Accelerating digital transformation and innovation to enhance the efficiency of the state administrative apparatus and meet the demands of the new era
ThS. Nguyễn Đặng Phương Truyền
Học viện Chính trị khu vực II
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo ngày càng được khẳng định là những động lực, giải pháp then chốt, quan trọng giúp vận hành hiệu quả bộ máy hành chính nhà nước, góp phần đổi mới quản trị công, thúc đẩy đổi mới quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Bài viết đề xuất một số kiến nghị tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Từ khóa: Bộ máy hành chính nhà nước; chuyển đổi số; đổi mới sáng tạo; kỷ nguyên mới.
Abstract: In the context of the digital age and international integration, digital transformation and innovation are increasingly recognized as key drivers and solutions essential for the effective operation of the state administrative apparatus, contributing to the reform of public administration and promoting modern, effective, and efficient national governance. This article proposes several recommendations to further advance digital transformation and innovation to meet the demands of the nation’s new era.
Keywords: state administrative apparatus; digital transformation; innovation; new era.
1. Đặt vấn đề
Đất nước ta từ Đại hội XIV của Đảng trở đi “chính thức bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”. Theo đó, kỷ nguyên mới đòi hỏi phải tạo chuyển biến căn bản về nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn xã hội trong việc giữ gìn, nuôi dưỡng, sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của đất nước”1. Vì vậy, hiện nay cả nước đang đứng trước cả thời cơ và thách thức trong việc đổi mới hoạt động quản trị ở cả cấp độ quốc gia và địa phương để thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi số quốc gia và đổi mới sáng tạo trong khu vực công đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước mà còn cải thiện chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, qua đó góp phần đổi mới nền quản trị quốc gia. Tuy nhiên, hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước vẫn còn đối mặt với không ít hạn chế, thách thức trong bối cảnh mới. Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo được xem là một trong những động lực quan trọng góp phần giúp bộ máy hành chính nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Do đó, nghiên cứu, phân tích, làm rõ vai trò của chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong việc thúc đẩy vận hành hiệu quả bộ máy hành chính nhà nước, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị của bộ máy hành chính nhà nước và góp phần đổi mới quản trị quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới là điều cần thiết.
2. Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong khu vực công
Hiện nay, các quốc gia trên thế giới bước vào kỷ nguyên số (digital age), theo Nguyễn Tri Thức (2024), “kỷ nguyên số với những đặc điểm, tính chất và sự tác động sâu rộng trên mọi phương diện và động lực hình thành kỷ nguyên số là quá trình chuyển đổi số nhằm thay đổi tổng thể và toàn diện phương thức phát triển của xã hội, lối sống và hoạt động trên nền tảng số”2. Ngày 31/10/2024, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có buổi trao đổi một số nội dung về “kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”3 với các học viên Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (lớp thứ 3), trong đó Tổng Bí thư chỉ rõ 7 định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, bao gồm: (1) Về cải tiến phương thức lãnh đạo của Đảng; (2) Về tăng cường tính đảng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; (3) Về tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả; (4) Chuyển đổi số; (5) Chống lãng phí; (6) Cán bộ; (7) Về kinh tế.
Chuyển đổi số thường được hiểu là “quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của các cá nhân và tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất trên môi trường số với các công nghệ số”4. Đặc biệt, chuyển đổi số được xem là một cuộc cách mạng “Chuyển đổi số không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ số vào các hoạt động kinh tế – xã hội mà còn là quá trình xác lập một phương thức sản xuất mới tiên tiến, hiện đại – “phương thức sản xuất số”5. Do đó, chuyển đổi số trong khu vực công thực chất là “quá trình chuyển đổi phương thức hoạt động, quản trị và cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống số, nền tảng số, quy trình số nhằm tạo ra giá trị mới, hiệu quả và minh bạch”6.
