State management of community-based tourism in the Southern Area of Tuyen Quang Province
Trần Toàn Trung
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
ThS. Đỗ Ngọc Nhung
Học viện Phụ nữ Việt Nam
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng tại khu vực phía Nam tỉnh Tuyên Quang – địa bàn sở hữu hệ thống di tích lịch sử – cách mạng tiêu biểu, cảnh quan sinh thái đặc sắc và bản sắc văn hóa đa dân tộc phong phú. Trên cơ sở khảo sát 122 cán bộ, công chức, viên chức và phân tích số liệu thực tiễn giai đoạn 2023 – 2025 cho thấy, các chỉ số đánh giá dao động từ mức trung bình đến khá, phản ánh nền tảng quản lý có định hướng nhưng còn thiếu đồng bộ trong triển khai. Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng, góp phần phát triển du lịch bền vững tại địa phương và tạo sinh kế lâu dài cho cộng đồng dân cư.
Từ khóa: Quản lý nhà nước; du lịch cộng đồng; khu vực phía Nam tỉnh Tuyên Quang; phát triển bền vững.
Abstract: This article examines the state management of community-based tourism in the southern area of Tuyen Quang Province – a region characterized by a prominent system of historical and revolutionary relics, distinctive ecological landscapes, and rich multi-ethnic cultural heritage. Drawing on a survey of 122 officials, civil servants, and public employees, along with an analysis of practical data from the 2023-2025 period, the study finds that the evaluation indicators range from average to good levels. These results reflect a management foundation that is strategically oriented yet lacks coordination in implementation. On this basis, the article proposes solutions to strengthen the effectiveness of state management in community-based tourism, thereby contributing to sustainable tourism development in the locality and generating long-term livelihoods for local communities.
Keywords: State management; community-based tourism; southern area of Tuyen Quang province; sustainable development.
1. Đặt vấn đề
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch dựa vào cộng đồng địa phương, khai thác giá trị văn hóa, thiên nhiên và con người bản địa nhằm tạo ra sinh kế bền vững và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu hướng tiêu dùng du lịch có trách nhiệm ngày càng được đề cao, du lịch cộng đồng đã trở thành một hướng đi chiến lược được nhiều quốc gia và địa phương lựa chọn.
Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến loại hình du lịch này thông qua các văn bản, như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, Luật Du lịch năm 2017, Quyết định số 3222/QĐ-BVHTTDL ngày 30/10/2024 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Đề án phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam.
Khu vực phía Nam tỉnh Tuyên Quang (địa bàn huyện Sơn Dương trước ngày 01/7/2025), nay là 10 xã mới được thành lập theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội sở hữu lợi thế đặc biệt để phát triển du lịch cộng đồng. Địa bàn này hội tụ ba yếu tố cốt lõi: Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào với giá trị lịch sử – cách mạng đặc sắc; hệ sinh thái tự nhiên đa dạng với nhiều thác nước, cảnh quan rừng núi và không gian văn hóa phong phú của 19 dân tộc cùng sinh sống. Năm 2024, khu vực đã thu hút 958.450 lượt khách du lịch với doanh thu đạt 1.164 tỷ đồng1, phản ánh tiềm năng to lớn của khu vực.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, công tác quản lý nhà nước (QLNN) về du lịch cộng đồng tại địa phương còn nhiều bất cập: quy hoạch thiếu đồng bộ, phối hợp liên ngành chưa hiệu quả, nguồn nhân lực còn yếu và cơ chế huy động nguồn lực xã hội hóa chưa đủ mạnh. Khoảng trống nghiên cứu cũng rõ nét khi chưa có công trình khoa học nào phân tích chuyên sâu về QLNN đối với du lịch cộng đồng tại khu vực này. Xuất phát từ đó, bài viết đánh giá thực trạng QLNN về du lịch cộng đồng khu vực phía Nam tỉnh Tuyên Quang, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả QLNN, thúc đẩy du lịch cộng đồng phát triển bền vững trong giai đoạn 2026 – 2030.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
2.1. Khung lý luận quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng
QLNN về du lịch cộng đồng được tiếp cận từ hai góc độ tích hợp. Từ phương diện khoa học quản lý, đây là hệ thống các hoạt động quản trị công do Nhà nước thực hiện nhằm thiết lập mục tiêu, xây dựng thể chế, tổ chức bộ máy, huy động và phối hợp nguồn lực; đồng thời, giám sát quá trình phát triển du lịch cộng đồng. Từ góc độ kinh tế học, QLNN về du lịch cộng đồng xuất phát từ yêu cầu khắc phục các khiếm khuyết thị trường trong việc bảo vệ các tài nguyên chung, như: cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa và môi trường sinh thái. Sự can thiệp của Nhà nước thông qua công cụ chính sách, pháp luật và quy hoạch nhằm điều chỉnh hành vi các chủ thể, bảo đảm lợi ích công cộng và phân bổ hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng.
