Phát triển kinh tế xanh ở tỉnh Tuyên Quang trong kỷ nguyên mới: một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Green economy development in Tuyen Quang province in the new era: theoretical and practical issues

TS. Nguyễn Mạnh Dũng
Trường Đại học Thủ Dầu Một
TS. Trịnh Minh Thái
Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển kinh tế xanh là xu hướng tất yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế sâu rộng. Bài viết phân tích thực trạng phát triển kinh tế xanh tại tỉnh Tuyên Quang trên các lĩnh vực nông lâm nghiệp, công nghiệp, du lịch và bảo vệ môi trường; chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xanh của tỉnh trong kỷ nguyên mới, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng bền vững và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.

Từ khóa: Kinh tế xanh; phát triển bền vững; Tuyên Quang; nông nghiệp xanh; du lịch xanh.

Abstract: Green economic development has become an inevitable trend for ensuring sustainable growth in the context of climate change and deep international integration. This article analyzes the current state of green economic development in Tuyen Quang Province across sectors such as agriculture and forestry, industry, tourism, and environmental protection; it identifies the achievements as well as existing limitations. On that basis, it proposes several solutions to promote green economic development in the province in the new era, contributing to the achievement of sustainable development goals and improving people’s quality of life.

Keywords: Green economy; sustainable development; Tuyen Quang; green agriculture; green tourism; environmental governance.

1. Đặt vấn đề

Phát triển nhanh và bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong đường lối phát triển của Đảng. Sự biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển kinh tế xanh đã trở thành xu thế tất yếu, đồng thời là một trong những trụ cột quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước. Đại hội XIV của Đảng xác định rõ việc “Xác lậpmô hình tăng trưởng mới với mục tiêu là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế”1; “…lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính”2; đặc biệt, “đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực”3 và hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu, tỉnh Tuyên Quang, với lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái rừng và bản sắc văn hóa đa dạng, đã từng bước triển khai các chủ trương phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường. Trong đó, Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025 – 2030 xác định rõ yêu cầu phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, hướng tới mô hình kinh tế xanh, bền vững.

2. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế xanh

Phát triển kinh tế xanh là một trong những định hướng trọng tâm nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và áp lực gia tăng về bảo vệ môi trường. Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNEP), kinh tế xanh là nền kinh tế cải thiện phúc lợi con người và công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể các rủi ro môi trường và suy thoái sinh thái (UNEP, 2019)4. Các nghiên cứu cập nhật gần đây tiếp tục nhấn mạnh vai trò của kinh tế xanh trong thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn và giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường toàn cầu. Cách tiếp cận này cho thấy, sự cần thiết phải hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và phát triển bao trùm.

Dưới góc độ quản lý nhà nước, kinh tế xanh không chỉ là một mô hình phát triển kinh tế mà còn là một định hướng chính sách công, đòi hỏi sự can thiệp có chủ đích của Nhà nước thông qua hệ thống thể chế, chính sách và công cụ quản lý phù hợp. Tăng trưởng xanh được hiểu là quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc môi trường. Bên cạnh đó, kinh tế xanh thường gắn với vai trò của quản lý tài nguyên, tài chính xanh và cải cách chính sách trong thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế phát thải thấp và phát triển bền vững (Damania và cộng sự, 2023)5. Như vậy, kinh tế xanh có thể được xem là sự phát triển ở cấp độ cao hơn, bao trùm cả mục tiêu tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Về nội hàm, kinh tế xanh thường được cấu thành bởi ba trụ cột cơ bản: (1) Hiệu quả kinh tế; (2) Bền vững môi trường và (3) Công bằng xã hội theo UNEP (2019)6 và World Bank (WB, 2021)7. Trong đó, hiệu quả kinh tế được thể hiện qua việc nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh; bền vững môi trường gắn với việc giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học; còn công bằng xã hội nhấn mạnh đến việc bảo đảm sinh kế, giảm bất bình đẳng và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Ba trụ cột này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau và cần được tích hợp trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách.

