Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức trong chính sách phát triển đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay

Applying President Ho Chi Minh’s perspectives on intellectuals to development policies for the science and technology intelligentsia in Ho Chi Minh City today

ThS. Vũ Văn Nam
Trường Đại học An ninh nhân dân

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong kỷ nguyên số, tri thức khoa học và công nghệ là lực lượng sản xuất cốt lõi. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức là kim chỉ nam để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. TP. Hồ Chí Minh, với vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước, đã được tạo điều kiện phát triển đặc thù. Tuy nhiên, Thành phố vẫn tồn tại những điểm nghẽn khiến không tạo ra đủ nguồn nhân lực trí thức khoa học – công nghệ để phát triển. Để tháo gỡ những điểm nghẽn, Thành phố cần đánh giá đúng thực trạng hiện nay và vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức trong chính sách phát triển đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ hiện nay.

Từ khóa: Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đội ngũ trí thức; TP. Hồ Chí Minh; khoa học và công nghệ.

Abstract: In the digital era, science and technology constitute a core productive force. President Ho Chi Minh’s perspectives on the intelligentsia provide a foundational framework for cultivating high-quality human resources. Ho Chi Minh City, as the country’s leading economic hub, has been granted specific policy mechanisms to support its development. However, the city still faces structural constraints that limit the development of the human resources needed for sustainable progress. To address these challenges, it is essential to accurately assess the current situation and systematically apply Ho Chi Minh’s thought on intellectuals within contemporary policy frameworks to develop the đội ngũ chuyên môn workforce.

Keywords: President Ho Chi Minh’s thought; Intellectual workforce; Ho Chi Minh City; Science and technology.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tri thức khoa học – công nghệ đã thoát ra khỏi vai trò là công cụ sản xuất, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, quyết định năng lực của mọi quốc gia trong tình hình mới. Nhận thức sâu sắc về vai trò quyết định của nguồn nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên số, Đảng và Nhà nước thấy rõ giá trị định hướng và tầm nhìn vượt thời đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”1. Quan điểm của Người mang triết lý sâu sắc về nghệ thuật “dụng nhân”: đòi hỏi sự tin tưởng, giao phó trọng trách và kiến tạo một môi trường dân chủ để trí thức được tự do sáng tạo, cống hiến hết mình cho sự nghiệp kiến quốc.

TP. Hồ Chí Minh mang sứ mệnh lịch sử là đầu tàu kinh tế của cả nước, là trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước, tập trung các viện nghiên cứu, trường đại học và tập đoàn công nghệ mang trọng trách dẫn dắt tri thức khoa học – công nghệ của đất nước. Tuy nhiên, TP. Hồ Chí Minh hiện nay còn tồn tại những điểm nghẽn về hạ tầng; cùng với đó là vướng mắc về “hạ tầng tư duy”, ưu tiên tài sản hữu hình, ngại rủi ro đổi mới dẫn đến chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển hiện tại. Sự mâu thuẫn giữa kỳ vọng phát triển bứt phá, sự chững lại của mô hình phát triển kinh tế và các điểm nghẽn thể chế đang đặt nước ta trước nguy cơ “chảy máu chất xám”.

Năm 2026, cùng với những điểm mới trong chiến lược phát triển đất nước được đặt ra sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần XIV của Đảng cũng là thời điểm TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước những cột mốc phát triển mang tính lịch sử được xác định là năm Thành phố chuyển trạng thái từ “khởi động” sang “tăng tốc” bằng những hành động đột phá nhằm lan tỏa các kết quả phát triển kinh tế – xã hội. Do đó, việc nghiên cứu vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức trong chính sách phát triển đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay là yêu cầu mang tính cấp bách về cả lý luận lẫn thực tiễn.

2. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức

(1) Trí thức là “vốn liếng quý báu của dân tộc”, cần trọng dụng đội ngũ trí thức trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong gia đình nho học. Người từng là giáo viên, sau này là nghiên cứu sinh ở Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Trong những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, Người đọc được Luận cương của Lênin và khẳng định: “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản”3, nhưng không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh… phải có tri thức cách mạng. Do đó, Người rất coi trọng việc trọng dụng và phát triển đội ngũ trí thức.