Lý thuyết vốn con người của Schultz2 và Becker3, 4 nhấn mạnh rằng, đầu tư vào đào tạo mang lại lợi ích lâu dài cho năng suất và tăng trưởng – luận cứ quan trọng để biện giải sự cần thiết của QLNN trong phát triển nguồn nhân lực du lịch cộng đồng. Lý thuyết quản lý công mới (New Public Management – NPM) cho thấy, hiệu quả quản trị nhà nước trong kỷ nguyên số phụ thuộc vào việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ và tăng cường tính minh bạch trong điều hành5.
Căn cứ vào Luật Du lịch năm 2017, Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, bài viết xác định 7 nội dung QLNN về du lịch cộng đồng để phân tích: (1) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; (2) Lập kế hoạch, quy hoạch tài nguyên; (3) Quản lý đội ngũ cán bộ và nhân lực; (4) Tổ chức bộ máy; (5) Quản lý tài chính và đầu tư; (6) Hợp tác, kết nối và xúc tiến; (7) Thanh tra, kiểm tra. Hiệu quả QLNN được đánh giá theo bốn tiêu chí: pháp quyền và quản lý tốt; minh bạch; kịp thời; đồng thuận xã hội và trách nhiệm giải trình.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích định lượng và định tính. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phiếu khảo sát gồm 150 phiếu phát ra đến cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan QLNN về du lịch trên địa bàn, gồm: chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) xã, phó chủ tịch UBND xã phụ trách du lịch, công chức phòng Văn hóa – Xã hội, viên chức ban quản lý các khu du lịch tỉnh. Số phiếu hợp lệ thu về là 122 phiếu (chiếm 81,3% tổng số phát ra). Thang đo Likert 5 mức được sử dụng để đánh giá từng tiêu chí, với điểm trung bình được phân loại: 1,00 – 2,59 là kém/yếu; 2,60 – 3,39: trung bình; 3,40 – 4,19: khá; 4,20 – 5,00: tốt. Dữ liệu thứ cấp gồm báo cáo tổng kết của UBND huyện Sơn Dương (trước ngày 01/7/2025) và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2023 – 2025; các văn bản quy phạm pháp luật và kết quả thống kê từ hoạt động thanh tra, kiểm tra.
3. Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng khu vực phía Nam tỉnh Tuyên Quang
Khu vực phía Nam tỉnh Tuyên Quang là địa bàn cửa ngõ, cách trung tâm tỉnh Tuyên Quang khoảng 30 km và cách Hà Nội khoảng 103 km. Địa bàn hội tụ tài nguyên du lịch cộng đồng phong phú trên hai phương diện. Về tài nguyên lịch sử – văn hóa, khu vực có 226 điểm di tích lịch sử, trong đó 46 di tích xếp hạng quốc gia và 82 di tích xếp hạng tỉnh6. Nổi bật nhất là Khu du lịch lịch sử, văn hóa và sinh thái Tân Trào – di tích quốc gia đặc biệt. Về tài nguyên sinh thái, địa hình chuyển tiếp giữa trung du và miền núi, hệ thống thác nước (thác Đát, thác Đồng Bừa, thác Đồng Đài) và không gian văn hóa của 19 dân tộc với lễ hội Lồng Tông, hát Then – đàn Tính, Tết nhảy của người Dao, lễ Cấp Sắc tạo nên sức hấp dẫn riêng biệt.