Trong bối cảnh hiện nay, phát triển kinh tế xanh gắn liền với các mô hình mới như kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Kinh tế tuần hoàn hướng tới tối ưu hóa vòng đời của tài nguyên thông qua tái sử dụng, tái chế và giảm thiểu chất thải; trong khi đó, chuyển đổi số đóng vai trò là công cụ quan trọng giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và minh bạch hóa các hoạt động kinh tế. Sự kết hợp giữa các yếu tố này tạo nên nền tảng cho quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh và bền vững. Từ góc độ quản lý nhà nước, để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, Nhà nước cần thực hiện đồng bộ các chức năng cơ bản, như: xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy kinh tế xanh; quy hoạch và định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực theo tiêu chí xanh; sử dụng các công cụ kinh tế như thuế môi trường, tín dụng xanh, trợ cấp và cơ chế khuyến khích đầu tư; tăng cường thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực thi các quy định về bảo vệ môi trường và nâng cao nhận thức, năng lực của các chủ thể tham gia nền kinh tế. Đây là những yếu tố mang tính quyết định để bảo đảm quá trình chuyển đổi sang kinh tế xanh diễn ra hiệu quả và bền vững.

Trên cơ sở đó, trong nghiên cứu, phát triển kinh tế xanh tại địa phương được tiếp cận theo hướng là quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng thông qua việc lồng ghép các mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội vào hoạt động phát triển, dưới sự điều tiết và dẫn dắt của Nhà nước. Việc đánh giá mức độ phát triển kinh tế xanh có thể dựa trên một số tiêu chí như: mức độ sử dụng hiệu quả tài nguyên, tỷ lệ ứng dụng công nghệ sạch, mức độ giảm phát thải, khả năng bảo tồn hệ sinh thái và mức độ cải thiện sinh kế cho người dân.

3. Thực trạng phát triển kinh tế xanh tại tỉnh Tuyên Quang

Xác định cơ sở khung lý thuyết về kinh tế xanh với ba trụ cột chính, gồm: hiệu quả kinh tế, bền vững môi trườngcông bằng xã hội, dưới sự điều tiết của Nhà nước, thực tiễn phát triển tại tỉnh Tuyên Quang thời gian qua cho thấy, quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh đã bước đầu được hình thành trên một số lĩnh vực chủ yếu.

Thứ nhất, hiệu quả kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Báo cáo Chính trị của tỉnh Tuyên Quang (2025)8, trong lĩnh vực nông – lâm nghiệp, tỉnh đã đạt được những kết quả tích cực trong việc nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản xuất. Sản lượng lương thực hằng năm đạt khoảng 600.000 – 750.000 tấn; sản lượng gỗ rừng trồng đạt trên 1 triệu m³; nhiều sản phẩm nông sản chủ lực như chè, cam, bưởi được phát triển theo hướng hàng hóa và nâng cao chất lượng. Toàn tỉnh có 454 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó có 2 sản phẩm đạt chuẩn 5 sao cho thấy, quá trình tái cơ cấu nông nghiệp đã gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị thị trường. Chăn nuôi từng bước chuyển sang quy mô tập trung, ứng dụng công nghệ và tổ chức theo chuỗi giá trị, với 51 cơ sở đạt tiêu chuẩn VietGAP và 14 cơ sở an toàn dịch bệnh. Đặc biệt, ngành nuôi ong với quy mô khoảng 177.000 đàn, sản lượng 1.100 tấn mật/năm đã góp phần hình thành sản phẩm đặc trưng có giá trị kinh tế cao.

Trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp – dịch vụ; tỉnh đã thu hút 739 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký trên 143.800 tỷ đồng, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hạ tầng giao thông và hạ tầng số được đầu tư, góp phần nâng cao năng lực kết nối và hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế theo hướng hiện đại. Những kết quả này cho thấy trụ cột hiệu quả kinh tế của kinh tế xanh bước đầu được cải thiện thông qua tái cơ cấu ngành, ứng dụng công nghệ và mở rộng thị trường.

Thứ hai, bền vững môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên.