Sau khi thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (tháng 6/1925), Người chủ trương tập trung vào việc đào tạo, rèn luyện cán bộ thông qua các lớp huấn luyện chính trị và cử đội ngũ này về nước hoạt động, tuyên truyền lý luận cách mạng giải phóng dân tộc, phát triển hội viên. Năm 1945, trong bối cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập đặt ra yêu cầu phải tìm người tài đức ra gánh vác việc nước. Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan điểm kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài ở nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều. Người kêu gọi: “Chúng tôi mong rằng đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay.

(2) Trí thức đóng vai trò trọng yếu trong việc tham mưu chiến lược, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và củng cố vững chắc nền quốc phòng – an ninh.

 Đội ngũ trí thức không chỉ là những người thực hành mà còn là những người trực tiếp xây dựng các luận cứ khoa học, giúp Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách đúng đắn. Nhận thức rất rõ vai trò kiến thiết và khả năng quản trị của giới trí thức, ngay từ những ngày đầu lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Người luôn chủ trương “Tìm người tài đức”, kêu gọi những người có trí tuệ ra gánh vác việc nước. Chính nhờ sự trọng dụng ấy, đội ngũ trí thức đã phát huy tối đa năng lực tư duy chiến lược của mình, trực tiếp tham gia vào công tác quản lý quốc gia và thiết kế những đường lối chiến lược để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con người không chỉ dừng lại ở việc coi trí thức như công cụ lao động mà còn ở chỗ trí thức có vai trò tham gia vào xây dựng và điều hành đất nước. Trong quá trình thành lập Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động mời các nhà trí thức, nhân sĩ, quan lại của triều đình phong kiến tham gia chính quyền, cử giữ những chức vụ trong Chính phủ, như: Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng Nội vụ trong Chính phủ lâm thời; Nguyễn Văn Tố giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong Chính phủ lâm thời; Bùi Bằng Đoànlàm cố vấn Chủ tịch nước, Trưởng ban Thanh tra Đặc biệt và Trưởng ban Thường trực Quốc hội…

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đánh giá cao và tin dùng đội ngũ trí thức mà còn yêu cầu đội ngũ trí thức phải kết hợp lý luận với thực tiễn, phải dũng cảm hy sinh đấu tranh để làm gương cho Nhân dân. Người chỉ rõ: “Cách mạng rất cần trí thức và chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức… Trí thức đáng trọng là trí thức hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ Nhân dân” và “Một người trí thức hoàn toàn thì phải biết đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế4.

(3) Trí thức là lực lượng tiên phong trong giáo dục, đào tạo, phát triển khoa học công nghệ và kiến tạo vững chắc nền tảng văn hóa – tư tưởng. 

Trí thức là lực lượng trực tiếp nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài và đưa trình độ khoa học – công nghệ của nước nhà tiệm cận với thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, qua đó đặt trọng trách khai sáng dân trí lên vai những người làm công tác giáo dục, khoa học. Đối với trí thức hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, Người giao nhiệm vụ rất rõ ràng: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Dưới ngọn cờ tư tưởng của Bác, đội ngũ trí thức đã và đang dùng ngòi bút, trí tuệ và các công trình nghiên cứu của mình để làm giàu đời sống tinh thần của Nhân dân, đồng thời bảo vệ vững chắc pháo đài tư tưởng của đất nước.

Đội ngũ trí thức không chỉ cần có “tài”, mà “đức” cũng phải sáng ngời. “Tài” bao hàm kiến thức văn hóa, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và năng lực tổ chức thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”6. Người từng ví von: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân7. Do đó, “tài” và “đức” phải có mối quan hệ biện chứng với nhau.

3. Thực trạng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ TP. Hồ Chí Minh hiện nay

3.1. Chính sách phát triển đội ngũ khoa học – công nghệ ở TP. Hồ Chí Minh.

TP. Hồ Chí Minh khẳng định vị thế tiên phong qua việc kiến tạo thể chế đột phá nhằm phát triển đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ. Điểm tựa pháp lý cốt lõi cho giai đoạn này là Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 của Quốc hội XV giúp tháo gỡ triệt để các rào cản về cơ chế đãi ngộ nhân tài. Việc thực thi hiệu quả 36/44 nội dung của Nghị quyết đã tạo ra những dấu ấn thực tiễn đậm nét. Qua đó, hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong các lĩnh vực ưu tiên với 66 dự án với tổng kinh phí trên 4,3 tỷ đồng; xét duyệt 152 dự án với tổng kinh phí đề xuất hỗ trợ là 10,3 tỷ đồng. Đối với các tổ chức khoa học – công nghệ công lập đã đánh giá đạt 3/21 hồ sơ đăng ký thực hiện các nhiệm vụ khoa học – công nghệ để hình thành và phát triển trung tâm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế, trong đó 01 hồ sơ đã được phê duyệt tham gia Đề án xây dựng cơ chế thúc đẩy để hình thành và phát triển trung tâm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế với kinh phí 85 tỷ đồng.

