Strengthening discipline and order in building a clean and strong political system in Vietnam today
TS. Trương Quốc Việt
Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định phương châm: “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, trong đó “kỷ cương” được đặt ở vị trí trung tâm, gắn kết chặt chẽ với “Đoàn kết – Dân chủ” và “Đột phá – Phát triển”. Trên cơ sở kế thừa và phát triển các nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như tiếp cận các lý thuyết hiện đại về quản trị quốc gia, bài viết phân tích một cách hệ thống các quan điểm của Đảng về tăng cường kỷ luật đảng, kỷ cương phép nước trong quá trình xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Bài viết luận giải kỷ luật, kỷ cương không chỉ là công cụ duy trì trật tự và xử lý vi phạm mà còn trở thành những thiết chế nền tảng cấu thành năng lực quản trị quốc gia trong điều kiện Đảng lãnh đạo.
Từ khóa: Kỷ luật đảng, kỷ cương, pháp quyền, quản trị quốc gia, hệ thống chính trị, trong sạch, vững mạnh.
Abstract: The documents of the Party’s 14th National Congress established the guiding principles: “Unity – Democracy – Discipline – Breakthrough – Development,” in which “discipline” is placed at the center, closely linked to “Unity – Democracy” and “Breakthrough – Development.” Building on and developing the theoretical foundations of Marxism-Leninism and Ho Chi Minh’s thought, and incorporating modern theories of national governance, this article systematically analyzes the Party’s views on strengthening Party discipline and state discipline in the process of building a clean and strong political system. The article argues that discipline and order are not merely tools for maintaining order and addressing violations but have become foundational institutions constituting the capacity for national governance under the Party’s leadership.
Keywords: Party discipline, order, rule of law, national governance, political system, clean, strong.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh vừa là yêu cầu nội tại của Đảng, vừa là điều kiện bảo đảm để Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương đã tạo ra nhiều chuyển biến quan trọng về hiệu lực lãnh đạo, hiệu quả quản lý; đồng thời, góp phần củng cố niềm tin xã hội. Trên nền tảng đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh “kỷ cương” như một nội dung trung tâm trong phương châm hành động và đặt yêu cầu siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong mối liên hệ trực tiếp với nâng cao năng lực quản trị quốc gia.
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, vấn đề kỷ luật và kỷ cương nhiều khi vẫn được tiếp cận như những công cụ mang tính chế tài nhằm xử lý vi phạm, trong khi chưa được phân tích đầy đủ như một thiết chế nền tảng cấu thành năng lực quản trị quốc gia trong điều kiện một Đảng lãnh đạo. Bài viết tập trung trả lời các câu hỏi: (1) Kỷ luật Đảng và kỷ cương được Đại hội XIV của Đảng định vị như thế nào trong tổng thể yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh? (2) Cấu trúc thể chế và logic kiểm soát quyền lực của hai yếu tố này vận hành ra sao trong hệ thống chính trị Việt Nam? Và (3) những hàm ý chính sách – quản trị đặt ra để bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trở thành động lực nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị?
Về mục tiêu, làm rõ cơ sở lý luận của kỷ luật, kỷ cương và kiểm soát quyền lực; phân tích có hệ thống các quan điểm về tăng cường kỷ luật, kỷ cương; nhận diện cấu trúc thể chế đa tầng (trong Đảng – trong Nhà nước – từ xã hội) và luận giải một số vấn đề đặt ra, trên cơ sở đó, đề xuất nhóm giải pháp theo tiếp cận quản trị quốc gia. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích văn kiện, phân tích nguyên tắc, tổng hợp – so sánh, kết hợp tham chiếu một số khung tiếp cận quản trị tốt (good governance) trong nghiên cứu quốc tế để tăng tính đối sánh góp phần khái niệm hóa kỷ luật và kỷ cương phép nước như thiết chế cấu thành năng lực quản trị quốc gia (không chỉ là chế tài); đề xuất khung nhận diện cấu trúc kiểm soát quyền lực tích hợp ba tầng phù hợp với đặc trưng thể chế Việt Nam và gợi mở hàm ý về kỷ luật thực thi, trách nhiệm giải trình và kiểm tra – giám sát trên dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số.