Đối với đổi mới sáng tạo trong khu vực công, theo OECD (2016)7, đổi mới sáng tạo trong khu vực công đề cập đến những cải tiến đáng kể đối với hoạt động hành chính hoặc dịch vụ công. Nó có thể được định nghĩa là việc một tổ chức thuộc khu vực công thực hiện quy trình, phương pháp hoặc dịch vụ mới hoặc được cải tiến đáng kể nhằm mục đích cải thiện hoạt động hoặc kết quả của tổ chức trong khu vực công. Ở Việt Nam theo Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc và Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia Việt Nam thì “Đổi mới sáng tạo trong khu vực công là việc triển khai các sản phẩm, dịch vụ, quy trình, phương pháp mới hoặc được thay đổi đáng kể nhằm đạt các mục tiêu của tổ chức công lập và đưa đến những cải tiến đáng kể về kết quả và hoạt động của tổ chức”8.
Việc triển khai chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong khu vực công không chỉ là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình đổi mới nền công vụ ở Việt Nam, giúp bộ máy hành chính nhà nước vận hành hiệu quả hơn. Quá trình này tạo ra những chuyển biến căn bản cả về tư duy quản lý và phương thức hoạt động của các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước cũng như đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và phục vụ hiệu quả hơn người dân, doanh nghiệp.
Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo góp phần hình thành văn hóa phục vụ của bộ máy hành chính nhà nước, đồng thời thúc đẩy tư duy cải tiến liên tục, tinh thần chủ động, sáng tạo trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Thông qua chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo việc tái cấu trúc quy trình hành chính, bao gồm cả quy trình nội bộ và quy trình giải quyết thủ tục hành chính, gắn với ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, đã giúp đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao chất lượng dịch vụ công và tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực của các cơ quan hành chính nhà nước. Nhờ đó, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước được nâng cao, đồng thời mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với nền hành chính nhà nước được cải thiện rõ rệt.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước thông qua việc số hóa thông tin và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Việc bảo đảm tiếp cận thông tin một cách công bằng, đồng thời, tạo điều kiện để người dân tham gia vào hoạt động quản trị nhà nước thông qua các nền tảng số, không chỉ củng cố quyền được biết, quyền tham gia và quyền giám sát của công dân mà còn thúc đẩy quá trình dân chủ hóa trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Đây là những yếu tố nền tảng của một nền công vụ ưu tú, trong đó người dân không chỉ là đối tượng phục vụ mà còn trở thành chủ thể đồng hành cùng Nhà nước trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Qua đó, góp phần hình thành mô hình quản trị công hiện đại theo hướng “đồng quản trị” (co-governance), trong đó Nhà nước và xã hội cùng tham gia tạo lập và thực thi giá trị công.
Quan trọng hơn, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo góp phần nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản trị của bộ máy nhà nước ở cả cấp trung ương và địa phương. Thông qua việc hiện đại hóa quy trình ra quyết định, tăng cường sử dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, các cơ quan hành chính nhà nước có điều kiện vận hành hiệu quả dựa trên bằng chứng và dữ liệu thời gian thực, qua đó nâng cao chất lượng hoạch định và thực thi chính sách, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của một nền công vụ hiện đại phục vụ Nhân dân. Đây chính là nền tảng quan trọng để xây dựng và phát triển một nền công vụ ưu tú, với thể chế kiến tạo phát triển, bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; cùng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực chuyên môn cao, đạo đức công vụ vững vàng, văn hóa số thích ứng, và tinh thần trách nhiệm, liêm chính, phụng sự xã hội. Đồng thời, góp phần định hình mô hình quản trị công hiện đại, linh hoạt, thích ứng cao với những biến động nhanh chóng của môi trường phát triển trong kỷ nguyên số.
Ở Việt Nam, trên cơ sở các quan điểm, chủ trương và chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, các cơ quan, tổ chức trong khu vực công đã chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình này. Việc thực hiện chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo không chỉ là công cụ cải cách hành chính mà còn là động lực quan trọng góp phần hiện thực hóa các giá trị cốt lõi của quản trị công tốt và nền công vụ ưu tú.
