Công tác vận động trí thức trong xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Mobilizing intellectuals in the construction and development of Ho Chi Minh City in the current period

TS. An Thị Ngọc Trinh
Trường Đại học Bách Khoa,
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Thực tiễn 40 năm đổi mới ở Việt Nam cho thấy những thành tựu đạt được gắn liền với công tác xây dựng, phát triển và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức thông qua công tác vận động trí thức. Là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục lớn của cả nước, TP. Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc về vị trí chiến lược của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng và phát triển thành phố. Trong bối cảnh triển khai chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2045, đội ngũ trí thức được xác định là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển. Vì vậy, công tác vận động trí thức được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quyết định, nhằm thu hút, tập hợp và phát huy hiệu quả trí tuệ của đội ngũ trí thức, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố hiện nay.

Từ khóa: Trí thức; công tác vận động trí thức; TP. Hồ Chí Minh.

Abstract: The experience of 40 years of reform in Vietnam shows that the achievements are closely linked to the building, development, and promotion of the role of the intellectual workforce through intellectual mobilization efforts. As a major economic, cultural, and educational center of the country, Ho Chi Minh City has always recognized the strategic role of the intellectual workforce in the city’s development. In the context of implementing the development strategy until 2030, with a vision to 2045, the intellectual workforce is identified as a core force, playing a key role in achieving development goals. Therefore, the mobilization of intellectuals is identified as a central task, aiming to attract, gather, and effectively utilize the intellectual capacity of the intellectual workforce to meet the city’s current development requirements.

Key words: Intellectuals; intellectual outreach work; Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

TP. Hồ Chí Minh hiện đang đứng trước những bước phát triển quan trọng trong giai đoạn 2025-2030 với mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế – tài chính, khoa học – công nghệ hàng đầu khu vực Đông Nam Á, đồng thời hướng đến tầm nhìn trở thành đô thị thông minh, hiện đại, phát triển bền vững vào năm 2045. Để hiện thực hóa những mục tiêu này, không chỉ cần có sự đầu tư mạnh mẽ về hạ tầng vật chất và nguồn lực tài chính mà còn đòi hỏi một nguồn lực trí tuệ dồi dào, sáng tạo và có khả năng đổi mới. Trong bối cảnh đó, công tác vận động trí thức đóng vai trò then chốt, như một nội dung trọng yếu trong chiến lược xây dựng và phát triển thành phố, nhằm huy động và phát huy tối đa trí tuệ, sáng kiến của đội ngũ trí thức trong mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội. Việc nâng cao hiệu quả công tác vận động trí thức không chỉ đáp ứng yêu cầu thực tiễn mà còn góp phần tạo nên sức mạnh nội sinh, thúc đẩy TP. Hồ Chí Minh phát triển nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng trong tương lai.

2. Khái quát định hướng phát triển TP. Hồ Chí Minh đến 2030, tầm nhìn 2045

TP. Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ, năng động với hơn 300 năm hình thành và phát triển, là đô thị đặc biệt, là đầu tàu kinh tế, có sức thu hút, lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. Với hơn 6700 km², gần 14 triệu dân sau sáp nhập, thành phố có không gian kinh tế – xã hội rộng lớn kết nối các khu vực, hội tụ đầy đủ các lợi thế, tiềm năng để vươn mình trở thành một thành phố thịnh vượng, phát triển bậc nhất của cả nước. Xét trên nhiều mặt, TP. Hồ Chí Minh hội đủ những cơ sở, điều kiện, tiền đề vật chất, kỹ thuật cùng các yếu tố kinh tế – xã hội, nhân tố con người để xây dựng một thành phố thông minh, đô thị sáng tạo của Việt Nam.

