Hội nhập văn hóa và bảo tồn bản sắc dân tộc trước yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước ở Việt Nam

Cultural integration and the preservation of national identity amid the requirements of public administration reform in Vietnam

ThS. Đào Thu Hà
Trường Đại học Thương mại

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, hội nhập văn hóa tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần xã hội Việt Nam, vừa tạo cơ hội tiếp thu tinh hoa nhân loại, phát triển công nghiệp văn hóa và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, vừa đặt ra thách thức đối với việc bảo tồn bản sắc dân tộc. Trên nền tảng triết học Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, bài viết làm rõ cơ sở lý luận của hội nhập văn hóa, nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa hội nhập và bảo tồn. Thông qua phân tích thực tiễn thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và các vấn đề trong quản lý văn hóa, từ đó, đề xuất yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước nhằm bảo đảm hội nhập hiệu quả và phát triển văn hóa bền vững.

Từ khóa: Bản sắc văn hóa dân tộc; hội nhập văn hóa; quản lý nhà nước; toàn cầu hóa.

Abstract: Amid globalization and digital transformation, cultural integration profoundly shapes Vietnam’s socio-cultural landscape, offering opportunities for cultural development and enhanced national soft power while posing challenges to the preservation of national identity. Grounded in Marxism – Leninism, Ho Chi Minh Thought, and the Party’s perspectives, this study clarifies the theoretical basis of cultural integration and its dialectical relationship with identity preservation. It also identifies key issues in cultural governance and proposes directions for reforming state management to ensure effective integration and sustainable cultural development.

Keywords: National cultural identity; cultural integration; state management; globalization.

1. Đặt vấn đề

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu thế khách quan của thế giới đương đại, trong đó hội nhập văn hóa diễn ra ngày càng sâu rộng, tạo nên sự giao thoa giữa các hệ giá trị, chuẩn mực và lối sống giữa các quốc gia, dân tộc. Quá trình này mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, thúc đẩy giao lưu và phát triển văn hóa, nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh đó, văn hóa không chỉ phản ánh trình độ phát triển xã hội mà còn trở thành nguồn lực nội sinh, nền tảng tinh thần quan trọng, góp phần củng cố sức mạnh quốc gia và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “phát triển văn hoá, quản lý phát triển xã hội và xây dựng con người” như một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình phát triển đất nước1. Đồng thời, Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn phát triển văn hóa với quản lý phát triển xã hội và xây dựng con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng². Điều đó đòi hỏi hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa phải tiếp tục được đổi mới theo hướng hiện đại, hiệu quả, vừa tạo điều kiện cho hội nhập và tiếp biến văn hóa, vừa bảo đảm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn phát triển mới.

2. Khái quát về hội nhập văn hóa và bảo tồn bản sắc dân tộc ở Việt Nam

2.1. Văn hóa, bản sắc dân tộc và hội nhập văn hóa

Trong lịch sử tư tưởng, khái niệm văn hóa được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Truyền thống phương Tây thường coi văn hóa như quá trình trau dồi và hoàn thiện con người về trí tuệ và đạo đức, gắn với lý tưởng khai sáng và phát triển năng lực lý tính. Ngược lại, tư tưởng phương Đông nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong giáo hóa con người, duy trì trật tự xã hội thông qua lễ nghi và chuẩn mực đạo đức. Những cách tiếp cận này cho thấy văn hóa luôn gắn liền với điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể của từng cộng đồng.

Từ lập trường triết học Mác – Lênin, văn hóa được hiểu trong mối quan hệ biện chứng với thực tiễn lịch sử – xã hội, “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội – lịch sử, tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội”3. Quan niệm này khẳng định vai trò quyết định của hoạt động thực tiễn đối với sự hình thành và phát triển văn hóa, đồng thời nhấn mạnh tính lịch sử – cụ thể của các giá trị văn hóa. Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển cách tiếp cận này khi cho rằng, văn hóa là “Sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”4.