Như vậy, những kết quả đạt được qua việc thực hiện chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong khu vực công đã tạo ra chuyển biến tích cực, giúp cải thiện chất lượng dịch vụ công, nâng cao năng lực quản trị, tăng cường tính minh bạch trong quá trình ra quyết định, đồng thời mở rộng sự tham gia của người dân vào quản trị công thông qua các nền tảng số. Qua đó, không chỉ góp phần giúp vận hành hiệu quả bộ máy hành chính nhà nước mà còn góp phần đổi mới mô hình quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong khu vực công mang lại nhiều kết quả tích cực, đóng góp vào việc đổi mới nền quản trị quốc gia theo giá trị của quản trị công tốt. Điều này cho thấy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đang dần trở thành trụ cột quan trọng trong quá trình hiện đại hóa nền hành chính và nâng cao chất lượng quản trị công ở Việt Nam trong bối cảnh mới.
3. Một số kiến nghị
Thứ nhất, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và quán triệt, thống nhất nhận thức về việc phải đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định: “Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của doanh nhân, doanh nghiệp và nhân dân đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Xác định đây là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, nhất quán, lâu dài với những giải pháp đột phá, mang tính cách mạng”9. Đặc biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh “khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được xác định là động lực phát triển”, “thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo phát triển”10. Do đó, trong thời gian tới, phải tiếp tục tăng cường vai trò, trách nhiệm của cấp ủy Đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chủ trương đúng đắn về thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Tiếp tục quán triệt quan điểm chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là cuộc cách mạng và là một trong những đột phá chiến lược để thúc đẩy phát triển trong kỷ nguyên mới vì chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đã và đang thực sự mang đến những thay đổi toàn diện của các tổ chức, quốc gia, kể cả khu vực tư lẫn khu vực nhà nước. Để thực hiện có hiệu quả chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, cần phải quán triệt và nâng cao nhận thức, quyết tâm đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số trong toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, để mỗi người ý thức được vị trí, vai trò và trách nhiệm của mình trong thực hiện.
Mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải thật sự xem chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là một cuộc cách mạng và bản thân mình có trách nhiệm tham gia cuộc cách mạng đó. Bên cạnh đó, cần nhận thức đầy đủ và quán triệt quan điểm rằng chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là một trong những đột phá chiến lược để thúc đẩy phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, là giải pháp tất yếu để hiện đại hóa nền công vụ, thúc đẩy phát triển bền vững. Trong giai đoạn tiếp theo cần tiếp tục có giải pháp đột phá, mạnh mẽ trong toàn thể cán bộ, công chức của hệ thống chính trị về tính tất yếu của việc thực hiện cuộc cách mạng chuyển đổi số gắn với đổi mới sáng tạo theo tinh thần Bộ Chính trị đã chỉ đạo tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 và chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là quan điểm chỉ đạo về chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đề ra, từ đó, các cơ quan hành chính nhà nước và mỗi cán bộ, công chức quyết tâm, nỗ lực chuyển hoá thành hành động với những giải pháp thiết thực, hiệu quả.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế “đủ và mạnh” nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.
Hoàn thiện thể chế, chính sách chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là giải pháp mấu chốt thúc đẩy việc chuyển đổi số trong các cơ quan nhà nước. Việt Nam trong từng giai đoạn đã ban hành các thể chế, chính sách để tạo nền tảng pháp lý cho việc thực hiện. Tuy nhiên, thể chế, chính sách vẫn còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện. Do đó, trong thời gian tới, phải tiếp tục hoàn thiện thể chế thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo “đưa thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”11.
Bối cảnh hiện nay đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách để tạo nền tảng pháp lý tổng thể, vững chắc cho việc thực hiện. Lẽ dĩ nhiên, việc xây dựng thể chế, chính sách về chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo phải thực hiện theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”, bảo đảm cho thể chế, chính sách “đủ và mạnh” kiến tạo quá trình chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo . Do đó, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc triển khai chuyển đổi số và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực công.