Trong hành trình phát triển và khẳng định vị thế, TP. Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều thành tích ấn tượng: kinh tế không ngừng tăng trưởng, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị có nhiều chuyển biến tích cực; năng lực cạnh tranh ngày càng được cải thiện tốt, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có giá trị gia tăng cao. Qua mỗi chặng đường phát triển, TP. Hồ Chí Minh không ngừng cố gắng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành các chỉ tiêu về giảm nghèo bền vững, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân… Đó là thành quả của việc thành phố luôn giữ vững mục tiêu: “Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; huy động mọi nguồn lực; xây dựng TP. Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại, nghĩa tình; sớm trở thành một trong những trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học – công nghệ của khu vực Đông Nam Á”1. Đây là điều kiện thuận lợi để Quốc hội ban hành nghị quyết về phát triển TP. Hồ Chí Minh trong tương lai với trọng trách, sứ mệnh cao hơn. Tại Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30/12/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh cùng nhiều văn bản giá trị khác là công cụ pháp lý quan trọng, là động lực to lớn để thành phố tiếp tục phát huy mọi tiềm năng, lợi thế trong quá trình xây dựng và phát triển.

Mục tiêu đến năm 2030: TP. Hồ Chí Minh trở thành thành phố văn minh, hiện đại, nghĩa tình, năng động sáng tạo, có nguồn nhân lực chất lượng cao; là thành phố dịch vụ – công nghiệp hiện đại, đầu tàu về kinh tế số, xã hội số, trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, văn hoá, giáo dục, khoa học – công nghệ của cả nước, hội nhập quốc tế sâu rộng, có vị thế nổi trội trong khu vực Đông Nam Á. Tăng trưởng bình quân đạt khoảng 8,0 – 8,5%/năm; GRDP bình quân đầu người khoảng 14.500 USD; kinh tế số đóng góp 40% vào GRDP.

Tầm nhìn đến năm 2045: TP. Hồ Chí Minh phát triển ngang tầm các đô thị lớn trên thế giới, trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ của châu Á; là điểm đến hấp dẫn toàn cầu; kinh tế, văn hóa phát triển đặc sắc, người dân có chất lượng cuộc sống cao; là hạt nhân của vùng TP. Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ, cực tăng trưởng của cả nước; nơi thu hút các định chế tài chính và tập đoàn kinh tế quốc tế.

3. Trí thức và quan điểm của Đảng về phát huy vai trò của đội ngũ trí thức

Thuật ngữ “trí thức” có nguồn gốc từ tiếng Latinh – “Intelligentia”, có nghĩa là sự hiểu biết, sự thông thái, trí tuệ…. Theo Ph.Ăngghen “giai cấp vô sản lao động trí óc phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên”, “sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân còn cần phải có những bác sĩ, kỹ sư, nhà hoá học, nhà nông học và các chuyên gia khác… cần đến những kiến thức vững chắc chứ không phải những câu suông sáo oang oang”4. Kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cho rằng: “trí thức bao hàm không chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của những người lao động”5.

Xuất phát từ thực tiễn hoạt động cách mạng, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đề cập đến khái niệm trí thức. Người đặt câu hỏi và tự trả lời: “Trí thức là gì ? Trí thức tức là sự hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết về sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra; hai là hiểu biết về tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra ngoài hai cái đó không có tri thức nào khác…. Trí thức hoàn toàn là người phải đem cái tri thức của mình áp dụng vào trong thực tế.

Trí thức có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nước nhà. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Người xem việc sử dụng nhân tài là điều kiện tiên quyết cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Trọng dụng trí thức, nhân tài trong và ngoài Đảng giúp chống lại âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực phản động, bảo vệ chính quyền cách mạng, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Để tập hợp được nhân tài, Người đã tìm được điểm chung của giới trí thức. Đó là họ giàu tinh thần yêu nước, muốn cống hiến tất cả tài năng của mình cho dân tộc, cho đất nước. Trong bài viết “Nhân tài và kiến quốc” ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đất nước ta cần phải kiến thiết ngoại giao, kinh tế, quân sự, giáo dục… muốn như thế phải mời trí thức ra giúp nước nhà. Người nhấn mạnh “nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”8.

Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 1991 xác định: trí thức không chỉ là một bộ phận hợp thành liên minh công – nông – trí mà còn được xác định ở vị trí xung kích trong nguồn nhân lực thực hiện công cuộc đổi mới. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước khẳng định: trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là để trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững”9. Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 xác định: “lực lượng lao động trí óc, có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu, có khả năng tư duy độc lập sáng tạo; là lực lượng quan trọng trong khối liên minh công nhân – nông dân – trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, chịu trách nhiệm đi tiên phong tạo ra sản phẩm tinh thần và vật chất có chất lượng cho xã hội… là nguồn lực đặc biệt trong phát triển kinh tế tri thức, công nghiệp hóa – hiện đại hóa…”10.

Qua các kỳ Đại hội Đảng, Đảng luôn nhấn mạnh yêu cầu phát huy trí tuệ, trọng dụng nhân tài, đồng thời xác định đội ngũ trí thức là trung tâm, hạt nhân của phát triển, đi đầu trong nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ. Thực tiễn đó cho thấy đội ngũ trí thức giữ vai trò then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với thành công của chiến lược phát triển đất nước.

Văn kiện Đại hội XII (2016) xác định: phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, khẳng định trí thức là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.Đại hội XIII (2021) tiếp tục phát huy vai trò trí thức trong xây dựng, phát triển đất nước, nhấn mạnh sức mạnh đại đoàn kết, trong đó có vai trò của các tầng lớp trí thức, nhân tài.

Văn kiện Đại hội XIV (năm 2026) tiếp tục tôn trọng và phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức với tư cách là lực lượng then chốt trong nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng khoa học – công nghệ, xây dựng đội ngũ trí thức có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; phát huy vai trò của nhân lực chất lượng cao, khoa học,  công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Trên cơ sở đó, Đảng yêu cầu đổi mới nội dung và phương thức vận động trí thức theo hướng tôn trọng, bảo đảm tự do trong nghiên cứu và sáng tạo; trọng dụng, đãi ngộ xứng đáng nhân tài; đồng thời xây dựng môi trường, cơ chế, chính sách thuận lợi để trí thức phát huy năng lực và cống hiến lâu dài. Công tác vận động trí thức vì vậy được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước.

4. Thực tiễn công tác vận động trí thức ở TP. Hồ Chí Minh

Hiện nay, đội ngũ trí thức của TP. Hồ Chí Minh không chỉ lớn mạnh về số lượng mà còn không ngừng tăng về chất lượng, độ tuổi không ngừng trẻ hóa. Trí thức TP. Hồ Chí Minh ngày càng được mở rộng, có trình độ chuyên môn cao và kỹ năng tốt. Trong xu hướng trẻ hóa đội ngũ, một bộ phận lớn trí thức TP. Hồ Chí Minh có độ tuổi trẻ, năng động, có trình độ chuyên môn cao, đi đầu trong nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế.

Theo thống kê năm 2024, TP. Hồ Chí Minh hiện có khoảng 1,6 triệu người trí thức bao gồm các nhóm chuyên môn khác nhau, trong đó khoảng 18.000 là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia đầu ngành và nghệ sĩ nhân dân; gần 80.000 thạc sĩ; riêng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ có 188 giáo sư, 1.116 phó giáo sư và 6.870 tiến sĩ. Lực lượng này tập trung ở 109 trường đại học, 371 tổ chức khoa học công nghệ, 78 viện nghiên cứu, 279 phòng thí nghiệm và các hội văn học nghệ thuật, tổ chức xã hội nghề nghiệp và doanh nghiệp. Đội ngũ trí thức TP. Hồ Chí Minh chiếm hơn 20% trí thức khoa học cả nước11…. Đây là động lực, là điểm tựa quan trọng để công tác vận động trí thức của Thành phố đạt nhiều bước tiến mới, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển thành phố và kiến tạo cho tương lai, đặc biệt trong bối cảnh đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Thứ nhất, nhận thức của các cấp ủy đảng và chính quyền TP. Về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức, Hồ Chí Minh ngày càng được nâng cao.Thành phố xác định trí thức là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững của thành phố, đồng thời từng bước thể chế hóa quan điểm này trong các chủ trương, nghị quyết và chương trình hành động.

