Thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sáng tạo Việt Nam: nhận định từ khía cạnh nguồn lực

Commercialization of Vietnam’s innovative industrial products: perspectives from a resource perspective

TS. Trần Thị Thu Hương
Trường Đại học Thương mại
PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Nhàn
Trường Đại học Thương mại

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết tập trung đánh giá các nguồn lực thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sáng tạo tại Việt Nam, bao gồm: nguồn lực sản phẩm/nội dung, con người, tài chính, hạ tầng và công nghệ, thị trường và thương hiệu, thể chế, pháp lý và chính sách. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù Việt Nam sở hữu kho tàng di sản phong phú và thị trường tăng trưởng tốt, quá trình thương mại hóa đang gặp “điểm nghẽn” lớn do nhân lực thiếu hụt kỹ năng quản trị doanh nghiệp sáng tạo, cơ chế tài chính chưa linh hoạt và hạ tầng “mềm” chưa đồng bộ. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp chiến lược để phát huy các nguồn lực, khơi thông dòng chảy thương mại cho các sản phẩm công nghiệp sáng tạo1.

Từ khóa: Công nghiệp sáng tạo; công nghiệp văn hóa; nguồn lực; thương mại hóa; Việt Nam.

Abstract: This article evaluates the resources for commercializing creative industrial products in Vietnam, including product/content resources, human resources, financial resources, infrastructure and technology, market and branding, and institutional, legal, and policy frameworks. The research findings indicate that although Vietnam possesses a rich cultural heritage and a growing market, the commercialization process faces significant “bottlenecks” due to a shortage of human resources with skills in managing creative enterprises, inflexible financial mechanisms, and inconsistent “soft” infrastructure. This article proposes strategies for using resources and supporting the flow of commerce for creative industrial products.

Keywords: Creative industries; cultural industries; resources; commercialization; Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Khái niệm “ngành công nghiệp sáng tạo” thực chất xuất phát từ thuật ngữ “ngành công nghiệp văn hóa” đã được sử dụng từ những năm 40, thế kỷ XX bởi các nhà lý thuyết trường phái Frankfurt. Tổ chức UNESCO (2013)2 đưa ra khái niệm ngành công nghiệp sáng tạo cũng dựa trên nền tảng này, đó là “những ngành có chu trình sáng tạo, sản xuất và phân phối hàng hóa và dịch vụ dựa trên văn hóa, có tính chất phi vật thể, mang tính biểu tượng và thường được bảo vệ bởi quyền sở hữu trí tuệ”. Bộ Văn hóa, Truyền thông và Thể thao Anh (DCMS, 2015)3 coi các ngành công nghiệp sáng tạo là: “những ngành có nguồn gốc từ sự sáng tạo cá nhân, kỹ năng và tài năng, với tiềm năng tạo ra sự giàu có và việc làm thông qua việc tạo ra và khai thác tài sản trí tuệ”.

Tại Việt Nam, khái niệm ngành công nghiệp sáng tạo vẫn đang trong quá trình hình thành. Các lĩnh vực thường được nhắc đến trong ngành công nghiệp sáng tạo bao gồm: điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn; phần mềm và các trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa; thiết kế sáng tạo; truyền hình và phát thanh; xuất bản… Đây là những ngành tạo ra các sản phẩm kết hợp yếu tố sáng tạo, văn hóa, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và hưởng thụ văn hóa của người dân.

Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, đóng góp 7% GDP của đất nước vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045. Để đạt được mục tiêu này, thương mại hóa các sản phẩm công nghiệp sáng tạo chính là chìa khóa giúp Việt Nam khơi thông nguồn lực nội sinh, khai thác thị trường nội địa có nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa ngày càng tăng, nắm bắt thời cơ hội nhập và cách mạng công nghiệp 4.0, đưa ngành công nghiệp sáng tạo cất cánh, xứng tầm với khát vọng vươn mình của dân tộc và khẳng định vị thế trên bản đồ văn hóa thế giới.

2. Một số vấn đề lý luận về nguồn lực thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sáng tạo

2.1. Khái niệm nguồn lực thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sáng tạo

Wernerfelt (1984)4 đưa ra khái niệm đầu tiên và tổng quát nhất về nguồn lựclà mọi thứ doanh nghiệp có, cụ thể là các tài sản hữu hình và vô hình gắn với doanh nghiệp. Barney (1991)5 chia nguồn lực thành 3 loại cơ bản, đó là: (1) Nguồn lực vật chất (gồm công nghệ, cơ sở vật chất và công cụ, phương tiện, nguồn nguyên liệu); (2) Nguồn lực con người (gồm kinh nghiệm, tri thức, quan hệ, đặc tính bên trong các cá nhân là nhà quản lý và nhân viên); (3) Nguồn lực tổ chức (gồm cấu trúc báo cáo chính thống, hệ thống kế hoạch, kiểm soát và phối hợp, các quan hệ giữa các nhóm trong doanh nghiệp với môi trường bên ngoài).