Năm 2024, thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Thành phố đã nhanh chóng cụ thể hóa bằng một hệ thống văn bản chỉ đạo chiến lược, bao gồm: Chương trình hành động số 63-CTrHĐ/TU ngày 27/02/2025; Kế hoạch số 1413/KH-UBND ngày 03/3/2025; Kế hoạch hành động số 459-KH/TU ngày 21/5/2025 cùng Kế hoạch số 27-KH/BCĐTP. Thông qua nền tảng pháp lý đồng bộ, thống nhất, mục tiêu phát triển đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ được định lượng rõ nét: đạt 12 nhân lực nghiên cứu trên 10.000 dân; lực lượng tinh hoa đóng vai trò nòng cốt làm chủ công nghệ lõi và đẩy mạnh tỷ lệ thương mại hóa công trình nghiên cứu lên mốc 8–10%. Đồng thời, thế hệ trí thức kế cận cũng đang được ươm tạo bài bản qua hệ thống giáo dục STEM, hình thành lực lượng tiên phong đáp ứng yêu cầu bứt phá của kỷ nguyên mới.

Việc thu hút và giữ chân đội ngũ trí thức tại TP. Hồ Chí Minh hiện vẫn gặp nhiều rào cản do cơ chế tuyển chọn còn nặng tính hành chính, chú trọng bằng cấp hơn năng lực thực tiễn. Thêm vào đó, chính sách đãi ngộ thiếu cạnh tranh, thủ tục thanh quyết toán rườm rà và rào cản rủi ro pháp lý trong nghiên cứu khoa học đã làm nản lòng không ít chuyên gia. Những điểm nghẽn về hệ sinh thái này đang khiến Thành phố phải đối mặt với áp lực “chảy máu chất xám” nghiêm trọng sang khu vực tư nhân. Những hạn chế trên được thể hiện rõ trong thực tế như: Chương trình tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị còn gặp nhiều khó khăn. “Từ năm 2018 đến 6 tháng đầu năm 2024, nguồn cán bộ trẻ từ sinh viên và đội ngũ viên chức tham gia đào tạo theo 3 chương trình giảm mạnh, không đạt được chỉ tiêu đề ra”8. Số lượng sinh viên tốt nghiệp xuất sắc được thu hút vào khu vực công còn khiêm tốn. Số công chức được tuyển dụng theo trường hợp người tài năng là 13/498 người được tuyển dụng (chiếm 2,61%); số viên chức được tuyển dụng diện sinh viên tốt nghiệp xuất sắc là 3/1.385 người được tuyển dụng (chiếm 0,22%). Một số cán bộ, công chức, viên chức trẻ có trình độ cao, năng lực tốt không tiếp tục gắn bó với công tác trong khu vực công sau khi hoàn thành thời gian phục vụ bắt buộc. Số lượng chuyên gia, nhà khoa học được thu hút còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của Thành phố. Ở giai đoạn 2018 – 2022, số lượng chuyên gia thu hút chưa đạt được mục tiêu đề ra: Thành phố thu hút được 5/8 chuyên gia, nhà khoa học và không thu hút được người có tài năng đặc biệt (0/6)9.

Nhìn chung, chính sách phát triển đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ tại TP. Hồ Chí Minh đang đi đúng hướng và thể hiện quyết tâm chính trị vô cùng to lớn của chính quyền thành phố. Việc tận dụng hiệu quả Nghị quyết số 98/2023/QH15 đã giúp tháo gỡ nút thắt lớn nhất về trần thù lao, thiết lập một nền tảng thu hút nhân tài đột phá. Tuy nhiên, bài học từ thực tiễn chứng minh rằng tài chính không phải là “cây đũa thần”. TP. Hồ Chí Minh còn chậm trong chuyển đổi tư duy từ “thu hút nhân tài” sang “kiến tạo hệ sinh thái nhân tài”. Chưa trao quyền tự trong nghiên cứu và thiết lập các cơ chế thử nghiệm chấp nhận rủi ro khoa học cũng như giảm tải thủ tục hành chính.