Đại hội Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2020-2025 xác định thành phố phải huy động mọi nguồn lực, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế và phát huy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo để thúc đẩy phát triển bền vững, nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó có đội ngũ trí thức. Nghị quyết Đại hội khẳng định, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba chương trình đột phá chiến lược phát triển thành phố. Đây là bước tiến trong tư duy lãnh đạo của Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh coi trí thức là lực lượng hỗ trợ, sau đó xác định trí thức là nguồn lực chiến lược, trực tiếp quyết định chất lượng và hiệu quả phát triển của thành phố.

Thứ hai, TP. Hồ Chí Minh đã từng bước thể chế hóa chủ trương thu hút, trọng dụng trí thức thông qua việc ban hành và triển khai nhiều cơ chế, chính sách tương đối đồng bộ. Tiêu biểu là Chương trình phát triển nguồn nhân lực TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 – 2025, trong đó nhấn mạnh mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt; quy định rõ tiêu chuẩn, quy trình tuyển chọn và chế độ đãi ngộ. Đồng thời, xây dựng và phát triển Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh, Công viên Phần mềm Quang Trung trở thành không gian tập hợp, phát huy vai trò của trí thức trong nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, thúc đẩy các ngành công nghiệp mũi nhọn và kinh tế số. Bên cạnh đó, đề án xây dựng TP. Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh huy động hiệu quả trí thức tham gia tư vấn, hoạch định và triển khai các giải pháp quản trị đô thị hiện đại, góp phần quan trọng vào thành tựu đổi mới của Thành phố và đất nước.

Thứ ba, công tác vận động, tập hợp và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức từng bước được đổi mới về nội dung và phương thức.

TP. Hồ Chí Minh duy trì việc tổ chức Hội nghị gặp gỡ trí thức hàng năm nhằm lắng nghe, tiếp thu ý kiến đóng góp của đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia đối với các vấn đề phát triển kinh tế – xã hội. TP. Hồ Chí Minh chú trọng phát huy vai trò tư vấn, phản biện khoa học và xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thành phố, thông qua việc tham gia góp ý, phản biện các đề án, chương trình, dự án quan trọng, góp phần nâng cao cơ sở khoa học và tính khả thi của các quyết sách. Ngoài ra, Thành phố tổ chức nhiều hoạt động hợp tác, đối thoại chuyên sâu trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với các đối tác trong và ngoài nước, đặc biệt trong khuôn khổ các sự kiện quốc tế như WEF (World Economic Forum), nhằm kết nối các nhà quản lý với chuyên gia khoa học mà còn mở ra kênh tham vấn, phản biện về chính sách, cơ chế hợp tác và ứng dụng công nghệ trong phát triển đô thị.

Thứ tư, công tác kết nối, thu hút và phát huy đội ngũ trí thức trong và ngoài nước đã đạt được những kết quả nhất định.

Thông qua các hoạt động kết nối học thuật, hợp tác khoa học, công nghệ, diễn đàn chuyên gia và các chương trình hợp tác quốc tế, thành phố từng bước mở rộng không gian tập hợp trí thức, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài. Việc tạo điều kiện để trí thức trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu, tư vấn và đề xuất giải pháp cho các lĩnh vực phát triển ưu tiên đã góp phần bổ sung nguồn lực tri thức chất lượng cao, tăng cường tiếp cận tri thức tiên tiến và kinh nghiệm quốc tế.

Hiện nay, TP. Hồ Chí Minh có 3 nhóm trí thức, được ví như ba trụ cột luôn bám sát, sẵn sàng chia sẻ và hỗ trợ địa phương. Nhóm thứ nhất là những trí thức trẻ do Viện Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh phụ trách; nhóm trí thức cao tuổi do Viện Nghiên cứu Phát triển Phương Đông làm đầu mối và nhóm trí thức Việt Nam ở nước ngoài luôn sẵn sàng tập hợp khi cần thiết. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra đối với sự phát triển của TP. Hồ Chí Minh.