2. Cơ sở lý luận về kỷ luật, kỷ cương và kiểm soát quyền lực trong quản trị quốc gia
2.1. Kỷ luật trong Đảng là nền tảng của tính thống nhất và năng lực lãnh đạo
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, kỷ luật là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự tồn tại và sức mạnh của một chính đảng cách mạng. Kỷ luật Đảng là công cụ điều chỉnh hành vi, là cơ chế tổ chức bảo đảm tính thống nhất chính trị – yếu tố cốt lõi của năng lực lãnh đạo. Một đảng thực hiện được sứ mệnh lịch sử khi được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh và thống nhất về ý chí, hành động. Lênin khẳng định: “những người Bôn‐sê‐vích sẽ không giữ vững được chính quyền, tôi không nói được tới hai năm rưỡi, mà ngay cả đến hai tháng rưỡi cũng không được nữa, nếu đảng ta không có kỷ luật hết sức nghiêm minh, kỷ luật sắt thật sự”1. Bởi lẽ: “Kẻ nào làm yếu ‐ dù chỉ là chút ít ‐ kỷ luật sắt trong Đảng của giai cấp vô sản là thực tế giúp cho giai cấp tư sản chống lại giai cấp vô sản”2.
Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển quan điểm này khi nhấn mạnh tính tự giác của kỷ luật. Người chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác. Các đồng chí chúng ta cần phải ra sức giữ gìn kỷ luật của Đảng”3. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng viên chẳng những phải giữ kỷ luật sắt, kỷ luật tự giác của Đảng mà còn phải gìn giữ kỷ luật chính quyền, của cơ quan, đoàn thể cách mạng, của Nhân dân”4.
Đảng luôn nhấn mạnh yêu cầu xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; có chế tài để phòng ngừa, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm kỷ luật đảng5, coi đây là giải pháp trọng tâm để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và tiếp tục được phát triển theo hướng gắn trực tiếp với nâng cao năng lực cầm quyền và năng lực quản trị quốc gia.
Đảng đề ra các quy định, nguyên tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi của tổ chức đảng và đảng viên, bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng. Kỷ luật đảng mang tính chính trị, tư tưởng và tổ chức sâu sắc, thể hiện ở việc tuân thủ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của Đảng. Không chỉ dừng lại ở tính cưỡng chế mà còn gắn với tính tự giác, tính nêu gương, ý thức trách nhiệm và đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. Qua đó, tác động đến chất lượng hoạch định và tổ chức thực thi đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
2.2. Pháp quyền và kỷ cương là nền tảng của tính hợp pháp và hiệu lực quản lý
Kỷ cương được hiểu là trạng thái xã hội trong đó, pháp luật được tôn trọng và thực thi nghiêm minh, mọi chủ thể trong xã hội, đặc biệt là các cơ quan công quyền và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Kỷ cương gắn liền với nguyên tắc thượng tôn pháp luật, bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Đây là biểu hiện trực tiếp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nơi quyền lực nhà nước được phân công, phối hợp và kiểm soát hiệu quả nhằm phục vụ Nhân dân và bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Ở Việt Nam, quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xác lập nhất quán và ngày càng hoàn thiện. Điều 8 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Điều này thể hiện sự chuyển dịch từ quản lý hành chính thuần túy sang quản trị phát triển dựa trên pháp luật kiến tạo, trong đó, kỷ cương phép nước trở thành điều kiện bảo đảm cho tính ổn định và tính dự đoán được của hệ thống thể chế.
Trong điều kiện một Đảng cầm quyền, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước được xác lập theo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Theo đó, yêu cầu đặt ra là Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Khoản 3 Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Đây là nguyên tắc nền tảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bảo đảm sự thống nhất giữa kỷ luật và kỷ cương.
2.3. Kiểm soát quyền lực trong quản trị quốc gia hiện đại
Một trong những nội dung trung tâm của lý luận quản trị quốc gia hiện đại là kiểm soát quyền lực nhằm hạn chế lạm quyền, bảo đảm trách nhiệm giải trình và nâng cao hiệu quả quản trị. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank), ba trong sáu chiều cạnh đánh giá chỉ số quản trị toàn cầu đó là: pháp quyền, kiểm soát tham nhũng và hiệu quả chính phủ. Trong khi đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) nhấn mạnh các nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm giải trình và liêm chính như các trụ cột chính của quản trị công.
Về mặt lý thuyết, kiểm soát quyền lực được thực hiện thông qua nhiều cơ chế khác nhau, có thể khái quát thành ba nhóm: kiểm soát nội bộ trong hệ thống chính trị; kiểm soát thể chế thông qua pháp luật và các thiết chế nhà nước; và kiểm soát xã hội thông qua sự tham gia của người dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể và các tổ chức xã hội.