3.2. Sự phát triển đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay.

Sự phát triển của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ tại TP. Hồ Chí Minh hiện nay đang chứng kiến những bước tiến mạnh mẽ, đóng vai trò là động lực chủ yếu cho mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững của Thành phố.

Về mặt tích cực, TP. Hồ Chí Minh với chính sách, cơ chế đã chủ động tiên phong trong việc ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút, bồi dưỡng nhân tài và chuyên gia, nhờ đó, chất lượng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ngày càng được nâng cao. Cụ thể, TP. Hồ Chí Minh sở hữu đội ngũ cán bộ nghiên cứu đông đảo với hơn 16.000 người tham gia trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu và phát triển, trong đó tỷ lệ nhân lực có trình độ từ thạc sĩ và tiến sĩ trở lên chiếm tỷ lệ áp đảo tới 76%. Nguồn nhân lực này tập trung mạnh vào các lĩnh vực mang tính ứng dụng cao như khoa học kỹ thuật – công nghệ (33%), khoa học xã hội (30%) và khoa học y dược. Sự đóng góp của giới trí thức được lượng hóa rõ nét qua kết quả đổi mới sáng tạo, với khối tài sản trí tuệ khổng lồ bao gồm hơn 1.500 tài sản trí tuệ chung, trên 1.900 sáng chế và gần 1.300 giải pháp hữu ích. Đặc biệt, nỗ lực của Thành phố trong việc dành tới 1,84% tổng chi ngân sách cho khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã tạo ra một bệ phóng tài chính vững chắc, giúp đội ngũ trí thức an tâm nghiên cứu và kiến tạo giá trị.

Tuy nhiên, sự phát triển của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ tại TP. Hồ Chí Minh vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở độ trễ của chính sách và sự chênh lệch lớn giữa cung và cầu nhân lực chất lượng cao trước mục tiêu xây dựng siêu đô thị thông minh. Dù đã có nhiều quy trình ưu đãi thu hút nhân tài được ban hành, nhưng thực tế số lượng chuyên gia đầu ngành thực sự được thu hút vào khu vực công vẫn còn rất khiêm tốn (ví dụ, trong giai đoạn 10 năm thực hiện một số chính sách cũ, Thành phố chỉ thu hút được 17 chuyên gia cấp cao, tập trung ở các mảng cơ bản và công nghệ cao). Cơ chế đãi ngộ của nhà nước đôi khi vẫn vướng mắc bởi các rào cản hành chính, chưa đủ sức cạnh tranh sòng phẳng với sức hút từ khu vực tư nhân hoặc các tập đoàn công nghệ nước ngoài, dẫn đến bài toán giữ chân nhân tài gặp nhiều thách thức. Thêm vào đó, hệ sinh thái kết nối từ nhà trường, viện nghiên cứu đến doanh nghiệp chưa thực sự liền mạch; nhiều công trình của đội ngũ trí thức vẫn dừng lại ở dạng nghiên cứu cơ bản, tỷ lệ thương mại hóa ứng dụng vào thực tiễn kinh doanh hoặc các lĩnh vực chuyên sâu để cạnh tranh quốc tế (như AI, vi mạch, tài chính quốc tế) vẫn chưa tương xứng với kỳ vọng.

TP. Hồ Chí Minh hiện là nơi có số lượng các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp công nghệ cao lớn của cả nước. Theo số liệu từ Sở Khoa học – Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, hiện Thành phố có hơn 20.000 nhà khoa học, trong đó khoảng 15.000 người có trình độ đại học và trên đại học. Tuy nhiên, con số này vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu về nguồn nhân lực cho sự phát triển của Thành phố. Chất lượng đội ngũ trí thức khoa học của TP. Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong các lĩnh vực khoa học công nghệ cao như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ sinh học. Cụ thể, TP. Hồ Chí Minh hiện chỉ có khoảng 2.500 chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực công nghệ cao, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển các ngành công nghiệp chiến lược của Thành phố.

Đánh giá một cách tổng thể, đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ chính là “chìa khóa” cốt lõi quyết định sự thành bại trong công cuộc đổi mới mô hình quản trị và nâng cao năng lực cạnh tranh của TP. Hồ Chí Minh. Những hạn chế hiện tại chủ yếu xuất phát từ cơ chế vận hành và môi trường ươm tạo chưa đạt độ chín muồi. TP. Hồ Chí Minh chưa tạo ra những đột phá mạnh mẽ hơn nữa về thể chế quản trị dựa trên khoa học – công nghệ. Nhân lực khoa học – công nghệ chưa được đặt vào vị trí trung tâm của mọi chiến lược, chưa được nuôi dưỡng tư duy phản biện và tinh thần đổi mới sáng tạo, thiếu tinh thần kiến tạo cho đất nước.