Có thể khẳng định, công tác vận động trí thức ở TP. Hồ Chí Minh thời gian qua đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, chính quyền với đội ngũ trí thức; tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của thành phố trong giai đoạn mới, công tác này cần tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ theo hướng thực chất và hiệu quả hơn.

So với yêu cầu phát triển TP. Hồ Chí Minh theo mục tiêu đề ra, công tác vận động trí thức còn một số hạn chế nhất định.

Một là, nhận thức và tư duy về công tác vận động trí thức ở một số cấp, ngành vẫn chưa chuyển biến tương xứng; việc xác lập vai trò chủ thể và động lực phát triển của đội ngũ trí thức chưa được thể hiện đầy đủ trong thực tiễn lãnh đạo và quản lý. Thực tiễn cho thấy, ở một số ít cấp, ngành của TP. Hồ Chí Minh, công tác vận động trí thức gắn nhiều với sinh hoạt hội, phong trào, chưa gắn chặt với các nhiệm vụ chiến lược như xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, đô thị sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh…

Hai là, việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng và phát huy đội ngũ trí thức vào hệ thống chính sách công của TP. Hồ Chí Minh còn thiếu tính đồng bộ và đột phá, chưa hình thành được cơ chế đủ mạnh để thu hút, trọng dụng, sử dụng và bảo vệ trí thức, nhất là trong các lĩnh vực then chốt gắn với mô hình tăng trưởng mới của Thành phố. Chính sách thu hút, trọng dụng trí thức còn phân tán theo từng đề án, chương trình, chưa hình thành khung chính sách tổng thể, ổn định và dài hạn; việc chuyển hóa thành chính sách công cụ thể của TP. Hồ Chí Minh còn chậm và thiếu tính đột phá.

Ba là, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị đối với công tác vận động trí thức còn bộc lộ những điểm nghẽn, thể hiện rõ ở việc chưa tạo lập được môi trường và kênh tham gia thực chất để trí thức đóng góp thường xuyên, có trách nhiệm và hiệu quả vào quá trình hoạch định, phản biện và thực thi chính sách phát triển TP. Hồ Chí Minh. Nhiều trí thức phản ánh việc tham gia góp ý chính sách chưa có kênh ổn định, chủ yếu thông qua hội thảo, tọa đàm mang tính tham vấn ngắn hạn…

Những hạn chế trên đã và đang đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức và tư duy lãnh đạo, quản lý nhằm xác lập đầy đủ vai trò của đội ngũ trí thức như một lực lượng nòng cốt tham gia kiến tạo mô hình phát triển dựa trên kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo và quản trị đô thị hiện đại; các định hướng hoàn thiện thể chế hóa chủ trương của Đảng về trí thức thành hệ thống chính sách công đồng bộ, ổn định và có tính đột phá; đồng thời nghiên cứu các cơ chế phù hợp nhằm thu hút, trọng dụng, sử dụng và bảo vệ đội ngũ trí thức, đáp ứng yêu cầu xây dựng TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và tài chính quốc tế.

Quá trình vận động trí thức trong giai đoạn mới đặt ra vấn đề cần xác định rõ mô hình, phương thức tổ chức thực hiện và cơ chế bảo đảm sự tham gia thực chất, thường xuyên của trí thức vào quá trình hoạch định, phản biện và thực thi chính sách; qua đó thúc đẩy chuyển hóa tri thức khoa học thành nguồn lực nội sinh quan trọng, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của TP. Hồ Chí Minh đến năm 2045.