Thương mại hóa có thể định nghĩa là quá trình biến đổi một ý tưởng, phát minh hoặc sáng chế thành sản phẩm, dịch vụ hoặc quy trình khả thi về mặt thương mại (UNECE, 2011)6. Đây là quá trình phức tạp và bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của doanh nghiệp nhằm chuyển đổi tri thức, công nghệ và kỹ năng thành các sản phẩm, dịch vụ sáng tạo để khai thác các cơ hội thị trường, đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp và khách hàng. Khác với các ngành công nghiệp thông thường, thương mại hóa trong ngành công nghiệp sáng tạo chịu sự chi phối “kép”, vừa phải tuân thủ quy luật cung – cầu của thị trường, vừa phải bảo đảm giá trị văn hóa và tính độc đáo. Trong bối cảnh bùng nổ của kinh tế số, việc thương mại hóa các sản phẩm sáng tạo đã trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng. Tuy nhiên, để thực hiện điều này một cách hiệu quả, cần đảm bảo các nguồn lực thương mại hóa cho sản phẩm công nghiệp sáng tạo.

Trên cơ sở đó, có thể đưa ra khái niệm nguồn lực thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sáng tạo có thể được định nghĩa là tập hợp các yếu tố, tài sản (vật chất và phi vật chất), năng lực và các mối quan hệ mà doanh nghiệp hoặc cá nhân trong ngành công nghiệp sáng tạo sở hữu hoặc có thể tiếp cận, được sử dụng để chuyển đổi ý tưởng, sản phẩm, dịch vụ sáng tạo thành giá trị kinh tế có thể đo lường được thông qua các hoạt động mua bán, trao đổi trên thị trường. 

Mục tiêu cuối cùng của nguồn lực thương mại hóa là giá trị kinh tế. Đây là điểm phân biệt giữa nguồn lực thương mại hóa và các nguồn lực sáng tạo thuần túy. Giá trị kinh tế mà nguồn lực thương mại mang lại được thể hiện qua các chỉ số cụ thể như doanh thu, lợi nhuận, thị phần, giá trị vốn hóa thị trường, số lượng việc làm tạo ra, hoặc giá trị xuất khẩu.

2.2. Các yếu tố cấu thành nguồn lực thương mại hoá sản phẩm công nghiệp sáng tạo

Các nguồn lực thương mại hóa có thể được phân loại thành nhiều nhóm khác nhau, nhưng nhìn chung, chúng bao gồm các yếu tố chính. Các yếu tố này không tồn tại độc lập mà tương tác, bổ trợ lẫn nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho quá trình thương mại hóa.

Một là, nguồn lực sản phẩm/nội dung. Đây là nguồn lực trung tâm của mọi hoạt động thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sang tạo. Nếu không có sản phẩm/nội dung chất lượng và độc đáo, mọi nguồn lực khác đều trở nên vô nghĩa. Nguồn lực này bao gồm các yếu tố sau đây: ý tưởng sáng tạo độc đáo; các tác phẩm nghệ thuật (hội họa, điêu khắc), tác phẩm văn học (sách, kịch bản), tác phẩm âm nhạc (bài hát, album), tác phẩm nghe nhìn (phim, chương trình truyền hình, video clip), thiết kế (đồ họa, thời trang, kiến trúc, sản phẩm), phần mềm và trò chơi điện tử, các ứng dụng di động, các nội dung số (podcast, blog, vlog); công nghệ nền tảng và bí quyết kỹ thuật; quyền sở hữu trí tuệ (bản quyền, bằng sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý…).

Hai là, nguồn lực con người. Đây là yếu tố quan trọng nhất trong mọi quá trình sáng tạo và thương mại hóa. Nguồn lực con người trong thương mại hoá sản phẩm công nghiệp sáng tạo đòi hỏi sự kết hợp đặc biệt giữa tài năng sáng tạo, năng lực kinh doanh và mạng lưới quan hệ, bao gồm: đội ngũ sáng tạo, nghệ sĩ, nhà thiết kế, lập trình viên, nhà sản xuất; đồng thời là đội ngũ có kỹ năng kinh doanh, marketing, quản lý dự án kết hợp với mối quan hệ với những người có ảnh hưởng như nhà đầu tư, đối tác, truyền thông… để đưa sản phẩm ra thị trường.