Đối với Việt Nam, việc kiểm soát quyền lực được thực hiện thông qua sự kết hợp của nhiều cơ chế; trong đó, kỷ cương đóng vai trò trụ cột. Mọi quyền lực phải được kiểm soát. Mọi trách nhiệm phải được minh định. Mọi sai phạm phải bị xử lý và mọi nỗ lực chân chính vì dân, vì nước phải được ghi nhận, bảo vệ. Đây là định hướng có tính chiến lược, vừa phù hợp với các chuẩn mực quản trị hiện đại, vừa phù hợp với thực tiễn thể chế chính trị của Việt Nam.
2.4. Mối quan hệ giữa kỷ luật với kỷ cương trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả
Kỷ luật đảng tác động tới động cơ, thái độ, chuẩn mực đạo đức và hành vi chính trị của cán bộ, đảng viên, bảo đảm tính thống nhất và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Kỷ cương tác động đến hành vi pháp lý, quy trình, kết quả quản lý hành chính, bảo đảm tính hợp pháp và hiệu lực quản lý nhà nước, quản trị quốc gia. Kỷ luật Đảng nâng cao ý thức pháp luật. Kỷ cương củng cố uy tín, tính chính danh của Đảng. Kiểm soát xã hội bổ sung cơ chế giám sát từ bên ngoài hệ thống quyền lực. Sự kết hợp của ba yếu tố này tạo nên một cấu trúc quản trị tích hợp, trong đó quyền lực được tổ chức, thực thi và kiểm soát một cách đồng bộ phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Kỷ luật Đảng là tiền đề bảo đảm kỷ cương phép nước, bởi lẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên chính là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong bộ máy nhà nước. Khi kỷ luật được thực thi nghiêm túc, đội ngũ này sẽ gương mẫu trong chấp hành pháp luật, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Ngược lại, kỷ cương phép nước tạo môi trường thể chế để củng cố và hiện thực hóa tính kỷ luật, thông qua các cơ chế pháp lý về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xử lý vi phạm.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã có bước phát triển quan trọng trong nhận thức và định hướng về mối quan hệ này. Đảng nhấn mạnh yêu cầu phải “siết chặt kỷ luật, kỷ cương”, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát trong khuôn khổ và mọi hành vi vi phạm đều phải bị xử lý kịp thời, nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật, coi đây là một trong những giải pháp trọng tâm để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, Đại hội đề cao vai trò của công tác kiểm tra, giám sát gắn với việc hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực nhà nước, qua đó tạo ra cơ chế đồng bộ giữa kiểm soát trong Đảng và kiểm soát bằng pháp luật. Điều này cho thấy cách tiếp cận ngày càng toàn diện, hiện đại của Đảng trong quản trị quốc gia, phù hợp với xu hướng quốc tế về tăng cường trách nhiệm giải trình và quản trị tốt. Khi đó, kỷ luật và kỷ cương không những là công cụ kiểm soát mà còn là các thiết kế cấu thành năng lực quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả trong điều kiện một Đảng lãnh đạo, cầm quyền.
2. Quan điểm của Đảng về tăng cường kỷ luật đảng, kỷ cương
Kỷ luật là phương châm hành động. Đại hội XIV xác định rõ tinh thần “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, trong đó “kỷ cương” được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với dân chủ và phát triển, gắn kết chặt chẽ với “Đoàn kết – Dân chủ” và “Đột phá – Phát triển”. Kỷ cương là giới hạn để dân chủ không rơi vào tự do vô chính phủ và là nền tảng để đoàn kết không trở thành xuôi chiều, mị dân. Đại hội cũng xác định “Đột phá” và “Phát triển” cần được hiện thực hóa dựa trên một hệ thống kỷ luật, kỷ cương nghiêm minh. Việc đặt kỷ cương vào trung tâm phương châm hành động cho thấy quyết tâm của Đảng trong việc chuyển đổi phương thức lãnh đạo từ quản lý dựa trên mệnh lệnh sang quản trị dựa trên quy tắc và chuẩn mực pháp lý.