3.3. Mức độ đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực trí thức khoa học – công nghệ tại TP. Hồ Chí Minh hiện nay.

Nguồn nhân lực khoa học – công nghệ đang từng bước đáp ứng tốt hơn các yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Thành phố. Chất lượng đội ngũ trí thức có sự cải thiện rõ rệt với tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt mức cao 85,2%, trong đó lực lượng có trình độ từ đại học trở lên chiếm 18,8% (vượt xa mức trung bình 10,6% của cả nước). Nhờ sự tập trung của giới tinh hoa học thuật, năng suất lao động của thành phố hiện cao gấp 2,6 lần mức bình quân toàn quốc. Lực lượng trí thức này đang trực tiếp đóng góp vào việc gia tăng hàm lượng tri thức trong nền kinh tế, thể hiện qua chiến lược đưa chỉ số năng suất các nhân tố tổng hợp đóng góp tới 60% vào tăng trưởng GRDP (tổng sản phẩm quốc nội) trong kịch bản giai đoạn 2026-2030. Đây là những minh chứng cụ thể cho việc Thành phố đã và đang xây dựng được một nền tảng nhân lực đủ mạnh để duy trì vị thế đầu tàu kinh tế, bước đầu thích ứng hiệu quả với kỷ nguyên số và phát triển nền kinh tế tri thức.

Năm 2024, TP. Hồ Chí Minh có 8.338 người đang làm việc trong các tổ chức khoa học – công nghệ thuộc quản lý của TP. Hồ Chí Minh (theo số liệu báo cáo của 237/427 tổ chức khoa học – công nghệ), trong đó nhân lực nữ chiếm 46,6%. Xét từ trình độ cao đẳng đến trình độ tiến sĩ, có chênh lệch lớn về giới tính ở trình độ tiến sĩ. Số nhân lực nữ chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng số nhân lực ở trình độ này. Về độ tuổi, nhân lực ngành khoa học – công nghệ tập trung chủ yếu trong độ tuổi lao động: nhóm tuổi “Đến 35 tuổi” chiếm 33,9%, “Từ 36 – 45 tuổi” chiếm 35,8% và “Từ 46 – 55 tuổi” chiếm 20,3%. Trình độ của nhân lực khoa học – công nghệ cũng có sự chuyển biến rõ rệt theo các nhóm tuổi. Nếu nhóm “Đến 35 tuổi” có số lượng nhân lực trình độ đại học chiếm phần lớn thì ở nhóm “36 – 45 tuổi” và “46 – 55 tuổi” có số lượng nhân lực có trình độ sau đại học là chủ đạo. Ngoài ra, có thể thấy ở nhóm tuổi trên 60, người tham gia hoạt động trong các tổ chức khoa học – công nghệ đa phần có trình độ tiến sĩ. Đây là những chuyên gia với nhiều kinh nghiệm, góp phần vào công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các tổ chức khoa học – công nghệ.

Mặc dù TP. Hồ Chí Minh có tỷ lệ đội ngũ trí thức khoa học khá cao, nhưng vẫn còn sự mất cân đối giữa các ngành khoa học. Các ngành như khoa học xã hội, nhân văn và các lĩnh vực khoa học cơ bản đang thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ giảng viên và chuyên gia có trình độ cao. Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học công nghệ vẫn chưa đi đôi với nhu cầu ứng dụng vào thực tiễn. Nhiều nghiên cứu được thực hiện tại các trường đại học, viện nghiên cứu, nhưng chưa được chuyển giao hiệu quả vào các hoạt động sản xuất và đổi mới công nghệ. Một vấn đề tồn tại nghiêm trọng là AI hiện đang là tác nhân hàng đầu làm trầm trọng nạn thất nghiệp ở Việt Nam nói chung, đặc biệt là ở các thành phố lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội. Nghĩa là mặc dù thiếu trầm trọng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ nhưng tỷ lệ thất nghiệp vẫn đang rất cao tại TP. Hồ Chí Minh.