Ba là, nguồn lực tài chính. Đây là nguồn lực để duy trì và thúc đẩy các hoạt động thương mại hóa; từ phát triển ý tưởng, tạo ra sản phẩm mẫu, nghiên cứu thị trường, phát triển và mở rộng kinh doanh. Nguồn lực tài chính để thương mại hoá sản phẩm sáng tạo có thể được huy động từ nhiều nguồn khác nhau: Nguồn vốn tự có (tiết kiệm cá nhân hoặc đóng góp của các thành viên sáng lập); nguồn vốn tái đầu tư (lợi nhuận từ các sản phẩm đã được thương mại hóa thành công); nguồn vốn từ các quỹ đầu tư; vốn vay từ ngân hàng. 

Bốn là, nguồn lực hạ tầng và công nghệ. Đây là nền tảng vật chất và công nghệ để sản xuất, phân phối và tiếp cận thị trường cho các sản phẩm công nghiệp sáng tạo, bao gồm: các cơ sở vật chất chuyên dụng (studio chụp ảnh và thiết kế; phòng thu âm, dựng phim, thí nghiệm, triển lãm; trường quay, nhà hát, bảo tàng, trung tâm nghệ thể, không gian làm việc chung); phần mềm, thiết bị và công cụ công nghệ (phần mềm thiết kế đồ họa, phần mềm dựng phim, phần mềm sản xuất âm nhạc, phần mềm lập trình game, công cụ thiết kế kiến trúc…; máy quay phim chất lượng cao, thiết bị ghi âm, thiết bị chiếu sáng, máy tính cấu hình mạnh, máy in 3D, thiết bị VR/AR; các công nghệ mới nổi như trí tuệ nhân tạo AI cho tạo sinh nội dung, phân tích dữ liệu; công nghệ blockchain cho quản lý tài sản kỹ thuật số và tài sản trí tuệ).

Năm là, nguồn lực thị trường và thương hiệu. Một sản phẩm sáng tạo xuất sắc nếu không được thị trường biết đến và không có kênh phân phối phù hợp thì coi như thương mại hoá không thành công. Muốn vậy, doanh nghiệp công nghiệp sáng tạo cần có: Thông tin nghiên cứu thị trường; kênh phân phối vật lý và nền tảng phân phối số; kênh quảng bá và tương tác cộng đồng; thương hiệu và danh tiếng của cá nhân, doanh nghiệp trên thị trường.

Sáu là, nguồn lực thể chế, pháp lý và chính sách. Đây là “nguồn lực mềm” nhưng có vai trò định hình và tạo điều kiện cho mọi hoạt động thương mại hóa. Một môi trường pháp luật rõ ràng, minh bạch về sở hữu trí tuệ, hợp đồng, kinh doanh, thuế… sẽ khuyến khích sáng tạo và đầu tư; một hệ thống chính sách hỗ trợ ưu đãi thuế, tiếp cận vốn… sẽ ươm mầm doanh nghiệp sáng tạo; một hệ thống tòa án, cơ quan quản lý và lực lượng chức năng có khả năng thực thi hiệu quả các quy định về sở hữu trí tuệ, chống vi phạm bản quyền và hàng giả là không thể thiếu để thương mại hoá các sản phẩm CNST.

3. Thực trạng các nguồn lực thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sáng tạo tại Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, nguồn lực sản phẩm/nội dung sáng tạo có thể thương mại hoá.

Việt Nam đang sở hữu kho tàng di sản đồ sộ, với 9 di sản thế giới, 16 di sản văn hoá phi vật thể, 11 di sản tư liệu, 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới, 4 công viên địa chất toàn cầu đã được UNESCO công nhận7; cùng hơn 41.000 di tích, gần 8.000 lễ hội và 1.988 làng nghề truyền thống8. Đây là nguồn “nguyên liệu” vô giá cho các ngành công nghiệp sáng tạo khai thác văn hoá dân gian để thương mại hoá thành công, như: thiết kế, du lịch văn hóa, thủ công mỹ nghệ… Tuy nhiên,việc khai thác thương mại các giá trị truyền thống, dân gian của Việt Nam còn đơn điệu, thiếu chiều sâu sáng tạo nên mới chỉ đạt được khoảng 20% giá trị kinh tế.