Phát triển kinh tế xanh tại Tuyên Quang đã có những chuyển biến rõ nét trong việc gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên. Trong nông nghiệp, các mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ, tuần hoàn và sinh thái từng bước được triển khai; việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất, truy xuất nguồn gốc và quản lý chất lượng góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Trong lâm nghiệp, tỉnh phát huy lợi thế về tài nguyên rừng với tỷ lệ che phủ rừng 65,21%9. Đây là minh chứng quan trọng cho việc sử dụng tài nguyên theo hướng bền vững, đồng thời góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và giảm phát thải khí nhà kính. Trong lĩnh vực du lịch, các mô hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và du lịch có trách nhiệm được phát triển gắn với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa. Các hoạt động xúc tiến du lịch gắn với bảo vệ môi trường, giảm thiểu rác thải và phát triển sản phẩm xanh cho thấy nhận thức về phát triển bền vững đã từng bước được cụ thể hóa trong thực tiễn. Nhìn chung, môi trường tại địa phương đã được quan tâm, tuy nhiên, mức độ “xanh hóa” còn ở giai đoạn đầu và chưa đồng bộ giữa các ngành, lĩnh vực.

Thứ ba, thực hiện công bằng xã hội và cải thiện sinh kế.

Phát triển kinh tế xanh tại Tuyên Quang bước đầu góp phần cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn và miền núi. Các mô hình sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị, phát triển sản phẩm OCOP và chăn nuôi đặc sản đã tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Trong lĩnh vực du lịch, việc phát triển 54 làng văn hóa du lịch cộng đồng, trong đó có 9 làng đạt OCOP từ 3 – 4 sao, đã góp phần tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương. Nhiều hộ dân tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, qua đó, nâng cao thu nhập, đồng thời bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Bên cạnh đó, việc thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp với hơn 270 sản phẩm được truy xuất nguồn gốc và đưa lên sàn thương mại điện tử không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn góp phần tăng tính minh bạch, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường cho người dân, đặc biệt là các hộ sản xuất nhỏ.

Tuy nhiên, mức độ lan tỏa của các lợi ích này chưa đồng đều; khoảng cách phát triển giữa các khu vực, giữa các nhóm dân cư vẫn còn tồn tại, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện các chính sách bảo đảm tính bao trùm trong phát triển kinh tế xanh.

Thứ tư, vai trò quản lý nhà nước trong thúc đẩy kinh tế xanh.

Các kết quả đạt được cho thấy, vai trò định hướng, điều tiết của Nhà nước tại địa phương đã từng bước được phát huy thông qua việc ban hành chủ trương, chính sách phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, thúc đẩy chuyển đổi số và tái cơ cấu kinh tế. Công tác quy hoạch, đầu tư hạ tầng, thu hút đầu tư và hỗ trợ phát triển sản xuất được triển khai tương đối đồng bộ. Tuy nhiên, xét theo yêu cầu của khung lý thuyết về kinh tế xanh, vai trò quản lý nhà nước vẫn cần tiếp tục được nâng cao, đặc biệt trong việc hoàn thiện thể chế, xây dựng các công cụ chính sách kinh tế xanh như tín dụng xanh, cơ chế khuyến khích đầu tư xanh, cũng như tăng cường giám sát và đánh giá hiệu quả thực thi.

Bảng 1. Thực trạng phát triển kinh tế xanh tại tỉnh Tuyên Quang

Nội dungChỉ tiêuĐơn vịThực hiện 2020Ước 2025
Kinh tếTốc độ tăng trưởng GRDP bình quân%5,925,90–8,0
GRDP bình quân đầu ngườiTriệu đồng29,845,0
Thu ngân sách nhà nướcTỷ đồng2.5293.413
Tỷ lệ đô thị hóa%15,730,0
Khách du lịchTriệu lượt1,53,5
Xã hộiTỷ lệ giảm nghèo đa chiều%4,275,44
Tỷ lệ lao động qua đào tạo%54,061,2
Số xã đạt chuẩn nông thôn mới4551
Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia%42,060,0
Môi trườngTỷ lệ che phủ rừng%58,060,0
Tỷ lệ dân cư đô thị dùng nước sạch%90,0100
Tỷ lệ dân cư nông thôn dùng nước sạch%86,096,2
Tỷ lệ thu gom rác thải đô thị%95,095,0
Tỷ lệ xử lý rác thải đô thị%74,790,0
Nguồn: Báo cáo Chính trị của Tỉnh ủy Tuyên Quang (2025)

Từ góc độ tiếp cận kinh tế xanh, Bảng 1 cho thấy, tỉnh Tuyên Quang đã đạt được những kết quả bước đầu trong việc lồng ghép các mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội vào quá trình phát triển. Các trụ cột của kinh tế xanh từng bước được hình thành, trong đó nổi bật là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo vệ tài nguyên rừng và phát triển sinh kế cộng đồng.