Cần chú trọng hoàn thiện các quy định về quản trị và chia sẻ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, tiêu chuẩn kỹ thuật và kết nối liên thông giữa các hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước. Đồng thời, xây dựng và triển khai các cơ chế chính sách linh hoạt như thí điểm (sandbox) trong một số lĩnh vực để khuyến khích thử nghiệm các mô hình, giải pháp mới, tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong hoạt động quản trị công. Bên cạnh đó, để đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành việc làm thường xuyên trong nền công vụ, cần hoàn thiện thể chế để tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, bảo vệ cán bộ, công chức dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, phải có cơ chế, chính sách để kịp thời biểu dương, khen thưởng, động viên cán bộ, công chức có tư duy đổi mới, cách làm đột phá, sáng tạo.
Thứ ba, xác định cụ thể lĩnh vực cần ưu tiên, tập trung thực hiện chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo gắn với hiện thực hóa các giá trị của nền hành chính nhà nước.
Trước hết, các cơ quan hành chính nhà nước cần chủ động lựa chọn và xác định các lĩnh vực trọng tâm, có tác động lan tỏa lớn để ưu tiên triển khai chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp như cung cấp dịch vụ công, quản lý dân cư, đất đai, tài chính công và an sinh xã hội. Việc xác định đúng trọng tâm, trọng điểm sẽ giúp tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực, tránh dàn trải và nâng cao hiệu quả thực hiện. Đồng thời, việc triển khai cần được gắn chặt với các mục tiêu chiến lược xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả và phục vụ.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 xác định một trong các mục tiêu cơ bản đến năm 2030 là hoàn thành cơ bản việc xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch. Trên cơ sở đó, Nghị quyết xác định một trong các nhiệm vụ là “xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, khoa học, trong sạch, công khai, minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp”12. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch, hiệu quả”13. Như vậy, trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam việc xây dựng các giá trị của nền công vụ nói chung, nền hành chính nhà nước nói riêng luôn là một trong những nội dung trọng tâm, xuyên suốt trong các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam và được xác định ngày càng rõ nét, với các mục tiêu ngày càng cụ thể và toàn diện hơn. Do đó, việc thực hiện chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo phải hướng đến việc thúc đẩy cải cách nền hành chính nhà nước để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Thứ tư, đẩy mạnh tái cấu trúc các quy trình giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số và cung ứng dịch vụ công trực tuyến toàn trình phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Các cơ quan hành chính nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu đẩy mạnh việc tái cấu trúc các quy trình giải quyết thủ tục hành chính gắn với phân cấp, phân quyền, uỷ quyền mạnh mẽ trong giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số để làm cơ sở cho việc chuyển đổi số giải quyết thủ tục hành chính và cung ứng dịch vụ công trực tuyến toàn trình, phục vụ người dân, doanh nghiệp. Việc đẩy mạnh tái cấu trúc quy trình này gắn với việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong giải quyết thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước, theo đúng nguyên tắc “cấp nào sát cơ sở, sát Nhân dân nhất thì giao cấp đó giải quyết” và “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Quá trình chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo không chỉ phục vụ việc thay đổi phương thức quản trị nội bộ theo hướng hiện đại, thông minh, mà hơn hết là hướng đến phục vụ người dân tốt hơn. Do đó, cần xác định lĩnh vực, nội dung cần ưu tiên tập trung tái cấu trúc quy trình để thực hiện chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, phục vụ việc cung ứng dịch vụ công trực tuyến toàn trình, phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn.