 Ngoài nguồn lực dân gian, các sản phẩm hiện đại được đánh giá là có khả năng thương mại hoá nhất hiện nay của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Việt Nam là một “cường quốc” trò chơi di động (mobile game) với khoảng 50% trò chơi di động được chơi nhiều nhất thế giới có nguồn gốc từ Việt Nam. Sản phẩm phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin cũng đạt tốc độ tăng trưởng cao với doanh thu năm 2024 khoảng 152 tỷ USD, tăng 7% so với năm 2023. Trong đó, riêng lĩnh vực phần mềm nội địa đạt 13 tỷ USD và xuất khẩu phần mềm ước đạt 7 tỷ USD9, cho thấy năng lực thương mại hoá ngày càng lớn của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

Các sản phẩm âm nhạc kỹ thuật số cũng đang được đầu tư bài bản, phát hành đa nền tảng, tạo ra nhiều tác phẩm độc đáo, phù hợp với xu hướng. Doanh thu âm nhạc phát trực tuyến tại Việt Nam năm 2025 đạt 27,54 triệu USD, chiếm hơn một nửa thị trường nhạc số. Quảng cáo trên nền tảng phát nhạc trực tuyến đứng ở vị trí thứ hai, với doanh thu 18,24 triệu USD. Nhạc tải về và quảng cáo podcast đóng góp lần lượt 1,0 và 4,34 triệu USD. Đáng chú ý, Việt Nam đã lọt vào Top 50 quốc gia có doanh thu bản quyền âm nhạc cao nhất toàn cầu10. Thị trường điện ảnh Việt Nam cũng đang tăng cả về số lượng và chất lượng thương mại với tổng doanh thu năm 2025 đạt gần 5.600 tỷ đồng và 70 triệu vé bán ra, cao hơn nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan (36,7 triệu vé), Malaysia (34,9 triệu vé)…; trong đó riêng phim Việt đạt 3.650 tỷ đồng, cao gần gấp đôi so với năm 2024 là 1.900 tỷ đồng, chiếm thị phần đáng kể so với phim ngoại là 62% (con số tương ứng năm 2024 là 42%)11. Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành top 10 thị trường điện ảnh hàng đầu thế giới.

Thứ hai, nguồn lực con người cho thương mại hoá sản phẩm công nghiệp sáng tạo.

Trong giai đoạn 2021 – 2025, số lượng các cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành công nghiệp sáng tạo tại Việt Nam tăng bình quân là 7,2% /năm; đạt khoảng 70.321 cơ sở. Tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp sáng tạo chiếm khoảng 4,42% với khoảng 2,3 triệu lao động vào năm 2022. Lực lượng lao động thuộc các ngành công nghiệp sáng tạo tăng khá nhanh, bình quân 5 năm lao động tăng 7,4%/năm12. Cơ cấu nguồn nhân lực cho thương mại hoá sản phẩm công nghiệp sáng tạo tại Việt Nam bao gồm đội ngũ nhân lực sáng tạo – những người trực tiếp tạo ra sản phẩm/nội dung và đội ngũ kinh doanh/quản trị – những người quyết định khả năng đưa sản phẩm ra thị trường.

Về đội ngũ nhân lực sáng tạo, tại Việt Nam hiện nay đang có số lượng nghệ sĩ đông đảo với hơn 5.500 ca sĩ, 2.600 hoạ sĩ, 2.400 nghệ sĩ nhiếp ảnh13… Trong đó, thế hệ nghệ sĩ trẻ, đặc biệt là trong âm nhạc đang thể hiện khả năng đa nhiệm, vừa sáng tác và biểu diễn, vừa có tư duy sản xuất. Trong lĩnh vực công nghệ và nội dung số, Việt Nam đang có khoảng 430.000 nhà phát triển trò chơi điện tử có khả năng làm chủ công nghệ mới để tạo ra các sản phẩm sáng tạo xuất khẩu toàn cầu12. Các lập trình viên Việt Nam cũng đang được xếp hạng 29 thế giới về kỹ năng. Tuy nhiên nguồn nhân lực sáng tạo vẫn còn thiếu về số lượng ở các lĩnh vực chuyên sâu và hạn chế về chất lượng ở lĩnh vực nghệ thuật hàn lâm. Các loại hình nghệ thuật truyền thống đang đối mặt với tình trạng “già hóa” nghệ nhân, thiếu đội ngũ kế cận có tư duy thiết kế hiện đại.

Về đội ngũ kinh doanh và quản trị ngành công nghiệp sáng tạo, hiện được đánh giá là có khả năng sáng tạo tốt, nhưng phần lớn còn hạn chế tư duy thị trường, kiến thức về luật sở hữu trí tuệ cũng như các kỹ năng về quản trị kinh doanh, marketing văn hóa, kỹ năng kêu gọi vốn và thương mại hoá sản phẩm sáng tạo. Đặc biệt, tại Việt Nam hiện nay đang thiếu vắng các nhà quản lý nghệ thuật, giám tuyển, đại điện thương mại – những người đóng vai trò trung gian chuyên nghiệp trong việc kết nối sản phẩm công nghiệp sáng tạo với công chúng và các nhà đầu tư. Do đó, việc bổ sung năng lực quản trị và kết nối cho đội ngũ nhân lực sáng tạo là chìa khóa để chuyển hóa tiềm năng của sản phẩm công nghiệp sáng tạo thành giá trị kinh tế thực tế. Trong khi đó, hệ thống đào tạo hiện nay lại nặng về lý thuyết chuyên môn, thiếu các chương trình đào tạo liên ngành kết hợp giữa nghệ thuật và kinh doanh.