Xây dựng “đội ngũ tiên phong” trong sạch, vững mạnh.Kỷ luật Đảng là kỷ luật tự giác nhưng mang tính cưỡng chế đối với mọi đảng viên. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh việc siết chặt kỷ luật không chỉ để “trừng phạt” sai phạm mà còn để “thanh lọc”, làm trong sạch đội ngũ và “củng cố” sức mạnh, sức chiến đấu của Đảng.
Nội dung đổi mới kỷ luật tập trung vào việc giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đảng mạnh là vì có kỷ luật nghiêm, đạo đức cách mạng, tinh thần phụng sự. Quán triệt quan điểm: “Kỷ luật của Đảng phải đi trước. Kỷ cương phép nước phải nghiêm.”6. Đại hội cũng quán triệt thực hiện: “Nói đi đôi với làm, làm đến cùng”, lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân là thước đo uy tín và danh dự của cán bộ.
Nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát. Công tác kiểm tra, giám sát được xác định là chức năng lãnh đạo, nhiệm vụ thường xuyên và để giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng; yêu cầu chuyển trọng tâm sang giám sát thường xuyên, “kiểm tra trên dữ liệu” chủ động phát hiện vi phạm từ sớm, từ xa, ngay từ lúc mới manh nha để ngăn chặn hậu quả lớn.
Siết chặt kỷ luật và kỷ cương. Trong quản trị quốc gia, kỷ cương là hiện thân của tính thượng tôn của Hiến pháp và pháp luật. Đảng định hướng xây dựng một nền kỷ cương hành chính chuyên nghiệp và liêm chính.
Một trong những quan điểm mới là đẩy nhanh việc thể chế hóa các chủ trương, quy định của Đảng thành pháp luật của Nhà nước để bảo đảm tính thống nhất, tránh tình trạng “trên nóng dưới lạnh”, “quyết sách đúng nhưng thực thi chậm”, gây lãng phí nguồn lực, làm giảm niềm tin của Nhân dân. Các nội dung của Văn kiện được cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch với mục tiêu rõ ràng, chỉ tiêu đo lường được, thời hạn và phân công trách nhiệm cụ thể; mọi việc phải có người chịu trách nhiệm đến cùng. Phải xây dựng kỷ luật pháp quyền, kỷ luật thực thi, kỷ luật công vụ và trách nhiệm giải trình. Đại hội yêu cầu siết chặt kỷ cương trong thực thi công vụ, khắc phục triệt để tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Mỗi vị trí việc làm trong bộ máy nhà nước phải gắn liền với một cơ chế trách nhiệm giải trình rõ ràng, minh bạch. Mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế: quyền lực đến đâu, trách nhiệm đến đó; quyền lực càng cao, trách nhiệm càng lớn.
Công tác cán bộ là “then chốt của then chốt” trong thực thi kỷ luật, kỷ cương.Dưới góc độ quản trị nhân lực công, kỷ luật hay kỷ cương đều do con người thực hiện. Đảng xác định công tác cán bộ là mắt xích quyết định: “Chọn đúng người, giao đúng việc; đánh giá cán bộ bằng sản phẩm, bằng hiệu quả, bằng uy tín trong Nhân dân. Thực hiện phương châm: “có vào, có ra, có lên, có xuống”, kết hợp nghiêm minh kỷ luật với cơ chế bảo vệ hiệu quả cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; không để những phần tử “cơ hội”, “chạy chức, chạy quyền” len lỏi vào tổ chức, bộ máy trong hệ thống chính trị”7. Những cán bộ không đủ năng lực, thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm kỷ luật phải được thay thế kịp thời, không chờ hết nhiệm kỳ hay đến tuổi nghỉ hưu. Đảng chỉ rõ: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa; giữ mình trước cám dỗ; phải biết xấu hổ khi dân còn khó khăn, nghèo đói; phải coi danh dự là điều thiêng liêng, cao quý; coi liêm chính là phẩm chất nền tảng của đạo đức công vụ”8.
Phát huy vai trò giám sát của Nhân dân là thước đo khách quan của kỷ cương, phép nước. Đảng tiếp tục khẳng định phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kỷ luật đảng và kỷ cương phép nước không thể thực chất nếu thiếu sự soi xét, giám sát của Nhân dân. Đại hội yêu cầu hoàn thiện cơ chế để Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội giám sát việc tuân thủ kỷ luật của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp làm thước đo cao nhất để đánh giá cán bộ và hiệu quả của hệ thống chính trị. Đây là tư duy quản trị lấy người dân làm trung tâm, chuyển từ tư duy “ban ơn” sang “phục vụ”, từ đó buộc bộ máy phải tự điều chỉnh để giữ nghiêm kỷ cương.