Trong chỉnh thể văn hóa nhân loại, bản sắc dân tộc là phương diện biểu hiện tính đặc thù của mỗi cộng đồng. “Bản” là cái gốc, cái cốt lõi, còn “sắc” là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của cái gốc đó. Bản sắc văn hóa mang tính tương đối ổn định, được hình thành trong tiến trình lịch sử lâu dài và chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường tự nhiên. Đối với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc được kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử trong các giá trị như lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, nhân nghĩa, cần cù, sáng tạo và khả năng thích ứng linh hoạt.

Hội nhập văn hóa là quá trình giao lưu, tiếp xúc, tương tác và tiếp biến giữa các nền văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đây không phải là sự hòa tan hay đồng nhất văn hóa, mà là quá trình tiếp nhận có chọn lọc các giá trị bên ngoài, được nội sinh hóa và tái cấu trúc trên nền tảng văn hóa bản địa. Hội nhập văn hóa vừa tạo cơ hội làm phong phú đời sống văn hóa dân tộc, vừa đặt ra yêu cầu bảo tồn và phát huy bản sắc như điều kiện để hội nhập một cách chủ động và bền vững.

Từ góc nhìn biện chứng, giữa văn hóa, bản sắc dân tộc và hội nhập văn hóa tồn tại mối quan hệ thống nhất trong đa dạng. Bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát triển thông qua hội nhập, trong khi hội nhập văn hóa chỉ có ý nghĩa thực chất khi được đặt trên nền tảng bản sắc dân tộc. Nhận thức đúng đắn mối quan hệ này là cơ sở lý luận quan trọng cho việc phân tích thực tiễn hội nhập văn hóa ở Việt Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa.

2.2. Quy luật tiếp biến văn hóa và mối quan hệ giữa hội nhập và bảo tồn bản sắc dân tộc

Trước hết, với tính độc lập tương đối của mình, văn hóa có khả năng tác động trở lại sự phát triển kinh tế – xã hội, hình thành hệ giá trị, chuẩn mực và động lực tinh thần cho con người. Nhận thức này được thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng khi khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển bền vững.

Thứ hai, phát triển văn hóa là quá trình tiếp nối có chọn lọc các giá trị truyền thống, đồng thời cải biến, đổi mới để phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Kế thừa không đồng nghĩa với bảo tồn nguyên trạng, mà gắn liền với sáng tạo; phủ định không phải là xóa bỏ truyền thống mà là loại trừ những yếu tố lạc hậu, giữ lại và nâng cao các giá trị bền vững.

Thứ ba, giao lưu và hội nhập là quy luật phổ biến của sự phát triển văn hóa. Hội nhập văn hóa tạo điều kiện để các dân tộc tiếp thu tinh hoa nhân loại, đồng thời khẳng định và làm giàu bản sắc của mình thông qua đối thoại và chọn lọc. Từ góc độ duy vật lịch sử, hội nhập không dẫn tới sự “hòa tan” bản sắc, mà là một hình thức vận động tất yếu của văn hóa gắn với sự phát triển của lực lượng sản xuất và mở rộng quan hệ xã hội.

Nhận thức đúng đắn quy luật tiếp biến văn hóa và mối quan hệ biện chứng giữa hội nhập và bảo tồn bản sắc có ý nghĩa quan trọng đối với chiến lược phát triển văn hóa ở Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại là yêu cầu tất yếu, nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát triển bền vững.

3. Thực trạng hội nhập văn hóa gắn với bảo tồn bản sắc dân tộc ở Việt Nam

Một là, trong lĩnh vực kiến trúc và môi trường sống.

Trước thời kỳ hội nhập sâu rộng, việc bảo tồn kiến trúc truyền thống ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào một số di tích tiêu biểu, mang tính gìn giữ tĩnh, tách rời đời sống đương đại. Trong bối cảnh hội nhập, cùng với quá trình đô thị hóa nhanh, tư duy quản lý kiến trúc đã có sự chuyển biến theo hướng coi không gian văn hóa truyền thống là một bộ phận hữu cơ của phát triển bền vững.