Thứ ba, nguồn lực tài chính cho thương mại hoá sản phẩm công nghiệp sáng tạo.

Nguồn lực tài chính cho thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sáng tạo tại Việt Nam đang thiếu và yếu. Doanh nghiệp chủ yếu phải “tự bơi” bằng nguồn vốn tự có hoặc lợi nhuận giữ lại. Phần lớn các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ (chẳng hạn trong lĩnh vực phần mềm, doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tới 91,1%). Do đó, nguồn vốn ban đầu chủ yếu xuất phát từ đầu tư cá nhân của nghệ sĩ, nhà sáng lập hoặc sự đóng góp của gia đình, bạn bè… Nguồn vốn này thường hạn chế về quy mô, chỉ đủ để chi trả cho các hoạt động sáng tạo ban đầu hoặc vận hành ở mức tối thiểu. Tuy nhiên, một số lĩnh vực mũi nhọn như điện ảnh, game và sự kiện giải trí đang chứng kiến khả năng tái đầu tư mạnh mẽ. Nhiều phim Việt đạt doanh thu hàng trăm tỷ đồng và các chương trình hòa nhạc (concert) quy mô lớn mang lại lợi nhuận cao, tạo nguồn vốn để các nhà sản xuất tiếp tục đầu tư vào các dự án quy mô lớn hơn, nâng cao chất lượng kỹ thuật và quảng bá mở rộng thị trường.

Đối với nguồn vốn bên ngoài, ngân sách Nhà nước dành cho hoạt động khuyến khích phát triển ngành công nghiệp sáng tạo, từ đầu tư công và chi thường xuyên bước đầu đã được quan tâm. Tuy nhiên, vốn đầu tư công hiện vẫn còn dàn trải, chưa tập trung vào các sản phẩm công nghiệp sáng tạo trọng điểm có khả năng sinh lời cao. Trong khi đó, kênh vốn vay ngân hàng gần như bị tắc nghẽn do rào cản về định giá tài sản vô hình đối với các sản phẩm công nghiệp sáng tạo. Tại Việt Nam hiện đã có khoảng 40 quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động, nhưng chủ yếu tập trung vào các công ty khởi nghiệp công nghệ và  nền tảng số, các lĩnh vực công nghiệp sáng tạo khác ít thu hút được sự chú ý của các quỹ đầu tư này. Tuy nhiên, một điều đáng mừng là các tổ chức quốc tế, như Hội đồng Anh, UNESCO, Liên minh châu Âu14 đã và đang cung cấp các khoản tài trợ quan trọng cho các dự án văn hóa sáng tạo, không gian sáng tạo tại Việt Nam. Ngoài ra, một xu hướng mới đang nổi lên như một nguồn lực tài chính tiềm năng, đó là hình thức “gây quỹ từ người hâm mộ” (Fan funding), đặc biệt trong lĩnh vực âm nhạc và sáng tạo nội dung số, giúp nghệ sĩ giảm phụ thuộc vào các nguồn lực tài chính truyền thống.

Thứ tư, nguồn lực hạ tầng và công nghệ cho thương mại hoá sản phẩm công nghiệp sáng tạo.

Tại Việt Nam, nguồn lực hạ tầng cho công nghiệp sáng tạo đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ các thiết chế văn hóa truyền thống sang các không gian sáng tạo hiện đại và sự bùng nổ của hạ tầng số. Tuy nhiên, vẫn tồn tại sự bất cân xứng giữa hạ tầng “cứng” (vật lý) và hạ tầng “mềm” (công nghệ số và cơ chế vận hành), ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thương mại hóa các sản phẩm công nghiệp sáng tạo. Về cơ sở hạ tầng, hiện cả nước có 130 thiết chế văn hoá công lập (nhà hát, đoàn nghệ thuật và hệ thống bảo tàng) nhưng phần lớn đã xuống cấp, chậm đổi mới, chưa ứng dụng hiệu quả công nghệ để gia tăng trải nghiệm khách hàng.

Vài năm trở lại đây, Việt Nam có sự gia tăng nhanh chóng các không gian sáng tạo – nơi ươm mầm cho các ý tưởng thương mại hoá sản phẩm công nghiệp sáng tạo, với khoảng gần 300 không gian tính đến năm 2025 (so với khoảng 40 không gian vào năm 2014)15. Tuy nhiên, hầu hết các không gian sáng tạo này thuộc sở hữu tư nhân, hoạt động bấp bênh do vướng mắc về thủ tục đất đai, thuê đất ngắn hạn và thiếu cơ chế hỗ trợ đặc thù.