Làng văn hóa du lịch Tân Lập, xã Tân Trào là mô hình du lịch cộng đồng trọng điểm với 18 hộ gia đình dân tộc Tày trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ homestay, có khả năng tiếp nhận khoảng 800 lượt khách lưu trú mỗi ngày7. Sản phẩm “cơm kháng chiến” – ẩm thực gắn với lịch sử Tân Trào và các chương trình biểu diễn hát Then đặc sắc là hai sản phẩm du lịch có tính khác biệt cao. Lượng khách du lịch toàn khu vực tăng trưởng ổn định: 937.200 lượt (năm 2023), 958.450 lượt (năm 2024) và 587.100 lượt chỉ trong 6 tháng đầu năm 20258.
Tổng hợp kết quả đánh giá theo thang điểm Likert 5 mức, khảo sát 122 cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan QLNN về du lịch cộng đồng khu vực phía Nam tỉnh Tuyên Quang theo 7 nội dung QLNN trong giai đoạn 2020 – 2025 cho thấy:
Bảng 1. Kết quả đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng khu vực phía Nam tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2020 – 2025
| STT | Nội dung quản lý nhà nước | Điểm trung bình (thang 5) | Nhận định mức độ |
| 1 | Ban hành văn bản quy phạm pháp luật | 3,43 | Khá |
| 2 | Lập kế hoạch, quy hoạch tài nguyên | 3,40 | Khá |
| 3 | Quản lý đội ngũ cán bộ và nhân lực | 3,24 | Trung bình |
| 4 | Tổ chức bộ máy quản lý | 3,28 | Trung bình |
| 5 | Quản lý tài chính và đầu tư | 3,11 | Trung bình |
| 6 | Hợp tác, kết nối và xúc tiến | 3,17 | Trung bình |
| 7 | Thanh tra, kiểm tra | 3,37 | Trung bình |
(1) Về ban hành văn bản quy phạm pháp luật (điểm trung bình: 3,43 – mức khá), đây là nội dung được đánh giá cao nhất trong bảy nội dung khảo sát. Hệ thống văn bản pháp luật của trung ương và tỉnh Tuyên Quang, đặc biệt là Luật Du lịch năm 2017, Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch và Nghị quyết số 29-NQ/TU ngày 16/6/2021 của Tỉnh ủy Tuyên Quang về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh đã được triển khai tương đối nghiêm túc. Tiêu chí về tính đầy đủ, đồng bộ và minh bạch của hệ thống văn bản đạt điểm trung bình 3,74, cao nhất trong các tiêu chí khảo sát. Tuy nhiên, tiêu chí về mức độ phù hợp khi cụ thể hóa chính sách vào thực tiễn địa phương chỉ đạt 2,95 điểm, phản ánh độ trễ trong chuyển hóa chính sách từ văn bản sang hành động.
(2) Về lập kế hoạch, quy hoạch tài nguyên du lịch cộng đồng (điểm trung bình: 3,40 – mức khá), giai đoạn 2020 – 2025, tỉnh Tuyên Quang và các cấp chính quyền địa phương đã phê duyệt và triển khai 15 dự án hạ tầng du lịch với tổng vốn trên 650 tỷ đồng9. Song tiêu chí về tính kịp thời trong triển khai chỉ đạt 3,24 điểm cho thấy, vẫn tồn tại độ trễ giữa quy hoạch và tổ chức thực thi, ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác tài nguyên.