Hình 2. Tỷ lệ thất nghiệp

Thời gianTỷ lệ thất nghiệp
Quý I/20252,20%
Quý II/20252,24%
Quý III/20252,22%
Quý IV/20252,22%
Nguồn: Cục Thống kê – Bộ Tài chính năm 2025.

Trong đó, số lượng lao động trẻ dưới 35 tuổi thất nghiệp là gần 22.400 người, chiếm tỷ lệ 49,06%. Đáng chú ý, người có trình độ đại học trở lên thất nghiệp là 9.297 người, chiếm 20,02%.

Nhìn chung, mức độ đáp ứng của nguồn nhân lực trí thức khoa học – công nghệ hiện nay mới chủ yếu giải quyết được các bài toán tăng trưởng ở cấp độ nền tảng nhưng vẫn đang chịu sức ép lớn để đưa thành phố bứt phá thành một siêu đô thị thông minh và trung tâm công nghệ của khu vực. Để thu hẹp khoảng cách này, cốt lõi là phải cải cách mạnh mẽ về mặt thể chế quản trị. Cần kiến tạo một hệ sinh thái nghiên cứu mở, nơi trí thức được giao quyền tự chủ cao, được bảo vệ trước các rủi ro trong đổi mới sáng tạo và được chia sẻ lợi ích xứng đáng từ việc thương mại hóa tài sản trí tuệ. Khi thiết kế các chính sách phát triển nguồn nhân lực tại đây, việc xây dựng các khung pháp lý đặc thù nhằm chuyển hóa tối đa tri thức hàn lâm thành các ứng dụng thực tiễn sẽ là chìa khóa then chốt để khai phóng toàn bộ tiềm năng của đội ngũ trí thức.

4. Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức trong phát triển nguồn nhân lực trí thức khoa học – công nghệ ở TP. Hồ Chí Minh

4.1. Đổi mới cơ chế trọng dụng nhân tài, kiến tạo không gian nghiên cứu và phát triển đột phá gắn với vai trò đầu tàu kinh tế hiện nay.

Ngay từ những ngày đầu giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài10. Về mặt tổng quát, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh coi con người là “vốn quý nhất”, Thành phố cần xóa bỏ tư duy quản lý hành chính xơ cứng, chuyển sang cơ chế quản trị nhân tài linh hoạt, đặc biệt nhằm phục vụ mục tiêu đưa kinh tế nhà nước trở thành lực lượng “mở đường”. TP. Hồ Chí Minh phải mạnh dạn đổi mới, xóa bỏ các rào cản hành chính, tạo điều kiện để kinh tế phát triển đúng theo quan điểm chỉ đạo của Đảng về phát triển kinh tế nhà nước và phát triển kinh tế tư nhân.

TP. Hồ Chí Minh trước hết cần vận dụng cơ chế mở của Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh cùng với sự triển khai đồng bộ, có hiệu quả Quyết định số 05/2026/QĐ-UBND ngày 01/02/2026 của Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh để đẩy mạnh cải cách hành chính, phát triển kinh tế, đặc biệt tập trung vào phát triển lĩnh vực khoa học – công nghệ thông qua Nghị quyết số 57/NQ-TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị. Đồng thời, cần nghiên cứu tổng quan và xây dựng phương án triển khai cụ thể, dài hạn về nội dung Nghị quyết số 68/NQ-TW ngày 04/5/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79/NQ-TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.

Cụ thể, Thành phố cần ban hành cơ chế “đặt hàng” và khoán kinh phí trọn gói cho các chuyên gia đầu ngành, các “tổng công trình sư” tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước để họ đủ thẩm quyền và nguồn lực thiết kế các hệ thống công nghệ phức tạp, thông qua đó thu hút nguồn nhân lực khoa học công nghệ đầu ngành. Cần thiết lập các không gian nghiên cứu thử nghiệm trong các trung tâm nghiên cứu phát triển, cho phép trí thức được chủ động thử nghiệm các rủi ro công nghệ cao mà khu vực tư nhân chưa thể đảm đương. Đồng thời, áp dụng hệ thống đãi ngộ vượt trội dựa trên chỉ số đo lường hiệu quả và giá trị thương mại hóa của công trình, thay vì ngạch, bậc lương truyền thống, nhằm triệt tiêu lực cản “chảy máu chất xám” và thu hút trí thức gốc Việt trên toàn cầu về phụng sự đất nước.