 Về công nghệ sản xuất, phân phối và trình diễn sản phẩm công nghiệp sáng tạo tại Việt Nam cũng đang có tốc độ phát triển rất nhanh. Các doanh nghiệp công nghiệp sáng tạo Việt Nam đã làm chủ nhiều công cụ lập trình game, thiết kế đồ họa và sản xuất nội dung số. Các công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) và 3D Mapping đang được doanh nghiệp ứng dụng mạnh mẽ để “làm mới” các di sản vật lý, tạo ra sản phẩm thương mại mới, chẳng hạn như: Tour du lịch “Tinh hoa đạo học” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám dùng 3D Mapping; Bảo tàng Đồng Tháp dùng VR/AR cho trải nghiệm di tích… Các phần mềm quản lý, ứng dụng di động và các nền tảng thương mại điện tử cũng đang được các doanh nghiệp sử dụng rộng rãi để phân phối sản phẩm công nghiệp sáng tạo. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn thiếu các thiết bị phần cứng chuyên sâu và phần mềm chuyên dụng cho sản xuất điện ảnh, âm nhạc chất lượng cao (máy quay, phòng thu chuẩn quốc tế) nên phải nhập khẩu với chi phí cao, hoặc đầu tư nhỏ lẻ.  Việc ứng dụng AI vào sáng tạo nội dung vẫn ở giai đoạn đầu, chủ yếu là các mô hình thí điểm, nên chưa tạo thành chuỗi giá trị sản xuất đại trà trong các ngành công nghiệp sáng tạo. Hệ thống dữ liệu số về văn hóa còn phân tán, chưa liên thông, gây khó khăn cho việc nghiên cứu thị trường, xúc tiến đầu tư dựa trên nền tảng dữ liệu lớn.

Quyết định số 611/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đặt ra mục tiêu đến năm 2030, 100% lĩnh vực văn hóa sẽ có nền tảng số dùng chung; 100% di sản văn hóa được số hóa, chuẩn hóa dữ liệu; 80% di sản có mã định danh số. Cùng với đó, các cơ quan quản lý và đơn vị sự nghiệp trong ngành văn hóa sẽ hoàn thiện kết nối, chia sẻ dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Thứ năm, nguồn lực thị trường và thương hiệu cho thương mại hoá sản phẩm công nghiệp sáng tạo.

Nguồn lực thị trường cho sản phẩm công nghiệp sáng tạo của Việt Nam đang có tiềm năng rất lớn nhờ quy mô dân số hơn 100 triệu người và sự thích ứng nhanh với công nghệ. Tuy nhiên, để thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sáng tạo thành công, Việt Nam cần giải quyết bài toán về sở hữu dữ liệu thị trường và xây dựng các kênh phân phối nội địa đủ mạnh để không bị phụ thuộc hoàn toàn vào các nền tảng nước ngoài, chẳng hạn trong lĩnh vực truyền hình trả tiền, các nền tảng ngoại chiếm tới 80% thị phần. Tương tự đó, các kênh Spotify, Apple Music, YouTube là các kênh phân phối chủ đạo cho các sản phẩm âm nhạc.

Việt Nam đang nỗ lực xây dựng các thương hiệu “Thành phố sáng tạo” của UNESCO (Hà Nội, Hội An, Đà Lạt). Trong lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là trò chơi giải trí đã xuất hiện những “Kỳ lân” có thương hiệu toàn cầu như Sky Mavis hay VNG. Nhiều nghệ sĩ trẻ đã biết cách xây dựng thương hiệu cá nhân trên không gian số. Tuy nhiên, hình ảnh thương hiệu quốc gia tổng thể vẫn chưa rõ nét và công tác truyền thông ra quốc tế còn hạn chế. Tình trạng vi phạm bản quyền tràn lan đang làm xói mòn uy tín và giá trị thương hiệu của các sản phẩm công nghiệp sáng tạo Việt Nam, khiến việc định giá và thương mại hóa gặp khó khăn.

Thứ sáu, nguồn lực thể chế, pháp lý và chính sách cho thương mại hoá sản phẩm công nghiệp sáng tạo.