4. Một số hạn chế, bất cập trong quá trình phát triển kinh tế xanh tại Tuyên Quang

Xét theo ba trụ cột về kinh tế, môi trường, xã hội và vai trò của quản lý nhà nước, các hạn chế này có thể được nhận diện trên các phương diện chủ yếu sau:

Một là, hạn chế về hiệu quả kinh tế và chất lượng chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Mặc dù sản xuất nông, lâm nghiệp đã có bước phát triển, song mô hình sản xuất vẫn chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, phân tán, thiếu liên kết theo chuỗi giá trị, gây khó khăn trong việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất xanh ở quy mô lớn. Hàm lượng khoa học, công nghệ trong sản xuất chưa cao; việc ứng dụng chuyển đổi số còn mang tính cục bộ, chưa tạo được sự lan tỏa rộng rãi. Công nghiệp chế biến sâu chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, dẫn đến giá trị gia tăng của sản phẩm còn thấp. Trong lĩnh vực công nghiệp, mặc dù thu hút đầu tư có xu hướng gia tăng, song cơ cấu ngành chưa thực sự xanh, vẫn còn phụ thuộc vào các ngành có nguy cơ tác động tiêu cực đến môi trường như khai thác khoáng sản và thủy điện. Điều này cho thấy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế xanh còn chậm và chưa thực sự bền vững.

Hai, hạn chế về bền vững môi trường và quản lý tài nguyên. Việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa thực sự chặt chẽ. Trong nông nghiệp, công tác xử lý chất thải trong chăn nuôi và chế biến nông, lâm sản còn mang tính thủ công, hiệu quả thấp, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường trong sản xuất chưa đồng đều giữa các khu vực và các chủ thể sản xuất. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, mặc dù tỷ lệ che phủ rừng cao, song vẫn tồn tại nguy cơ suy giảm chất lượng rừng do tác động của chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác tài nguyên và phát triển hạ tầng. Trong công nghiệp, hoạt động khai thác khoáng sản và phát triển thủy điện tiềm ẩn rủi ro làm biến đổi hệ sinh thái, ảnh hưởng đến nguồn nước và môi trường sống của người dân. Đối với lĩnh vực du lịch, phát triển du lịch xanh chưa thực sự đồng bộ; tại một số điểm du lịch vẫn còn tình trạng rác thải sinh hoạt, xây dựng tự phát, gây tác động tiêu cực đến cảnh quan và hệ sinh thái.

Ba, hạn chế về công bằng xã hội và tính bao trùm trong phát triển. Mặc dù kinh tế xanh bước đầu tạo sinh kế cho người dân, song mức độ lan tỏa lợi ích chưa đồng đều giữa các khu vực và nhóm dân cư. Các mô hình sản xuất và du lịch xanh chủ yếu tập trung ở một số địa bàn có điều kiện thuận lợi, trong khi nhiều khu vực vùng sâu, vùng xa vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận công nghệ, thị trường và nguồn lực phát triển. Nhận thức của một bộ phận người dân về sản xuất xanh, tiêu dùng bền vững và bảo vệ môi trường còn hạn chế; việc tham gia vào các mô hình kinh tế xanh còn mang tính tự phát, thiếu định hướng và hỗ trợ đồng bộ từ phía Nhà nước. Điều này ảnh hưởng đến tính bền vững và khả năng nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế xanh tại địa phương.