Tổng hợp các quan điểm, tư duy lý luận của Đảng đã có bước phát triển quan trọng trong nhận thức về vai trò của kỷ luật và kỷ cương. Nếu như trước đây, kỷ luật và kỷ cương thường được tiếp cận chủ yếu như công cụ duy trì trật tự và xử lý vi phạm, thì đến Đại hội XIV của Đảng, đã được đặt trong một tầm nhìn rộng hơn – như những thiết chế cấu thành của năng lực quản trị quốc gia hiện đại. Cụ thể, kỷ luật bảo đảm tính thống nhất và năng lực lãnh đạo chính trị; kỷ cương bảo đảm tính hợp pháp và hiệu lực của quản lý nhà nước; trong khi kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình tạo nên cơ chế vận hành minh bạch và hiệu quả của hệ thống. Sự kết hợp này hình thành nên một cấu trúc quản trị tích hợp, phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong điều kiện một Đảng lãnh đạo, cầm quyền.
3. Cấu trúc thể chế của kỷ luật, kỷ cương trong hệ thống chính trị Việt Nam
Trên cơ sở các quan điểm của Đảng và khung lý luận đã trình bày, có thể nhận diện kỷ luật và kỷ cương không tồn tại như những yếu tố rời rạc mà được cấu trúc thành một hệ thống thể chế đa tầng, vận hành theo logic kiểm soát quyền lực tích hợp. Cấu trúc này phản ánh đặc trưng của mô hình chính trị Việt Nam – một đảng lãnh đạo, trong đó quyền lực được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất nhưng được kiểm soát thông qua nhiều cơ chế khác nhau. Và có thể khái quát cấu trúc này trên ba phương diện: kiểm soát quyền lực trong Đảng; kiểm soát quyền lực trong Nhà nước và kiểm soát quyền lực từ xã hội.
3.1. Kiểm soát quyền lực trong Đảng, nền tảng chính trị của kỷ luật
Kiểm soát quyền lực trong Đảng giữ vai trò nền tảng trong toàn bộ cấu trúc thể chế. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo, cầm quyền duy nhất; kỷ luật nội bộ vừa là yêu cầu tổ chức vừa là điều kiện bảo đảm tính chính danh và năng lực cầm quyền. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng được thực hiện thông qua các thiết chế và nguyên tắc, như: công tác kiểm tra, giám sát; thi hành kỷ luật đảng; nguyên tắc tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình; trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Những cơ chế này tạo thành một hệ thống kiểm soát nội tại, vừa mang tính tổ chức, vừa mang tính chính trị, đạo đức.
Điểm đáng chú ý là trong những năm gần đây, cơ chế này đã chuyển từ tính hình thức sang tính chất thực chất, thể hiện qua việc xử lý nghiêm minh “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Bất kỳ trường hợp nào vi phạm cũng đều bị xử lý, kể cả cán bộ cấp cao. Điều này góp phần củng cố, bảo đảm và tăng cường niềm tin của xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế này vẫn phụ thuộc lớn vào tính tự giác và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, cũng như chất lượng hoạt động của các cơ quan kiểm tra, giám sát của Đảng. Kiểm soát quyền lực trong Đảng giữ vai trò định hướng và chi phối các phương diện kiểm soát quyền lực trong Nhà nước và kiểm soát quyền lực trong xã hội.
3.2. Kiểm soát quyền lực trong Nhà nước, thiết chế pháp quyền bảo đảm tính hợp pháp và hiệu lực
Kiểm soát quyền lực trong Nhà nước là nơi các chuẩn mực chính trị được thể chế hóa thành các quy định pháp luật và được thực thi thông qua bộ máy công quyền. Đây là tầng trung tâm trong việc bảo đảm kỷ cương phép nước, tạo ra khuôn khổ pháp lý cho toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước, quản trị quốc gia. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Nhà nước bao gồm: hệ thống pháp luật; cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; các thiết chế thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử và các quy định công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Các cơ chế này tạo nên một mạng lưới kiểm soát mang tính pháp lý, bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi trong khuôn khổ luật định.
