiếp tham gia bảo vệ căn cứ địa trên các phương diện quân sự, an ninh và binh vận.

Không dừng lại ở vai trò hậu cần và chính trị, phụ nữ Nam Bộ còn trực tiếp tham gia vào nhiệm vụ bảo vệ căn cứ địa, qua đó trở thành một bộ phận quan trọng của lực lượng vũ trang quần chúng trong chiến tranh nhân dân. Trong bối cảnh địch đẩy mạnh càn quét, bình định, tăng cường kiểm soát và triệt phá cơ sở cách mạng, sự tham gia của phụ nữ đã góp phần tạo nên thế trận phòng thủ tại chỗ vững chắc, kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố quân sự với chính trị và an ninh. Như tháng 11/1972, “trung đội nữ Pháo binh huyện Cái Nước” được thành lập. Đơn vị này cùng với các đội pháo binh nữ ở huyện Châu Thành, Trần Văn Thời đã phối hợp đắc lực cùng quân và dân công đồn, bẻ gãy nhiều trận càn quét của địch”18. Họ trực tiếp đảm nhiệm các nhiệm vụ chiến đấu như canh gác, phục kích, chống càn quét, tiêu hao sinh lực địch và bảo vệ địa bàn. Sự tham gia này không chỉ bổ sung lực lượng mà còn nâng cao đáng kể khả năng phòng thủ tại chỗ của căn cứ địa, tạo điều kiện để các lực lượng chủ lực và quân địa phương cơ động tác chiến hiệu quả hơn.

Thực tiễn cho thấy, ở nhiều địa bàn, chính lực lượng du kích nữ đã góp phần quan trọng làm thất bại các cuộc hành quân lấn chiếm và bình định của đối phương. Phụ nữ Nam Bộ còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong mạng lưới trinh sát, giao liên và bảo vệ nội bộ. Như tại Đồng Nai, vào mùa mưa năm 1969, một đoàn thương binh bị kẹt không thể vượt qua lưới bố phòng của địch ở Quốc lộ 1. Cô Bé – một nữ công nhân cao su ở Bình Lộc đã tình nguyện đi đầu tìm đường dẫn đoàn thương binh vượt tuyến; cô đạp trúng mìn, cụt cả hai chân và hy sinh để đổi lấy sự an toàn cho cả đoàn thương binh19.

Bên cạnh đó, ở nhiều địa phương, phụ nữ còn là lực lượng nòng cốt trong các tổ an ninh nhân dân, trực tiếp tham gia phát hiện, đấu tranh với các hoạt động gián điệp, chỉ điểm, góp phần giữ vững bí mật và an toàn cho cơ quan, lực lượng cách mạng. Đặc biệt, trên mặt trận binh vận và địch vận, phụ nữ Nam Bộ phát huy hiệu quả nổi bật nhờ lợi thế về quan hệ xã hội và khả năng tiếp cận linh hoạt. Thông qua các mối quan hệ gia đình, làng xóm và các hình thức tiếp xúc hợp pháp, họ trực tiếp tuyên truyền, vận động binh lính đối phương, làm suy giảm tinh thần chiến đấu và thúc đẩy quá trình tan rã hàng ngũ địch. Tiêu biểu như ở Bến Tre, có “chị Hoàng Nhu vận động em trai đưa lính trong đồn Vĩnh Hiệp (Vĩnh Thành – Chợ Lách) ra hàng Quân giải phóng; chị Nguyễn Thị Đá cùng chồng gỡ đồn Cổ Cò”20. Trong đợt Xuân Hè 1972, tại các tỉnh Rạch Giá, Trà Vinh, Cần Thơ, phụ nữ đã “vận động rã ngũ trên 2.000 quân chủ lực ngụy, hàng ngàn lính bảo an và đại bộ phận phòng vệ dân sự đem súng về với cách mạng”21. Đáng chú ý, trong vùng địch kiểm soát, phụ nữ còn trực tiếp tham gia bảo vệ căn cứ địa “trong lòng địch” thông qua việc duy trì và bảo vệ hệ thống cơ sở bí mật. Họ tổ chức nuôi giấu, che chở cán bộ, xây dựng hầm bí mật, bảo đảm nơi trú ẩn an toàn cho lực lượng cách mạng.

Tiêu biểu như Má Tám ở Phước Hải (Long Đất) đã làm hầm bí mật xây bằng xi măng ngay trong nhà để thường xuyên nuôi giấu cán bộ. Má Năm Tơ ở phường Thống Nhất (Biên Hòa) làm nhà gỗ vách đôi nuôi cán bộ; khi địch phát hiện, đánh đập, tra tấn chết đi sống lại, Má vẫn kiên quyết không khai báo. Chính hoạt động này đã bảo đảm cho hệ thống lãnh đạo và chỉ huy của cách mạng không bị gián đoạn, đồng thời, tạo điều kiện để lực lượng cách mạng bám trụ, phát triển ngay trong điều kiện bị kiểm soát gắt gao.

5. Kết luận

Trong giai đoạn 1969 – 1975, trước yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ Nam Bộ đã vượt lên vai trò truyền thống của “hậu phương”, trở thành lực lượng trực tiếp tham gia trên nhiều mặt trận, từ bảo đảm hậu cần, xây dựng cơ sở chính trị đến đấu tranh chính trị, quân sự và bảo vệ an ninh căn cứ địa. Với sự bền bỉ, linh hoạt và tinh thần hy sinh cao cả, phụ nữ Nam Bộ đã thực sự trở thành một “đội quân đặc biệt”, một “mặt trận thứ hai” góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc, “không phải ngẫu nhiên mà phong trào Phụ nữ Nam Bộ trở thành biểu tượng cho phong trào Phụ nữ cả nước trong thời gian đánh Mỹ”23.

Từ thực tiễn lịch sử, có thể rút ra những bài học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đặc biệt là bài học về phát huy vai trò, tiềm năng và sức mạnh của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng; về xây dựng và phát huy thế trận lòng dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và về việc kết hợp chặt chẽ giữa các hình thức đấu tranh trong điều kiện mới. Đây là những kinh nghiệm quý báu cần được kế thừa và vận dụng sáng tạo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.

Chú thích:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2020). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946 – 1975. Tập 13. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 445.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2020). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946 – 1975. Tập 14. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 594.
3, 4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2020). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946 – 1975. Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 37, 669.
5, 6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2020). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946 – 1975. Tập 17. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 479, 479.
7, 8. Ban Chấp hành Trung ương (2020). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946 – 1975. Tập 18. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 318, 715.
9, 18, Đảng ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cà Mau (2007). Lịch sử 30 năm kháng chiến của quân và dân tỉnh Cà Mau (1945-1975). H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 285 – 286, 297
10, 21, 23. Lịch sử Phụ nữ Nam Bộ (1989). Truyền thống cách mạng của phụ nữ Nam Bộ thành đồng. TP. Hồ Chí Minh. NXB Tổng hợp, tr. 427, 423, 521.
11, 15. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Phước (2020). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Phước (1930 – 2020). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 283, 286
12, 13, 14, 20. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bến Tre (2017). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bến Tre (1930 – 2015). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 304, 305, 343, 319.
16. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2000). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Tập II (1954 – 1975). H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 329.
17. Tỉnh ủy Bình Dương (2014). Lịch sử chiến tranh nhân tỉnh Bình Dương (1945 – 1975). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 621.
19, 22. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (1986). Đồng Nai 30 năm chiến tranh giải phóng. NXB Đồng Nai, tr. 262 – 263, 264.