Bốn là, hạn chế về vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước. Một trong những điểm nghẽn quan trọng là hệ thống thể chế, chính sách thúc đẩy kinh tế xanh tại địa phương chưa hoàn thiện và thiếu đồng bộ. Các công cụ chính sách như tín dụng xanh, ưu đãi đầu tư xanh, cơ chế khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi sản xuất theo hướng thân thiện môi trường chưa được triển khai hiệu quả. Công tác quy hoạch phát triển kinh tế xanh còn thiếu tính tích hợp; hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế xanh, đặc biệt là hạ tầng xử lý chất thải và nước thải, chưa đáp ứng yêu cầu. Hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát môi trường chưa thực sự hiệu quả; việc xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Bên cạnh đó, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý trong lĩnh vực kinh tế xanh còn hạn chế; sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa chặt chẽ, dẫn đến hiệu quả thực thi chính sách chưa cao.

Những hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.

(1) Về khách quan, Tuyên Quang là tỉnh miền núi, điều kiện kinh tế – xã hội còn khó khăn, hạ tầng chưa đồng bộ, nguồn lực đầu tư hạn chế; tác động của biến đổi khí hậu và thị trường bên ngoài cũng ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi sang kinh tế xanh. 

(2) Về chủ quan, nhận thức về kinh tế xanh của một số cấp, ngành và người dân chưa đầy đủ; tư duy phát triển còn thiên về tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, chưa chú trọng đúng mức đến yếu tố môi trường và tính bền vững. Công tác xây dựng và thực thi chính sách còn thiếu đồng bộ; chưa hình thành được hệ sinh thái hỗ trợ phát triển kinh tế xanh với sự tham gia hiệu quả của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. 

Nhìn chung, những hạn chế và nguyên nhân nêu trên, cho thấy, quá trình phát triển kinh tế xanh tại tỉnh Tuyên Quang vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi ban đầu, chưa hình thành được một hệ sinh thái phát triển đồng bộ. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy các giải pháp mang tính hệ thống nhằm bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển xã hội trong thời gian tới.

5. Một số giải pháp phát triển kinh tế xanh cho Tuyên Quang

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế xanh. Trong đó, cần rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách phát triển kinh tế xanh phù hợp với điều kiện của địa phương, bảo đảm tính đồng bộ với các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Trọng tâm là xây dựng và ban hành chương trình hành động cấp tỉnh về phát triển kinh tế xanh, trong đó xác định rõ mục tiêu, lộ trình, nhiệm vụ và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị.

Cùng với đó, cần lồng ghép các mục tiêu kinh tế xanh vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch không gian lãnh thổ; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế xanh làm cơ sở cho công tác quản lý, giám sát và đánh giá hiệu quả thực thi. Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về môi trường, nâng cao tính răn đe và bảo đảm kỷ cương trong thực thi chính sách.

Thứ hai, đổi mới tư duy phát triển và nâng cao nhận thức xã hội về kinh tế xanh. Một trong những điều kiện tiên quyết là chuyển đổi nhận thức từ tăng trưởng kinh tế đơn thuần sang tăng trưởng xanh và bền vững. Theo đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa của kinh tế xanh, từ hệ thống chính trị, doanh nghiệp đến người dân.

Nội dung tuyên truyền cần gắn với các chương trình, dự án cụ thể về bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và tiêu dùng bền vững. Đồng thời, cần hình thành các chuẩn mực hành vi trong sản xuất và tiêu dùng như phân loại rác thải tại nguồn, hạn chế sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, sử dụng tiết kiệm tài nguyên. Việc chuyển hóa nhận thức thành hành động sẽ tạo nền tảng xã hội vững chắc cho quá trình phát triển kinh tế xanh.

Thứ ba, phát triển nông, lâm nghiệp xanh gắn với khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Đối với lĩnh vực nông, lâm nghiệp, cần tập trung tái cơ cấu theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, phát triển theo chuỗi giá trị và gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc tổ chức lại sản xuất cần lấy doanh nghiệp làm trung tâm liên kết với hợp tác xã và hộ nông dân nhằm nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và giảm thiểu chất thải; hoàn thiện cơ chế tích tụ, tập trung đất đai và chính sách tín dụng ưu đãi để thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, cần tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, đồng thời phát triển các mô hình nông – lâm kết hợp nhằm bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu kinh tế và bảo vệ môi trường.

Thứ tư, thúc đẩy phát triển công nghiệp theo hướng xanh, tuần hoàn và ít phát thải. Trong lĩnh vực công nghiệp, cần định hướng chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo, giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, hướng tới phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường.