(3) Về quản lý đội ngũ cán bộ và nhân lực (đạt 3,24 – mức trung bình), tỷ lệ cán bộ tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng du lịch tăng mạnh, từ 42,86% năm 2023 lên 100% năm 202510. Hệ thống đào tạo nguồn nhân lực du lịch tỉnh cung ứng ngày càng nhiều lao động nhưng sự kết nối giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn của du lịch cộng đồng địa phương vẫn còn hạn chế, khiến tiêu chí về mức độ đáp ứng yêu cầu thực tiễn của nguồn nhân lực chỉ đạt 3,08 điểm.
(4) Về tổ chức bộ máy QLNN (đạt 3,28 – mức trung bình), bộ máy được tổ chức theo mô hình ngành dọc: UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện (nay là Phòng Văn hóa – Xã hội cấp xã). Cơ cấu tổ chức và số lượng cán bộ được đánh giá ở mức khá (lần lượt 3,46 và 3,45 điểm), song tiêu chí về phối hợp liên ngành chỉ đạt 2,95 điểm, thấp nhất trong các tiêu chí, phản ánh tình trạng chồng chéo chức năng và thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan quản lý văn hóa, tài nguyên môi trường, nông nghiệp và chính quyền cơ sở.
(5) Về quản lý tài chính và đầu tư (đạt 3,11 – mức trung bình), đây là nội dung được đánh giá thấp nhất. Kinh phí cho trùng tu, tôn tạo di tích từ năm 2016 đến nay đạt trên 129 tỷ đồng11, đầu tư cho các công trình trọng điểm, như: Bảo tàng Tân Trào, Khu tưởng niệm các vị tiền bối cách mạng. Tuy nhiên, tiêu chí về mức độ đáp ứng hạ tầng và cơ sở vật chất chỉ đạt 2,88 điểm, phản ánh độ trễ giữa phân bổ vốn và triển khai thực tế, cũng như cơ chế thu hút đầu tư tư nhân vào du lịch cộng đồng còn yếu.
(6) Về hợp tác, kết nối và xúc tiến (đạt 3,17 – mức trung bình), địa phương đã chủ động tham mưu UBND tỉnh Tuyên Quang thúc đẩy liên kết du lịch với 8 tỉnh, thành phố lân cận và bước đầu mở rộng hợp tác quốc tế với tỉnh Xiêng Khoảng (nước CHDCND Lào). Hoạt động xúc tiến qua nền tảng số được đẩy mạnh. Song tiêu chí về triển khai xúc tiến thực chất chỉ đạt 2,96 điểm cho thấy, khoảng cách lớn giữa ký kết thỏa thuận hợp tác và hành động cụ thể.
(7) Về thanh tra, kiểm tra (đạt 3,37 – mức trung bình), có 28 văn bản liên quan đến thanh tra kiểm tra được ban hành, với 5 cuộc thanh tra của UBND tỉnh và 17 cuộc kiểm tra của Sở năm 202412. Đáng ghi nhận là tỷ lệ vi phạm giảm mạnh: từ 44,25% năm 2023 xuống 5,73% năm 202513. Tiêu chí về tính thường xuyên và có kế hoạch được đánh giá cao nhất (3,78 điểm), nhưng tiêu chí về bảo đảm đúng quy trình và thời hạn chỉ đạt 2,91 điểm, phản ánh độ trễ trong xử lý và thực thi kết luận thanh tra.
Tổng hợp kết quả phân tích cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác QLNN về du lịch cộng đồng tại khu vực phía Nam tỉnh Tuyên Quang, vẫn còn một số hạn chế sau:
Thứ nhất, thiếu tính đồng bộ trong triển khai chính sách: mặc dù hệ thống văn bản pháp luật tương đối đầy đủ nhưng việc cụ thể hóa vào điều kiện địa phương còn chậm, dẫn đến độ trễ trong tổ chức thực hiện.
Thứ hai, phối hợp liên ngành yếu: sự chồng chéo và thiếu trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan cùng cấp làm hiệu lực quản lý chưa thực sự phát huy, đặc biệt sau khi chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025, đội ngũ công chức phòng Văn hóa – Xã hội phải đảm nhiệm nhiệm vụ của nhiều lĩnh vực cùng lúc.