Thực tiễn cho thấy, nhiều khu vực di sản đã được bảo tồn theo mô hình gắn với phát triển kinh tế – xã hội. Quần thể di tích Cố đô Huế không chỉ được trùng tu các công trình, như: Ngọ Môn, điện Thái Hòa, lăng tẩm triều Nguyễn, mà còn được bảo tồn tổng thể cảnh quan văn hóa gắn với sông Hương, núi Ngự, không gian lễ hội và đời sống cộng đồng. Phố cổ Hội An được quản lý nghiêm ngặt về chiều cao, màu sắc, vật liệu xây dựng, đồng thời duy trì các sinh hoạt văn hóa truyền thống như lễ hội đèn lồng, hát bài chòi, nghề thủ công, tạo nên một không gian sống vừa mang tính di sản vừa đáp ứng nhu cầu du lịch quốc tế.

Hai là, trong lĩnh vực thời trang và trang phục.

Trong giai đoạn trước hội nhập, trang phục truyền thống như áo dài chủ yếu gắn với lễ nghi, sự kiện đặc biệt hoặc không gian văn hóa truyền thống. Hội nhập văn hóa và sự phát triển của công nghiệp sáng tạo đã tạo điều kiện để trang phục truyền thống được đưa trở lại đời sống đương đại với những hình thức mới. Áo dài Việt Nam ngày càng xuất hiện thường xuyên trong các sự kiện ngoại giao, các cuộc thi sắc đẹp quốc tế, lễ hội văn hóa và các bộ sưu tập thời trang mang tầm khu vực và quốc tế. Nhiều nhà thiết kế đã khai thác chất liệu lụa tơ tằm, họa tiết dân gian như trống đồng, hoa sen, tranh Đông Hồ, kết hợp với kỹ thuật cắt may hiện đại, tạo nên những mẫu áo dài giữ được hồn cốt truyền thống, phù hợp với thị hiếu toàn cầu.

Đối với trang phục các dân tộc thiểu số, nhiều giá trị văn hóa được phục dựng và quảng bá thông qua du lịch cộng đồng và các lễ hội văn hóa vùng miền. Trang phục thổ cẩm của người Mông, Dao, Thái không chỉ được sử dụng trong sinh hoạt cộng đồng mà còn được đưa vào các sản phẩm thời trang ứng dụng, quà lưu niệm, qua đó góp phần bảo tồn nghề dệt truyền thống và nâng cao sinh kế cho đồng bào.

Ba là, trong lĩnh vực ẩm thực.

Ẩm thực Việt Nam là một trong những lĩnh vực thể hiện rõ nét quy luật tiếp biến văn hóa trong hội nhập. Từ chỗ chủ yếu tồn tại trong không gian gia đình và cộng đồng, ẩm thực Việt Nam ngày càng được nhìn nhận như một thành tố quan trọng của bản sắc văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia. Nhiều món ăn truyền thống, như: phở, bún chả, nem rán, bánh mì, bánh chưng, bún bò Huế, cao lầu Hội An đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành những biểu tượng văn hóa được bạn bè quốc tế biết đến. Phở Việt Nam xuất hiện phổ biến tại nhiều quốc gia, song vẫn giữ được những đặc trưng cốt lõi về nước dùng, gia vị và cách thưởng thức. Bánh mì Việt Nam, với sự kết hợp giữa kỹ thuật bánh mì phương Tây và nhân bánh mang đậm hương vị Việt, là minh chứng sinh động cho quá trình tiếp biến và bản địa hóa văn hóa.

Bên cạnh đó, các làng nghề ẩm thực truyền thống như làng bánh chưng Tranh Khúc, làng cốm Mễ Trì, làng bún Phú Đô được phục hồi và gắn với du lịch trải nghiệm, góp phần bảo tồn tri thức dân gian và phong tục tập quán gắn với ẩm thực.

Bốn là, trong lĩnh vực giáo dục – khoa học – công nghệ.