Tại Việt Nam hiện nay, khung thể chế, pháp lý và chính sách liên quan đến các ngành công nghiệp sáng tạo đều dưới tên gọi các ngành công nghiệp văn hoá. Nghị quyết số 162/2024/QH15 của Quốc hội phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 – 2035 và Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã xác lập quan điểm chính trị cho thương mại hóa các sản phẩm công nghiệp văn hóa. Hiện tại, Việt Nam chưa có một luật riêng cho công nghiệp văn hóa hay công nghiệp sáng tạo. Do đó, tuỳ theo từng lĩnh vực, hoạt động thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sáng tạo chịu sự điều chỉnh của nhiều luật chuyên ngành như: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022); Luật Quảng cáo năm 2012, Luật Xuất bản năm 2012, Luật Du lịch năm 2017, Luật Kiến trúc năm 2019, Luật Di sản văn hóa năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật.

Tuy nhiên, khung pháp lý hiện nay chưa bắt kịp tốc độ phát triển của các mô hình kinh doanh sáng tạo mới. Hệ thống quản lý các ngành công nghiệp sáng tạo bị phân tách giữa nhiều bộ, ngành (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Xây dựng), thiếu một “nhạc trưởng” điều phối chung. Các chính sách ưu đãi đã bước đầu hình thành nhưng khó đi vào thực tế do thủ tục phức tạp và thiếu hướng dẫn cụ thể, chẳng hạn như việc định giá tài sản trí tuệ còn khó khăn, chưa có cơ chế hướng dẫn cụ thể để biến tài sản trí tuệ thành tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng, gây khó khăn cho doanh nghiệp công nghiệp sáng tạo khi muốn mở rộng quy mô thương mại. “Không gian sáng tạo” chưa được công nhận là một loại hình nghề nghiệp hay mô hình kinh doanh đặc thù trong hệ thống luật, phải đăng ký dưới dạng doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực khác nên không được hưởng các ưu đãi thuế dành cho văn hóa, phải chịu mức thuế thương mại thông thường.

4. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện thể chế, pháp lý chính sách nhằm kiến tạo hạ tầng “mềm”.

Để thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sáng tạo, cần chuyển dịch tư duy mạnh mẽ từ “quản lý, kiểm soát” sang “hỗ trợ, thúc đẩy”. Nhà nước cần sớm ban hành các nghị định hướng dẫn cụ thể về hợp tác công – tư (PPP) trong lĩnh vực công nghiệp sáng tạo, cho phép tư nhân tham gia sâu hơn vào vận hành các thiết chế văn hóa công (bảo tàng, nhà hát, không gian di sản…). Bổ sung các khu công nghiệp văn hóa, trung tâm, tổ hợp, khu phức hợp không gian sáng tạo vào danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư, nhằm giúp các không gian sáng tạo được hưởng các ưu đãi phù hợp. Thực hiện các chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu trang thiết bị chuyên dụng và ưu đãi tiền thuê đất cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp sáng tạo. Nghiên cứu xây dựng cơ chế thử nghiệm cho các mô hình kinh doanh mới, đặc biệt là các sản phẩm văn hóa số, khu vực kinh tế đêm và tổ hợp sáng tạo.

Hai là, khơi thông dòng vốn cho các ngành công nghiệp sáng tạo.

Các công cụ tài chính cần được thiết kế cho phù hợp với đặc thù tài sản vô hình của ngành công nghiệp sáng tạo. Xây dựng cơ chế và tiêu chuẩn định giá tài sản trí tuệ, giúp các doanh nghiệp sáng tạo có thể sử dụng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng. Nhà nước cần nghiên cứu, đề xuất hình thành và liên kết các quỹ hỗ trợ phát triển công nghiệp sáng tạo với sự tham gia của cả khu vực công và tư; đồng thời tạo điều kiện kết nối với các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ ươm tạo công nghệ cho khởi nghiệp sáng tạo. Xây dựng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và miễn thuế nhập khẩu trang thiết bị chuyên dụng phục vụ cho các dự án đầu tư vào công nghiệp sáng tạo.

Ba là, về hạ tầng và công nghệ nhằm tạo nền tảng sản xuất sản phẩm công nghiệp sáng tạo.

Đẩy mạnh số hóa di sản văn hóa (3D, VR/AR) để tạo nguồn dữ liệu mở cho cộng đồng sáng tạo khai thác thương mại. Nâng cao tỷ lệ số hóa di sản văn hóa, tư liệu nghệ thuật để hình thành cơ sở dữ liệu mở, giúp các nhà sáng tạo, thiết kế dễ dàng khai thác “nguyên liệu” truyền thống để thiết kế sản phẩm mới. Quy hoạch và hỗ trợ phát triển các không gian sáng tạo, trung tâm thiết kế tại các đô thị lớn; khuyến khích chuyển đổi các nhà máy, khu công nghiệp cũ thành các tổ hợp văn hóa nghệ thuật.

Bốn là, phát triển nguồn nhân lực công nghiệp sáng tạo nhằm đào tạo thế hệ “công dân sáng tạo”.