Thứ năm, xây dựng khung năng lực số và đẩy mạnh bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, công chức gắn với phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong bảo vệ, khuyến khích cán bộ, công chức thực hiện chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đã tạo ra cơ hội để đổi mới hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, giúp bộ máy hành chính nhà nước vận hành hiệu quả hơn, phục vụ tốt hơn. Bối cảnh mới đặt ra yêu cầu, đòi hỏi cao hơn đối với đội ngũ cán bộ, công chức. Do đó, cần sớm xây dựng và ban hành khung năng lực số thống nhất cho đội ngũ cán bộ, công chức, tương ứng với vị trí việc làm, làm cơ sở xác định tiêu chuẩn, yêu cầu và nội dung đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng vị trí việc làm. Khung năng lực số cần bao quát các nhóm năng lực cốt lõi như: sử dụng công nghệ số, khai thác và phân tích dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin, cũng như tư duy số và khả năng thích ứng với môi trường làm việc số. Việt Nam có thể tham khảo Khung năng lực số của các nước trên thế giới, đặc biệt là Khung năng lực số châu Âu (DigComp) và Khung năng lực số toàn cầu của UNESCO (DLGF – Digital Literacy Global Framework).
Trên cơ sở đó, đẩy mạnh bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, công chức theo hướng thực chất, gắn với nhu cầu công việc và yêu cầu chuyển đổi số trong từng cơ quan, đơn vị. Đồng thời, đa dạng hóa phương thức đào tạo, kết hợp giữa đào tạo trực tiếp và trực tuyến, chú trọng đào tạo theo tình huống, theo vị trí việc làm và cập nhật thường xuyên các công nghệ, phương pháp mới. Việc nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức không chỉ giúp thích ứng hiệu quả với môi trường quản trị hiện đại mà còn là điều kiện quan trọng để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng thực thi công vụ, góp phần xây dựng nền công vụ ưu tú đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đổi mới sáng tạo và chuyển đổi sốcần sự quyết tâm, nỗ lực của tất cả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Do đó, các cơ quan trong khu vực công phải quy định cụ thể về trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, để phục vụ tốt nhất người dân, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ, công chức “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân”, bảo đảm họ được ghi nhận, đánh giá công bằng và không bị rủi ro pháp lý khi thực hiện các sáng kiến phù hợp với chủ trương, chính sách. Đồng thời, gắn trách nhiệm của người đứng đầu với việc phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả nhân lực có năng lực đổi mới sáng tạo. Việc phát huy vai trò người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước và tạo lập cơ chế bảo vệ phù hợp cho đội ngũ cán bộ, công chức sẽ góp phần hình thành đội ngũ cán bộ, công chức năng động, sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm và phụng sự, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới.
Thứ sáu, đẩy mạnh thu hút sự tham gia của người dân và tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước trên môi trường số.
Thực tế thực hiện cải cách khu vực công của nhiều nước cho thấy việc tăng cường sự tham gia của người dân đem lại nhiều lợi ích, giúp các quyết định và chính sách của nhà nước được ban hành phù hợp với thực tế hơn, nên các chính sách này cũng có hiệu lực và hiệu quả hơn. Sự tham gia của người dân vào hoạt động quản trị nhà nước là một trong những đặc trưng quan trọng của nền hành chính hiện đại và thông qua việc tăng cường sự tham gia của người dân, lòng tin của người dân đối với các cơ quan hành chính nhà nước được tăng lên.
Hiện nay, ở Việt Nam, thể chế về quyền tham gia của người dân đã được ban hành và tạo ra cơ sở cho sự tham gia của người dân vào hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Tuy nhiên, để người dân có thể tham gia mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, thông minh rất cần các quy định về sự tham gia điện tử (sự tham gia trực tuyến) của người dân để bảo đảm cơ sở pháp lý vững chắc cho sự tham gia trực tuyến gắn với hoạt động quản trị thông minh trên môi trường số. Do đó, Việt Nam cần có nhiều chính sách hơn nữa giúp người dân trở thành công dân số trong xã hội số, giúp người dân sử dụng công nghệ an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm, cũng như nâng cao quyền công dân số. Việc xây dựng và vận hành các ứng dụng công nghệ số để người dân có điều kiện tham gia trực tuyến là một trong những giải pháp tiên quyết cần thực hiện. Hoàn thiện thể chế về sự tham gia trực tuyến và thúc đẩy sự tham gia trực tuyến của người dân góp phần cải thiện và nâng cao Chỉ số tham gia trực tuyến của người dân Việt Nam. Cùng với đó là việc hoàn thiện quy định về giới hạn, phạm vi tự do của quyền công dân trên môi trường số để bảo đảm trật tự, an toàn, an ninh, bảo vệ quyền riêng tư của người dân trên môi trường số.