Trước bối cảnh hội nhập, giáo dục và khoa học – công nghệ ở Việt Nam từng bước được đổi mới theo hướng tiếp cận chuẩn mực quốc tế, đồng thời, chú trọng giáo dục lịch sử, văn hóa và đạo đức dân tộc. Các môn học về lịch sử Việt Nam, văn hóa dân gian, di sản văn hóa được đưa vào chương trình phổ thông và đại học với những phương pháp giảng dạy mới, kết hợp công nghệ số và học liệu mở.

Việc số hóa di sản như mộc bản triều Nguyễn, châu bản triều Nguyễn, các bảo tàng số về lịch sử và văn hóa dân tộc cho phép thế hệ trẻ tiếp cận di sản bằng phương thức phù hợp với thời đại số. Qua đó, giáo dục không chỉ truyền đạt tri thức, mà còn góp phần hình thành bản lĩnh văn hóa và ý thức gìn giữ bản sắc trong hội nhập.

Năm là, trong lĩnh vực văn học – nghệ thuật và truyền thông văn hóa.

Hiện nay, nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống như ca trù, quan họ, hát xoan, đờn ca tài tử được phục hồi, sân khấu hóa và giới thiệu rộng rãi trong nước và quốc tế. Đồng thời, điện ảnh, mỹ thuật, văn học đương đại khai thác các đề tài lịch sử, chiến tranh, làng quê, gia đình Việt Nam bằng những hình thức biểu đạt mới, phù hợp với thị hiếu toàn cầu. Các chương trình giao lưu văn hóa, tuần lễ văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và sự phát triển của nền tảng số đã tạo điều kiện để bản sắc văn hóa Việt Nam được lan tỏa rộng rãi hơn trong không gian văn hóa toàn cầu.

So sánh thực tiễn trước và sau hội nhập cho thấy một sự chuyển biến căn bản trong tư duy quản lý văn hóa ở Việt Nam: từ bảo tồn mang tính khép kín, thiên về lưu giữ các giá trị quá khứ, sang bảo tồn gắn với phát triển, sáng tạo và hội nhập. Nếu như trước đây bản sắc văn hóa chủ yếu được gìn giữ trong không gian truyền thống tương đối ổn định, thì trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, bản sắc được tái cấu trúc và tái tạo trong không gian mở, đa chiều của giao lưu và tiếp biến văn hóa. Hội nhập không tất yếu dẫn đến sự mai một bản sắc mà đặt bản sắc vào trạng thái vận động liên tục, buộc nó phải tự điều chỉnh và đổi mới để thích ứng và phát triển.

Từ góc độ duy vật lịch sử, có thể khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc định hướng quá trình hội nhập văn hóa ở Việt Nam theo con đường vừa tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa giữ vững các giá trị cốt lõi của bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, chính trong quá trình vận động đó cũng nảy sinh những mâu thuẫn và vấn đề mới, khi tốc độ và chiều sâu của hội nhập ngày càng gia tăng, đặt ra không ít thách thức đối với công tác quản lý nhà nước về văn hóa và yêu cầu bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay.

Sáu là, thách thức trong hội nhập văn hóa nhìn từ yêu cầu bảo tồn bản sắc dân tộc.

Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần nhấn mạnh: “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế và xã hội”5. Đồng thời, Đại hội XIV của Đảng khẳng định yêu cầu: “Toàn cầu hoá, khu vực hóa phát triển mạnh mẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới, hợp lý hoá phân công lao động trên phạm vi toàn cầu và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá ở nhiều nước chậm phát triển và đang phát triển”6. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn vẫn còn, thể hiện rõ ở các lĩnh vực cụ thể sau đây:

(1) Kiến trúc đô thị và nguy cơ đồng dạng hóa không gian sống. Quá trình đô thị hóa và hội nhập quốc tế diễn ra nhanh chóng đã tạo ra nhiều diện mạo mới cho không gian đô thị Việt Nam, song đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ phá vỡ bản sắc kiến trúc truyền thống. Các công trình văn hóa truyền thống và di sản kiến trúc chưa được đặt đúng vị trí trong chiến lược phát triển đô thị và du lịch, phản ánh sự thiếu gắn kết giữa hội nhập và bảo tồn trong tư duy quản lý.