Việc phát triển công nghiệp cần gắn với mô hình kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lượng. Bên cạnh đó, cần tăng cường kiểm soát môi trường đối với các hoạt động khai thác khoáng sản và thủy điện; không triển khai các dự án khi chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về bảo vệ môi trường. Đồng thời, đẩy mạnh các giải pháp tiết kiệm năng lượng, khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo như điện mặt trời, năng lượng sinh khối, từng bước nâng cao tỷ lệ sử dụng năng lượng sạch trong sản xuất và đời sống.

Thứ năm, phát triển du lịch xanh, bền vững và có trách nhiệm. Trong lĩnh vực du lịch, cần định hướng phát triển theo hướng xanh, bền vững và có trách nhiệm, gắn với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa địa phương. Trọng tâm là xây dựng và ban hành bộ tiêu chí du lịch xanh làm cơ sở thống nhất cho quản lý và phát triển; phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa chất lượng cao. Đồng thời, cần hoàn thiện quy hoạch không gian du lịch theo hướng hài hòa giữa phát triển và bảo vệ môi trường; tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quảng bá và quản lý du lịch; xây dựng thương hiệu du lịch xanh của tỉnh; khuyến khích sử dụng các phương tiện thân thiện với môi trường và giảm thiểu rác thải trong hoạt động du lịch.

Thứ sáu, hoàn thiện hạ tầng và tăng cường quản lý môi trường. Cần ưu tiên đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn, nước thải, đặc biệt tại khu vực đô thị và nông thôn. Đồng thời, ứng dụng công nghệ trong quan trắc, giám sát và cảnh báo ô nhiễm môi trường, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, cần lồng ghép các mục tiêu tăng trưởng xanh vào quy hoạch phát triển đô thị, hướng tới xây dựng đô thị thông minh, thân thiện với môi trường và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ bảy, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố nền tảng cho kinh tế xanh. Theo đó, cần đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực trong các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp xanh, du lịch bền vững; nâng cao kỹ năng số cho người dân, doanh nghiệp và đội ngũ cán bộ quản lý. Chú trọng việc thúc đẩy chuyển đổi số trong sản xuất, thương mại và quản trị; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã triển khai truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và quảng bá sản phẩm. Song song với đó, cần phát triển thị trường tiêu dùng xanh và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động liên quan đến hóa chất nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.

Chú thích:
1, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 377, 373, 377 – 378.
4. United Nations Environment Programme (2025). About green economy. UNEP.
5. Damania, R., Balseca, E., de Fontaubert, C., Gill, J., Kim, K., Rentschler, J., Russ, J., & Zaveri, E. (2023). Detox Development: Repurposing Environmentally Harmful Subsidies. World Bank.
6. United Nations Environment Programme (2019). Global Environment Outlook – GEO-6: Healthy Planet, Healthy People. Cambridge University Press.
7. World Bank. (2021). The Changing Wealth of Nations 2021: Managing Assets for the Future. World Bank.
8. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2025). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang nhiệm kỳ 2020 – 2025 trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
9. Tỷ lệ che phủ rừng ở Tuyên Quang đạt hơn 65%. https://thiennhienmoitruong.vn/ty-le-che-phu-rung-o-tuyen-quang-dat-hon-65.html
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2025). Báo cáo số 58/BC-TU ngày 16/9/2025 (Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang nhiệm kỳ 2020 – 2025 trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030).
3. Quản lý nhà nước về kinh tế xanh trong kỷ nguyên mới: cơ hội và thách thức của Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/27/quan-ly-nha-nuoc-ve-kinh-te-xanh-trong-ky-nguyen-moi-co-hoi-va-thach-thuc-cua-viet-nam/
4. Damania, Richard; Balseca, Esteban; de Fontaubert, Charlotte; Gill, Joshua; Kim, Kichan; Rentschler, Jun; Russ, Jason; Zaveri, Esha (2023). Detox Development: Repurposing Environmentally Harmful Subsidies. World Bank.
5. United Nations Environment Programme (2019). Global Environment Outlook – GEO-6: Healthy Planet, Healthy People. Cambridge University Press.
6. World Bank. (2021). The Changing Wealth of Nations 2021: Managing Assets for the Future. World Bank.