Bên cạnh đó, cần tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trên môi trường số thông qua việc công khai thông tin, minh bạch hóa quy trình ra quyết định và thiết lập các cơ chế phản hồi kịp thời đối với ý kiến, kiến nghị của người dân. Đồng thời, xây dựng các công cụ theo dõi, đánh giá hiệu quả giải trình gắn với trách nhiệm cá nhân và tổ chức trong thực thi công vụ. Việc đẩy mạnh dân chủ điện tử và trách nhiệm giải trình trên môi trường số không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị công mà còn củng cố niềm tin của người dân, qua đó tạo nền tảng quan trọng cho việc xây dựng nền công vụ ưu tú, minh bạch và phục vụ trong kỷ nguyên số.
4. Kết luận
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển, để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược, cần sự nỗ lực với những giải pháp vượt trội, bứt phá. Để góp phần vào việc đưa Việt Nam tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc thì tất yếu phải thực hiện chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là giải pháp, động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trên mọi phương diện, ngành, lĩnh vực.Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong các cơ quan nhà nước là giải pháp quan trọng nhằm giúp bộ máy hành chính nhà nước vận hành hiệu quả. Qua đó, giúp đổi mới hoạt động quản trị nhà nước, hiện đại hóa nền công vụ và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Để thực hiện tốt quá trình này, phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp; mấu chốt vẫn là yếu tố con người phải thống nhất tư duy và chuyển hóa thành những hành động cụ thể, thiết thực.
Chú thích:
1. Phùng Hữu Phú (2025). Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và những yêu cầu lịch sử. https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-va-nhung-yeu-cau-lich-su
2. Nguyễn Tri Thức (09/12/2024). Kỷ nguyên số – Bối cảnh và cơ hội cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1014902/ky-nguyen-so—boi-canh-va-co-hoi-cho-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-viet-nam.aspx
3. Trần Ngọc Anh (2024), Cây chiến lược của “kỷ nguyên vươn mình”, Kỷ yếu Hội thảo Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam – những vấn đề đặt ra cho TP. Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ. Viện Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh và Hội đồng Tư vấn triển khai Nghị quyết 98/2025/QH14, tháng 12/2024.
4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2021). Cẩm nang chuyển đổi số, NXB Thông tin và Truyền thông.
5. Tô Lâm (2024). Chuyển đổi số – động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/chuyen-doi-so-dong-luc-quan-trong-phat-trien-luc-luong-san-xuat-hoan-thien-quan-he-san-xuat-dua-dat-nuoc-buoc-vao-ky-nguyen-moi
6. Quốc hội (2025). Luật Chuyển đổi số năm 2025
7. OECD (2016). The Innovation Imperative in the Public Sector: Setting an Agenda for Action.
8. Viet Nam National Innovation Center (NIC) and the United Nations Development Program (UNDP) (2022). Results of Pilot Research on the Criteria Framework for Measuring Innovation in the Public Sector in Viet Nam. A Joint Policy Research Paper on Governance and Participation commissioned by the Viet Nam National Innovation Center (NIC) and the United Nations Development Program (UNDP) in Viet Nam.
9. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV.
11. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
13. Quan điểm này được Chính phủ chỉ đạo trong nhiều phiên họp của Chính phủ (Nghị quyết số 75/NQ-CP ngày 14/7/2021 Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 năm 2021 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương, Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ về phê duyệt Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 và 2026).