4.2. Gắn kết đào tạo tri thức với thực tiễn sản xuất, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực và tạo sức bật cho nền kinh tế.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng học đi đôi với hành, việc phát triển đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ tại TP. Hồ Chí Minh phải hướng đến mục tiêu xóa bỏ triệt để độ trễ giữa nghiên cứu hàn lâm và nhu cầu của thị trường lao động. Hệ thống giáo dục – đào tạo và các viện nghiên cứu cần được tái cấu trúc theo mô hình “Tam giác đổi mới sáng tạo”, xác lập cơ chế liên kết hữu cơ giữa nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Tri thức được tạo ra phải trực tiếp tháo gỡ các điểm nghẽn kỹ thuật, tạo động lực bứt phá cho cả khu vực kinh tế tư nhân năng động và khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

TP. Hồ Chí Minh cần làm tốt công tác khảo sát nguồn lực hiện có, yêu cầu về nguồn lực khoa học – công nghệ của TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tạo cơ sở dữ liệu khoa học, từ đó định hướng trao đổi “đặt hàng” đào tạo với các cơ sở đào tạo và có phương án thu hút nhân tài phù hợp, hiệu quả. Quy hoạch nguồn nhân lực cần có tầm nhìn lâu dài để định hướng đào tạo từ chương trình giáo dục phổ thông, tạo nguồn lực khoa học và công nghệ đáp ứng được yêu cầu phát triển dài hạn của TP. Hồ Chí Minh.

Các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm tại TP. Hồ Chí Minh phải chủ động phối hợp với TP. Hồ Chí Minh để tinh chỉnh cơ cấu tuyển sinh, cập nhật chương trình giảng dạy, đưa vào các học phần chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn và quản trị hệ thống phức hợp nhằm kiến tạo thế hệ “tổng công trình sư” tương lai. Ngoài ra, Thành phố cần xây dựng cơ chế “đặt hàng” đào tạo và nghiên cứu trực tiếp từ các công ty, tập đoàn kinh doanh trong lĩnh vực khoa học và công nghệ để tận dụng được cả nguồn nhân lực và cơ sở nghiên cứu tư nhân. Tuy nhiên ở các lĩnh vực thuộc cơ sở hạ tầng trọng yếu, TP. Hồ Chí Minh  cần thiết lập các “Quỹ chuyển đổi kỹ năng số” nhằm liên tục tái đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trí thức về khoa học – công nghệ và phát triển các không gian phòng thí nghiệm dùng chung giữa khối viện, trường và doanh nghiệp sẽ giúp trí thức khoa học công nghệ có môi trường thực nghiệm, trực tiếp chuyển hóa lý luận thành lực lượng sản xuất vật chất, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Thành phố.

4.3. Chuẩn mực của trí thức khoa học – công nghệ là sự thống nhất hữu cơ giữa “đức” và “tài”.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chuẩn mực cốt lõi của người trí thức cách mạng là sự thống nhất biện chứng, không thể tách rời giữa đạo đức cách mạng và năng lực chuyên môn. Trong mối quan hệ có tính biện chứng này, Người luôn nhấn mạnh “đạo đức là cái gốc”. Đối với người làm công tác khoa học, “đức” không chỉ là phẩm hạnh cá nhân thuần túy mà còn được thăng hoa thành lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần cống hiến vô tư và ý thức trách nhiệm phụng sự giai cấp, dân tộc. Đó chính là hệ điều giá trị cốt lõi giúp trí thức đề kháng lại chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng thực dụng và thói kiêu ngạo học thuật. Song hành với “đức”, “tài” được định hình bằng phông nền kiến thức chuyên môn sâu rộng, sự nhạy bén về tri thức và khả năng sáng tạo không ngừng nghỉ. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích rất biện chứng: nếu có tài mà không có đức thì tài năng ấy dễ đi chệch hướng, trở nên vô dụng, thậm chí gây tổn hại cho lợi ích chung; ngược lại, nếu chỉ có nhiệt tình cách mạng, có tấm lòng trong sáng nhưng thiếu hụt năng lực khoa học thì “làm việc gì cũng khó”, không thể giải quyết được những bài toán hóc búa của thực tiễn kiến thiết nước nhà.