Đặc trưng của mô hình Việt Nam là thực hiện nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Do đó, hiệu quả kiểm soát quyền lực phụ thuộc nhiều vào chất lượng thiết kế thể chế và mức độ tuân thủ pháp luật trong thực tiễn. Việc tăng cường kỷ cương phép nước trong tầng này đòi hỏi phải nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu lực thi hành pháp luật. Nếu thiếu các yếu tố này, quyền lực nhà nước dễ bị lạm dụng, dẫn đến suy giảm hiệu quả quản trị.
3.3. Kiểm soát quyền lực từ xã hội là cơ chế giám sát bổ sung, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình
Kiểm soát quyền lực từ xã hội, bao gồm: sự tham gia của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và báo chí trong giám sát hoạt động của hệ thống chính trị. Đây là yếu tố ngày càng được coi trọng trong quản trị hiện đại nhằm bổ sung cho các cơ chế kiểm soát nội bộ và thể chế. Cơ chế này được thực hiện thông qua các hình thức, như: giám sát của Nhân dân; phản biện xã hội; tiếp cận thông tin; và vai trò của báo chí trong phát hiện, phản ánh các sai phạm. Về mặt lý luận, đây chính là biểu hiện của “trách nhiệm giải trình xã hội”. Cơ chế này góp phần phát hiện sớm các sai phạm, hạn chế lạm quyền và nâng cao tính minh bạch của hệ thống.
Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển của công nghệ số và truyền thông, vai trò của kiểm soát xã hội ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế này vẫn còn hạn chế do các yếu tố như mức độ minh bạch thông tin, khả năng tiếp cận thông tin của người dân và tính thể chế hóa của các cơ chế giám sát.
3.4. Tính tích hợp của cấu trúc thể chế: đặc trưng của mô hình quản trị Việt Nam
Điểm đặc sắc trong cấu trúc thể chế của kỷ luật, kỷ cương là tính tích hợp giữa ba tầng kiểm soát quyền lực. Không giống các mô hình quản trị dựa chủ yếu vào phân quyền đối trọng, mô hình Việt Nam kết hợp đồng thời kiểm soát chính trị (trong Đảng), kiểm soát pháp lý (trong Nhà nước) và kiểm soát xã hội (từ Nhân dân). Sự kết hợp này tạo nên một cấu trúc kiểm soát đa chiều, trong đó các tầng vừa có tính độc lập tương đối, vừa bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Khi một tầng kiểm soát có hạn chế, các tầng khác có thể đóng vai trò bù đắp, góp phần bảo đảm tính ổn định và hiệu quả của hệ thống. Từ góc độ lý luận quản trị, có thể khẳng định, kỷ luật, kỷ cương không chỉ là các công cụ riêng lẻ mà là các thành tố cấu thành một hệ thống kiểm soát quyền lực tích hợp, qua đó hình thành nền tảng của năng lực quản trị quốc gia trong điều kiện một Đảng cầm quyền.
4. Thực tiễn triển khai và những vấn đề đặt ra
Trong thời gian qua, việc triển khai các chủ trương của Đảng về tăng cường kỷ luật, kỷ cương đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và củng cố niềm tin của Nhân dân.
Thứ nhất, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh với quyết tâm chính trị cao và cách làm ngày càng bài bản, đồng bộ. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường với nhiều vụ việc vi phạm được phát hiện và xử lý nghiêm minh, kể cả đối với cán bộ cấp cao. Theo báo cáo của Ban Nội chính Trung ương, trong giai đoạn 2021-2025, các cấp ủy, tổ chức đảng đã thi hành kỷ luật hàng chục nghìn đảng viên, trong đó có nhiều cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý. Riêng nhiệm kỳ Đại hội XIII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật hơn 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý. Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, đã kỷ luật 17.808 công chức, viên chức; cho nghỉ việc, thôi việc 10.880 người; cho từ chức, miễn nhiệm, thôi giữ chức vụ đối với 94 cán bộ diện trung ương quản lý, trong đó có 7 ủy viên Bộ Chính trị, 1 ủy viên Ban Bí thư và 18 ủy viên Trung ương Đảng; có cả lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và trên 1.000 cán bộ diện ban thường vụ, ủy viên ban chấp hành cấp ủy cấp tỉnh8.