Thứ ba, năng lực cán bộ và nguồn nhân lực du lịch cộng đồng chưa đáp ứng yêu cầu, tỷ lệ cán bộ đạt chuẩn về ngoại ngữ và tin học chuyên sâu còn thấp; kỹ năng làm du lịch cộng đồng của người dân còn hạn chế.
Thứ tư, cơ chế huy động nguồn lực xã hội hóa chưa đủ mạnh, việc thu hút doanh nghiệp tư nhân và nhà đầu tư chiến lược vào du lịch cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn do thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro và ưu đãi hấp dẫn.
4. Một số giải pháp
Một là, hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu lực thực thi. Cần rà soát, bổ sung các văn bản QLNN về du lịch cộng đồng theo thẩm quyền, đặc biệt là quy định rõ tiêu chí công nhận điểm du lịch cộng đồng, cơ chế phân chia lợi ích giữa cộng đồng, doanh nghiệp và yêu cầu bảo vệ môi trường. Đa dạng hóa kênh phổ biến pháp luật, đặc biệt là ứng dụng phương tiện kỹ thuật số và ngôn ngữ dân tộc thiểu số để tiếp cận cộng đồng sâu hơn.
Hai là, nâng cao chất lượng quy hoạch và thực thi quy hoạch du lịch cộng đồng. Rà soát và hoàn thiện quy hoạch chi tiết phát triển du lịch cộng đồng theo hướng tích hợp đa ngành, gắn kết chặt chẽ với Quy hoạch tổng thể Khu du lịch quốc gia Tân Trào. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng và điều chỉnh quy hoạch; thiết lập cơ chế kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện quy hoạch định kỳ hằng quý.
Ba là, phát triển toàn diện nguồn nhân lực du lịch cộng đồng. Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng liên ngành cho cán bộ QLNN về du lịch, tập trung vào kỹ năng số, phân tích dữ liệu du lịch, quản lý điểm đến và ngoại ngữ. Đối với cộng đồng dân cư, ưu tiên bồi dưỡng kỹ năng quản lý homestay, nghiệp vụ du lịch, giao tiếp văn hóa và chuyển đổi số. Mở rộng kết nối giữa Phòng Văn hóa – Xã hội cấp xã với các cơ sở đào tạo nghề du lịch trong và ngoài tỉnh.
Bốn là, kiện toàn bộ máy QLNN và cơ chế phối hợp liên ngành. Trong điều kiện chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp tỉnh cần giữ vai trò kiến tạo thể chế và điều phối, trong khi phòng Văn hóa – Xã hội cấp xã đảm nhận chức năng tổ chức thực hiện gắn với cộng đồng và thị trường. Thiết lập cơ chế phối hợp liên xã có tính thể chế hóa, bao gồm: chia sẻ thông tin, phân công nhiệm vụ rõ ràng và cơ chế giải trình giữa các xã trong tiểu vùng.
Năm là, đa dạng hóa nguồn lực tài chính và nâng cao hiệu quả đầu tư. Tăng cường lồng ghép các nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Dự án 06), ngân sách tỉnh và huy động xã hội hóa. Xây dựng cơ chế ưu đãi hấp dẫn (tín dụng ưu đãi, miễn giảm thuế) để thu hút doanh nghiệp lữ hành đầu tư vào phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng. Đồng thời, triển khai cơ chế phân phối lợi ích công bằng, minh bạch giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị du lịch cộng đồng.
Sáu là, đổi mới xúc tiến du lịch theo hướng số hóa và liên vùng. Đẩy mạnh quảng bá du lịch cộng đồng trên các nền tảng số (mạng xã hội, ứng dụng du lịch số…), ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR360) để trình diễn không gian làng văn hóa Tân Lập và các điểm di tích. Xây dựng các tuyến du lịch liên vùng kết nối khu vực phía Nam tỉnh Tuyên Quang với các điểm đến lân cận (ATK Định Hóa – Thái Nguyên, Đền Hùng, Tam Đảo – Phú Thọ), tạo sản phẩm du lịch đa chiều, kéo dài thời gian lưu trú của du khách.