Vận dụng tư tưởng sâu sắc này vào chiến lược phát triển nguồn nhân lực tại Thành phố. Hiện nay, việc xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ đòi hỏi quá trình bồi dưỡng toàn diện để hình thành nên những “tổng công trình sư” vừa có tâm, vừa có tầm. Về mặt “đức”, trong bối cảnh kỷ nguyên số đầy biến động, đội ngũ trí thức Thành phố phải được trui rèn bản lĩnh chính trị, giữ vững khát vọng tự cường và đề cao trách nhiệm xã hội. Họ phải lấy việc giải quyết các thách thức của đô thị, cải thiện dân sinh và bảo đảm an ninh tri thức làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động nghiên cứu. Về mặt “tài”, lực lượng này phải không ngừng nâng cấp tư duy hệ thống, vươn lên làm chủ các công nghệ lõi nhằm dẫn dắt quá trình chuyển đổi số của cả khu vực kinh tế nhà nước và tư nhân. Sự hội tụ đầy đủ về phẩm chất “vừa hồng, vừa chuyên” chính là điều kiện tiên quyết để đội ngũ chuyên gia công nghệ cao hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử, đưa Thành phố vươn tầm trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo vững mạnh của khu vực.

5. Kết luận

Việc vận dụng sáng tạo di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức đóng vai trò là kim chỉ nam cho mọi quyết sách, coi nhân tài là “vốn liếng quý báu của dân tộc” và yêu cầu xây dựng đội ngũ trí thức “vừa hồng, vừa chuyên”. Để kiến tạo một lực lượng “tổng công trình sư” đủ sức bứt phá, Thành phố cần chuyển đổi tư duy quản trị từ việc đơn thuần “thu hút” sang “kiến tạo hệ sinh thái nhân tài”. Điều này đòi hỏi sự mạnh dạn trao quyền tự chủ, chấp nhận rủi ro khoa học, tháo gỡ triệt để các rào cản thủ tục và vận hành hiệu quả mô hình liên kết “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp” để đưa tri thức hàn lâm nhanh chóng chuyển hóa thành lực lượng sản xuất. Đồng thời, việc lồng ghép các giá trị đạo đức công vụ, tinh thần phụng sự quốc gia theo tư tưởng Hồ Chí Minh vào văn hóa tổ chức sẽ tạo ra môi trường làm việc dân chủ, minh bạch và gắn kết. Tóm lại, việc thấm nhuần và vận dụng đồng bộ tư tưởng của Người không chỉ giúp Thành phố tháo gỡ những rào cản thể chế hiện tại mà còn là chìa khóa cốt lõi để xây dựng thành công một đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ tinh hoa, góp phần đưa TP. Hồ Chí Minh vươn tầm trở thành siêu đô thị thông minh, phát triển bứt phá, văn minh, hiện đại.

Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011).Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 275.
2. Phạm Văn Thanh (2001). Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác – Lênin trong các trường đại học ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ, 2001, tr. 8.
3, 4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 30, 505.
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 613 – 614.
6, 7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 11. H.NXB Chính trị quốc gia, tr. 346, 612.
8. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2024). Báo cáo số 161/BC-UBND ngày 19/6/2024 về công tác cải cách hành chính 6 tháng đầu năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2024 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
9. Nguyễn Minh Nhựt (2022). Thực trạng chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt đối với lĩnh vực TP. Hồ Chí Minh có nhu cầu thu hút trong giai đoạn 2018 – 2022 và định hướng thời gian tới. Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt của Thành phố trong thời gian qua và định hướng trong thời gian tới”, Sở Nội vụ và Học viện Cán bộ TP. Hồ Chí Minh, tr. 71.
10. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 33.

Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chỉ đạo TP. Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW (2026). Kế hoạch số 27-KH/BCĐTP về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh năm 2026.
2. Ban Thường vụ Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (2025). Kế hoạch hành động số 459-KH/TU ngày 21/5/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy TP. Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Hội đồng nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2023). Nghị quyết số 27/2023/NQ-HĐND ngày 8/12/2023 về quy định mức thu nhập, hỗ trợ và đãi ngộ đối với chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt trong các lĩnh vực mà thành phố có nhu cầu thu hút.
7. Quốc hội (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh.
8. Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (2025). Chương trình hành động số 63-CTrHĐ/TU ngày 27/02/2025 của Thành ủy TP. Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
9. Tổng cục Thống kê Việt Nam (2025). Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý I, II, III, IV năm 2025.
10. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026). Quyết định số 05/2026/QĐ-UBND ngày 01/02/2026 về thu hút chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt của TP. Hồ Chí Minh.
11. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2023). Quy định mức tiền lương, tiền công cho các chức danh lãnh đạo trong tổ chức khoa học – công nghệ công lập.