Thứ hai, kỷ cương được tăng cường thông qua việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật. Nhiều luật, nghị định, quy định mới được ban hành nhằm siết chặt kỷ luật hành chính, nâng cao trách nhiệm của cơ quan công quyền và cán bộ, công chức. Hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế được đẩy mạnh, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Thứ ba, cơ chế kiểm soát quyền lực từng bước được hoàn thiện, đặc biệt trong công tác cán bộ. Các quy định về kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền được ban hành và triển khai, góp phần hạn chế tình trạng lạm quyền và tha hóa quyền lực. Đây là bước tiến quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng về kiểm soát quyền lực.
Thứ tư, vai trò giám sát của xã hội ngày càng được phát huy. Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội tham gia tích cực hơn vào việc giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Báo chí và truyền thông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện, phản ánh các sai phạm, góp phần tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Tổng thể, các kết quả trên cho thấy, kỷ luật, kỷ cương không chỉ được tăng cường về mặt hình thức mà còn đã có những chuyển biến thực chất, tác động tích cực đến chất lượng quản trị quốc gia. Tuy nhiên, còn có một số hạn chế, bất cập từ việc thực thi kỷ luật, kỷ cương chưa đồng đều giữa các cấp, các ngành và địa phương. Tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” vẫn tồn tại, thể hiện ở việc một số nơi còn buông lỏng quản lý, chậm phát hiện và xử lý vi phạm. Vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật Nhà nước vẫn xảy ra với tính chất phức tạp. Một số vụ việc có quy mô lớn, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, kéo dài qua nhiều năm mới được phát hiện và xử lý. Điều này cho thấy, cơ chế phòng ngừa chưa thực sự hiệu quả. Cơ chế kiểm soát quyền lực tuy đã được thiết lập nhưng chưa hoàn thiện và đồng bộ. Một số quy định còn chồng chéo, thiếu tính khả thi; việc phân định trách nhiệm giữa các cơ quan chưa rõ ràng, dẫn đến khoảng trống hoặc trùng lặp trong kiểm soát. Cơ chế kiểm soát từ xã hội còn hạn chế. Việc công khai, minh bạch thông tin chưa đầy đủ; vai trò giám sát của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội ở một số nơi còn mang tính hình thức.
Các hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Có thể khái quát thành 3 nhóm chính: (1) Thể chế, hệ thống pháp luật và các quy định kiểm soát quyền lực chưa hoàn toàn đồng bộ, còn khoảng trống trong một số lĩnh vực mới. (2) Tổ chức thực thi, năng lực và ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế. Công tác kiểm tra, giám sát ở một số nơi chưa chủ động, chưa phát hiện kịp thời các vi phạm. (3) Văn hóa quản trị vẫn tồn tại tâm lý nể nang, né tránh, làm giảm hiệu lực của kỷ luật và kỷ cương.
Trong bối cảnh mới, việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương đứng trước nhiều yêu cầu và thách thức mới. Yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực theo hướng đồng bộ, minh bạch và hiệu quả hơn, phù hợp với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là năng lực thực thi và ý thức trách nhiệm. Đây là yếu tố quyết định đối với việc bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong thực tiễn. Tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình trong bối cảnh chuyển đổi số. Công nghệ số vừa tạo cơ hội, vừa đặt ra thách thức mới đối với việc kiểm soát quyền lực. Phát huy vai trò giám sát của xã hội một cách thực chất hơn, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân trong kiểm soát quyền lực.
5. Giải pháp tăng cường kỷ luật, kỷ cương từ góc độ quản trị quốc gia
(1) Nhóm giải pháp về quản trị, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực theo hướng tích hợp, hiệu quả.
Cần hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực theo hướng tích hợp ba tầng: trong Đảng, trong Nhà nước và từ xã hội. Việc này đòi hỏi việc xác lập rõ ràng chức năng, thẩm quyền và mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể kiểm soát, tránh chồng chéo hoặc bỏ trống. Tăng cường liên thông giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán và các cơ quan tư pháp, hình thành chu trình kiểm soát khép kín từ phòng ngừa – phát hiện – xử lý. Đồng thời, chuyển mạnh từ kiểm soát mang tính phản ứng sang kiểm soát chủ động thông qua việc thiết lập các cơ chế cảnh báo sớm đối với nguy cơ vi phạm. Đặc biệt, phải coi trách nhiệm giải trình là trụ cột của quản trị hiện đại. Mọi quyết định công vụ cần được đặt trong khuôn khổ có thể giải trình, kiểm chứng và giám sát.
(2) Nhóm giải pháp về thể chế, hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo đảm kỷ cương.