(2) Thời trang và sự lệch chuẩn trong thẩm mỹ công chúng. Sự lan tỏa mạnh mẽ của thời trang nhanh, văn hóa tiêu dùng và tâm lý “sính ngoại” đã khiến các giá trị thẩm mỹ truyền thống bị xem nhẹ, thậm chí bị hiểu sai hoặc giản lược.Hệ giá trị thẩm mỹ Việt Nam chưa được định hình rõ ràng trong chính sách văn hóa, thiếu sự phối hợp giữa giáo dục thẩm mỹ, công nghiệp thời trang và quản lý văn hóa.

(3) Ẩm thực và nguy cơ thương mại hóa bản sắc. Thương mại hóa không phải là hiện tượng hoàn toàn tiêu cực nếu được định hướng phù hợp. Vấn đề cốt lõi là bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển du lịch và bảo tồn bản sắc ẩm thực, chuyển từ cách tiếp cận ẩm thực như một sản phẩm tiêu dùng sang coi ẩm thực là một giá trị văn hóa.

(4) Giáo dục – khoa học – công nghệ trước yêu cầu đổi mới quản trị và giữ gìn bản sắc. Mặc dù đã có nhiều cải cách, giáo dục Việt Nam vẫn còn những bất cập về chất lượng đội ngũ, năng lực ngoại ngữ, năng lực số và sự chênh lệch giữa các vùng miền.Hội nhập văn hóa làm xuất hiện những xung đột giá trị giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc dân tộc và lối sống toàn cầu hóa. Chủ nghĩa tiêu dùng, lối sống thực dụng, cùng ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường mạng như bạo lực, giật gân, lệch chuẩn thẩm mỹ, đã tác động không nhỏ đến nền tảng đạo đức xã hội và gia đình Việt Nam.

(5) Văn học – nghệ thuật và thách thức giữ gìn bản sắc trên nền tảng số. Trong lĩnh vực văn học – nghệ thuật, hội nhập tạo điều kiện đổi mới hình thức sáng tạo và mở rộng giao lưu quốc tế, song chưa tạo ra nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng – nghệ thuật cao, phản ánh sâu sắc bản sắc và chiều sâu văn hóa Việt Nam. Hoạt động dịch thuật còn mất cân đối: văn học nước ngoài được dịch vào Việt Nam nhiều, trong khi tác phẩm văn học Việt Nam ra thế giới còn hạn chế.

4. Yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước về văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII: “Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế”7. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm đề cao vị trí, vai trò của văn hóa, coi văn hóa là nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển bền vững của đất nước8. Trên tinh thần đó, đổi mới quản lý văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa phải giải quyết hài hòa yêu cầu kép: chủ động mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa, đồng thời giữ vững bản sắc dân tộc, củng cố hệ giá trị Việt Nam và bảo đảm an ninh văn hóa.

Thứ nhất, đổi mới quản lý nhà nước về văn hóa đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế và chính sách văn hóa theo hướng đồng bộ, thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế. Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh của phát triển bền vững. Trong bối cảnh mới, việc rà soát, sửa đổi và bổ sung các văn bản pháp luật liên quan đến di sản văn hóa, điện ảnh, báo chí, xuất bản, quảng cáo, lễ hội, tín ngưỡng và các sản phẩm văn hóa trên môi trường số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một hành lang pháp lý minh bạch, thống nhất không chỉ nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, mà còn tạo điều kiện cho các chủ thể văn hóa tham gia bình đẳng, chủ động và sáng tạo trong tiến trình hội nhập.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế là yêu cầu nâng cao năng lực sàng lọc, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện giao thoa văn hóa ngày càng mạnh mẽ. Hội nhập văn hóa không đồng nhất với sự hòa tan hay tiếp nhận thụ động các giá trị ngoại lai. Đại hội XIII khẳng định: “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước… Có cơ chế giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo, động viên Nhân dân tham gia phát triển kinh tế và quản lý phát triển xã hội”9. Điều này đòi hỏi quản lý nhà nước về văn hóa phải chuyển từ mô hình kiểm soát nặng về hành chính sang mô hình quản trị dựa trên định hướng giá trị, giáo dục, truyền thông và sự tham gia của đông đảo cộng đồng. Việc tăng cường phối hợp liên ngành giữa các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, thông tin – truyền thông và các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh văn hóa quốc gia.