5. Một số giải pháp

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức và thống nhất tư duy trong toàn hệ thống chính trị về vị trí, vai trò chiến lược của đội ngũ trí thức trong mô hình phát triển TP. Hồ Chí Minh dựa trên kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo và quản trị đô thị hiện đại. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chủ động định hướng nội dung vận động trí thức gắn với các mục tiêu lớn như xây dựng trung tâm tài chính, trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đô thị thông minh, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.

Hai là, rà soát, hoàn thiện và tích hợp các chính sách liên quan đến đội ngũ trí thức theo hướng đồng bộ, ổn định và có tính cạnh tranh cao, đặc biệt, chú trọng xây dựng cơ chế đặc thù để thu hút và sử dụng trí thức trong các lĩnh vực then chốt, đồng thời hoàn thiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích trí thức dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo trong nghiên cứu khoa học và tham gia hoạch định chính sách phát triển Thành phố trong dài hạn

Ba là, xây dựng và vận hành hiệu quả các kênh, diễn đàn và cơ chế tham vấn ổn định để trí thức tham gia thường xuyên, có trách nhiệm vào quá trình xây dựng, phản biện và thực thi các chính sách lớn của Thành phố; nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, các hội trí thức trong việc tập hợp, kết nối và dẫn dắt đội ngũ trí thức, qua đó thúc đẩy việc chuyển hóa tri thức khoa học và sáng kiến đổi mới thành nguồn lực nội sinh quan trọng

Bốn là, hoàn thiện hệ thống quy định, quy chế về tôn vinh và khen thưởng trí thức theo hướng lấy năng lực, kết quả và sản phẩm đầu ra làm thước đo chủ yếu, bảo đảm sự ghi nhận tương xứng với giá trị đóng góp thực chất. Các hình thức tôn vinh cần phản ánh rõ văn hóa trọng dụng hiền tài; đồng thời rà soát, cải tiến hệ thống giải thưởng khoa học và công nghệ, các danh hiệu tôn vinh theo hướng thống nhất, tránh trùng lặp, chồng chéo, tạo động lực để trí thức khẳng định vai trò, nâng cao trách nhiệm và cống hiến cho sự phát triển của Thành phố và đất nước.

6. Kết luận

Trí thức là nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực. Công tác trí thức tốt sẽ góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh: “dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”, công tác dân vận đối với đội ngũ trí thức tốt, đạt hiệu quả sẽ góp phần xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp. Người đứng đầu Chính phủ đã từng nhấn mạnh: “Chúng ta phải làm cho cán bộ làm khoa học dám ước mơ, dám khát vọng, theo đuổi khát vọng, đam mê nghiên cứu khoa học. Trong trăm việc, nghìn việc cần làm để trở thành quốc gia đổi mới sáng tạo thì việc đầu tiên phải làm là đổi mới sáng tạo cách trọng dụng con người”. TP. Hồ Chí Minh đang cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới.

Thực tiễn cho thấy, chất lượng công tác vận động trí thức có ý nghĩa quyết định đối với việc phát huy nguồn lực trí tuệ, chuyển hóa tri thức khoa học thành động lực trực tiếp phục vụ phát triển Thành phố. Do đó, việc đổi mới công tác Đảng, hoàn thiện chính sách công và tổ chức thực hiện hiệu quả công tác vận động trí thức không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là nhân tố then chốt bảo đảm TP. Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới, đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của đất nước.

Chú thích:
1. Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh (2025). Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
2. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30/12/2022 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
3. Quốc hội (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh.
4. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1993). Tập 22. H. NXB. Chính trị quốc gia, tr. 613.
5. V.I.Lênin toàn tập (1978). Tập 41. Matxcơva. NXB.Tiến bộ, tr. 37.
6, 8. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB. Chính trị quốc gia, tr. 42, 313.
7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB. Chính trị quốc gia, tr. 504.
9. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
10. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức.
11. Giải bài toán cơ cấu lại đội ngũ cán bộ trong tinh gọn bộ máy.  https://plo.vn/giai-bai-toan-co-cau-lai-doi-ngu-can-bo-trong-tinh-gon-bo-may-post827464.html.