Các cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp cần xây dựng hệ thống mã ngành đào tạo mới, tích hợp tư duy nghệ thuật với kỹ năng kinh doanh, công nghệ; liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu thị trường. Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nhân lực quản lý dự án sáng tạo, giám tuyển, nhà sản xuất để tạo ra đội ngũ kết nối nghệ sĩ với thị trường. Xây dựng chế độ đãi ngộ đặc thù, môi trường làm việc cởi mở để thu hút các chuyên gia giỏi, những người có kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển về Việt Nam làm việc và chuyển giao tri thức.

Năm là, xúc tiến thương mại và thị trường nhằm lan toả giá trị các sản phẩm công nghiệp sáng tạo.

Tập trung xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm công nghiệp sáng tạo chủ lực (điện ảnh, thủ công mỹ nghệ) gắn với thương hiệu quốc gia Việt Nam. Tăng cường đưa các doanh nghiệp công nghiệp sáng tạo tham gia các diễn đàn, hội chợ, liên hoan quốc tế để mở rộng thị trường xuất khẩu. Hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước xây dựng các nền tảng phân phối số đủ sức cạnh tranh, tạo kênh tiêu thụ trực tiếp cho các sản phẩm công nghiệp sáng tạo Việt Nam. Nghiên cứu, xây dựng sàn giao dịch trực tuyến chuyên biệt cho sản phẩm công nghiệp sáng tạo và tài sản ảo, kết nối trực tiếp nhà sáng tạo với người mua trong và ngoài nước, minh bạch hóa việc định giá và mua bán tài sản trí tuệ.

5. Kết luận

Như vậy, trên cơ sở đánh giá toàn diện sáu nguồn lực thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sáng tạo tại Việt Nam, bao gồm: sản phẩm, con người, tài chính, hạ tầng – công nghệ, thị trường và thể chế, nghiên cứu đã chỉ ra những “điểm nghẽn” cốt lõi, như: nhân lực sáng tạo đang thiếu hụt kỹ năng quản trị, kinh doanh và tư duy thị trường; nguồn vốn chủ yếu dựa vào tự có, khó tiếp cận vốn vay ngân hàng do chưa có cơ chế định giá tài sản trí tuệ rõ ràng; khung pháp lý chưa đồng bộ, chưa theo kịp các mô hình kinh doanh mới và tình trạng vi phạm bản quyền còn phổ biến. Việc hoàn thiện thể chế chuyển từ “quản lý” sang “hỗ trợ” với các chính sách ưu đãi đặc thù cho ngành công nghiệp sáng tạo; xây dựng tiêu chuẩn định giá tài sản vô hình và quỹ hỗ trợ để khơi thông dòng vốn; đẩy mạnh số hóa di sản, quy hoạch không gian sáng tạo; đào tạo thế hệ “công dân sáng tạo” kết hợp hài hòa nghệ thuật với kinh doanh; đồng thời tăng cường xúc tiến thương mại và phát triển các nền tảng phân phối số, sàn giao dịch nội địa đủ sức cạnh tranh là rất cấp thiết hiện nay.

Chú thích:
1. Nghiên cứu này được tài trợ bởi Bộ Khoa học và Công nghệ, mã số KX03.09/21-30.
2. UNESCO (2013). Creative Economy Report: Widening Local Development Pathways.
3. DCMS (2015). Creative Industries: Focus on Employment. London: Department for Culture, Media and Sport.
4. Wernerfelt (1984). A Resource-based View of the Firm. Strategic Management Journal, 5, No.2, April-June, 171-180
5. Barney J.B (1991). Firm Resources and Sustained Competitive Advantage. Journal of Management. Vol. 17, No.1, 99-120.
6. UNECE – United Nations Economic Commission for Europe (2011). Intellectual Property Commercialization – Policy Options and Practical Instruments, Geneva, Switzerland.
7. Vũ Trọng Lâm (2026). Dấu ấn Việt Nam trên bản đồ di sản Thế giới, NXB Chính trị quốc gia Sự thật
8. Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA)
9. Nguyễn Văn Thanh Long và cộng sự (2026). Tổng quan ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam 2025 – 2026. Đại học RMIT Việt Nam.
10. CGV Việt Nam (2026). Bức tranh toàn cảnh thị trường điện ảnh Việt Nam. Hội nghị Đối tác Chiến lược ngành điện ảnh. 
11. Tổng cục Thống kê (2023). Số liệu thống kê về kinh tế – xã hội và các ngành công nghiệp văn hóa giai đoạn 2018 – 2022.
12, 13, 15. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2020). Báo cáo tổng hợp Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
14. Hội đồng Anh (2021). Báo cáo nghiên cứu về các không gian sáng tạo tại Việt Nam.