Thứ ba, đổi mới quản lý văn hóa là thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng hiện đại và bền vững. Xây dựng ngành công nghiệp văn hóa là một trong những động lực quan trọng góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia và nâng cao sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam. Trong bối cảnh đó, quản lý văn hóa cần chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo và hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho các lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo, thủ công mỹ nghệ và nội dung số phát triển. Đồng thời, việc hoàn thiện các chính sách về tài chính, thuế, sở hữu trí tuệ và hợp tác công – tư là điều kiện cần thiết để công nghiệp văn hóa Việt Nam hội nhập hiệu quả vào thị trường toàn cầu.

Thứ tư, đổi mới quản lý văn hóa cũng không thể tách rời nhiệm vụ xây dựng con người và môi trường văn hóa. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “phát triển văn hoá, quản lý phát triển xã hội và xây dựng con người”, qua đó cho thấy Đảng tiếp tục coi văn hóa và con người là những nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển bền vững của đất nước”10. Điều này đòi hỏi quản lý văn hóa phải chú trọng nâng cao năng lực thẩm mỹ, bản lĩnh văn hóa và tinh thần tự tôn dân tộc, đặc biệt đối với thế hệ trẻ trong bối cảnh hội nhập và giao lưu liên văn hóa ngày càng sâu rộng. Việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và không gian mạng có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành hệ giá trị bền vững và nuôi dưỡng sáng tạo xã hội. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn sâu và năng lực quản trị hiện đại là điều kiện then chốt để nâng cao hiệu quả quản lý văn hóa.

Thứ năm, hiện đại hóa quản lý văn hóa trên nền tảng số trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia. Trong lĩnh vực văn hóa, điều này đòi hỏi đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa; thúc đẩy số hóa di sản, xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa và phát triển các nền tảng truyền thông số phục vụ quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Hiện đại hóa quản lý văn hóa trên nền tảng số không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận các giá trị văn hóa, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa và củng cố vị thế văn hóa Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa.

5. Kết luận

 Hội nhập văn hóa là xu thế tất yếu của thời đại toàn cầu hóa và chuyển đổi số, mở ra cơ hội để Việt Nam tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời đặt ra những thách thức đối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Thực tiễn cho thấy, hội nhập văn hóa ở Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, song cũng bộc lộ những hạn chế như thương mại hóa, lai căng và tác động tiêu cực của môi trường truyền thông số. Yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục đổi mới quản lý văn hóa theo hướng hiện đại, khoa học và lấy con người làm trung tâm, phát huy vai trò quản lý nhà nước, cộng đồng và công nghệ số trong sáng tạo, bảo tồn và lan tỏa giá trị văn hóa.

Chú thích:
1, 2, 6, 8, 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVI. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 7, 7, 8, 7, 7.
3. V.I.Lênin toàn tập (1981). Tập 41. NXB Tiến Bộ, Matxcơva, tr. 507.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (1995). Tập 3. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 431.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014). Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. H. Văn phòng Trung ương Đảng, tr. 48.
7, 8.  Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIITập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 231, 51.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1993). Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ mới.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008). Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Nguyễn Thị Thu Hường (2026). Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc gắn với phát triển khoa học – công nghệ và chuyển đổi số. Tạp chí Quản lý nhà nước, (360), tr. 74 – 79. https://doi.org/10.59394/qlnn.360.2026.1407
5. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/03/18/giu-gin-ban-sac-van-hoa-dan-toc-viet-nam-trong-qua-trinh-toan-cau-hoa/