Bảy là, nâng cao hiệu lực và hiệu quả thanh tra, kiểm tra. Duy trì tần suất kiểm tra định kỳ và đột xuất theo kế hoạch; tăng cường tính răn đe của chế tài xử lý vi phạm; thiết lập cơ chế giám sát đa chiều có sự tham gia của cộng đồng địa phương và các tổ chức xã hội. Sử dụng kết quả thanh tra như dữ liệu đầu vào quan trọng cho quá trình điều chỉnh và hoàn thiện chính sách phát triển du lịch cộng đồng theo chu trình khép kín.
5. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, QLNN về du lịch cộng đồng tại khu vực phía Nam tỉnh Tuyên Quang đã được triển khai tương đối đồng bộ, với mức đánh giá từ trung bình đến khá. Điều này phản ánh nền tảng thể chế và định hướng quản lý đã bước đầu hình thành, song hiệu quả thực thi còn hạn chế, nhất là trong phối hợp liên ngành, quản lý tài chính và huy động nguồn lực phục vụ phát triển bền vững.
Khu vực này đang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch cộng đồng nhờ lợi thế tài nguyên du lịch, giá trị văn hóa đa dân tộc, cùng sự hỗ trợ từ các chủ trương, chính sách quốc gia và xu hướng du lịch bền vững. Tuy nhiên, để chuyển hóa tiềm năng thành động lực phát triển, cần đổi mới đồng bộ ba trụ cột QLNN: hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực cán bộ và cộng đồng; đồng thời, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư.
Các giải pháp được đề xuất hướng tới mô hình quản lý tích hợp, phát huy vai trò kiến tạo của cấp tỉnh, vai trò tổ chức thực hiện của cấp xã và sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng. Đến năm 2030, du lịch cộng đồng khu vực phía Nam tỉnh Tuyên Quang cần trở thành thương hiệu du lịch đặc trưng, góp phần phát triển kinh tế địa phương và nâng cao sinh kế bền vững cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.
Chú thích:
1, 6, 7, 10. Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Sơn Dương (2025). Báo cáo tổng kết công tác các năm 2023, 2024 và 6 tháng đầu năm 2025.
2. Schultz, T.W. (1961). Investment in Human Capital. American Economic Review, 51(1), 1-17.
3. Becker, G. S. (1962). Investment in Human Capital: A Theoretical Analysis. The Journal of Political Economy, pp.9-49.
4. Becker, G. S. (1964). Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis with Special Reference to Education. Columbia University Press, New York
5. Nazmul Ahsan Kalimullah, Kabir M. Ashraf Alam, M. M. Ashaduzzaman Nour (2012). New Public Management: Emergence and Principles. BUP Journal, 1(1) 2012, pp.2219-4851.
8, 9, 11, 12, 13. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang (2025). Báo cáo tổng kết công tác các năm 2023, 2024 và 6 tháng đầu năm 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2024). Quyết định số 3222/QĐ-BVHTTDL ngày 30/10/2024 phê duyệt Đề án phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam.
2. Phạm Trung Lương (2010). Tài liệu giảng dạy về du lịch cộng đồng. Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, Tổng cục Du lịch.
3. Quốc hội (2017). Luật Du lịch năm 2017.
4. Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 2073/QĐ-TTg ngày 22/12/2017 phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang đến năm 2030.
5. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.
6. Tỉnh ủy Tuyên Quang (2021). Nghị quyết số 29-NQ/TU ngày 16/6/2021 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.
7. Phạm Thị Cẩm Vân (2025). Nghiên cứu về du lịch cộng đồng ở Việt Nam: nguồn lực phát triển và những trở ngại. Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 9(13), tr. 106-114.