Về thể chế, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch và khả thi, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, bảo đảm tính thống nhất và tránh chồng chéo. Trọng tâm là cụ thể hóa trách nhiệm của người đứng đầu, thiết lập cơ chế xử lý trách nhiệm rõ ràng khi để xảy ra vi phạm trong phạm vi quản lý. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước theo nguyên tắc quyền lực thống nhất nhưng có kiểm soát hiệu quả. Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật, bảo đảm mọi vi phạm đều được xử lý kịp thời, nghiêm minh. Tính nghiêm minh của pháp luật chính là yếu tố cốt lõi của kỷ cương phép nước.
(3) Nhóm giải pháp về con người, xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, trách nhiệm.
Yếu tố con người giữ vai trò quyết định trong việc thực thi kỷ luật và kỷ cương. Do đó, cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, bảo đảm công khai, minh bạch, chống chạy chức, chạy quyền. Tiếp đó, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, coi đây là yếu tố dẫn dắt văn hóa kỷ luật trong hệ thống. Đồng thời, đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng dựa trên kết quả thực thi nhiệm vụ và mức độ tuân thủ kỷ luật, pháp luật. Việc xử lý vi phạm cần bảo đảm tính nghiêm minh, công bằng, không có ngoại lệ, qua đó hình thành chuẩn mực hành vi công vụ. Cần bảo đảm cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung và động lực để cán bộ, công chức an tâm “được làm, muốn làm, dám làm” dấn thân vì nước, vì dân.
(4) Nhóm giải pháp về công nghệ thúc đẩy chuyển đổi số để tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, công nghệ trở thành công cụ quan trọng để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực. Do đó, cần đẩy mạnh xây dựng chính phủ số; trong đó, các quy trình quản lý được số hóa, công khai và dễ truy vết. Việc ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo cho phép phát hiện và cảnh báo sớm các dấu hiệu bất thường trong hoạt động công vụ, hỗ trợ cơ quan chức năng trong phòng ngừa vi phạm. Ngoài ra, cần mở rộng các nền tảng tương tác giữa chính quyền và người dân, tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát, phản ánh và đánh giá hoạt động của cơ quan công quyền. Đây là một trong những biểu hiện cụ thể của cơ chế “trách nhiệm giải trình xã hội” trong điều kiện số.
6. Kết luận
Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng quản trị quốc gia, việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương phép nước là một nhiệm vụ chính trị mang tính thường xuyên nhưng cũng là yêu cầu có tính chiến lược đối với việc bảo đảm sự vận hành hiệu lực, hiệu quả và chính danh của toàn bộ hệ thống chính trị.
Theo quan điểm Đại hội XIV của Đảng, kỷ luật, kỷ cương được đặt trong một tầm nhìn rộng hơn so với cách tiếp cận thuần túy chế tài: đó là các thiết chế nền tảng góp phần cấu thành năng lực quản trị quốc gia hiện đại. Trên phương diện thể chế, hai yếu tố này vận hành trong một cấu trúc kiểm soát quyền lực tích hợp ba tầng (trong Đảng – trong Nhà nước – từ xã hội), trong đó kỷ luật đóng vai trò định hướng, kỷ cương bảo đảm khuôn khổ pháp lý và hiệu lực quản lý nhà nước, quản trị quốc gia, còn giám sát xã hội bổ sung cơ chế minh bạch và trách nhiệm giải trình. Sự tích hợp này phản ánh đặc trưng của mô hình chính trị Việt Nam – quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có phân công, phối hợp và kiểm soát, đồng thời đáp ứng yêu cầu tăng cường liêm chính và hiệu quả công vụ.
Cần tiếp tục thể chế hóa đồng bộ chủ trương của Đảng thành pháp luật, gắn “siết chặt kỷ luật, kỷ cương” với chuẩn hóa kỷ luật thực thi, kỷ luật công vụ và cơ chế giải trình; tăng cường liên thông giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán và cơ quan tư pháp theo hướng hình thành chu trình kiểm soát khép kín phòng ngừa – phát hiện – xử lý; thúc đẩy kiểm tra, giám sát trên dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số để nâng cao năng lực cảnh báo sớm, hạn chế “trên nóng, dưới lạnh”; và phát huy thực chất cơ chế giám sát, phản biện xã hội, lấy mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo chất lượng phục vụ.
Chú thích:
1, 2. V.I.Lênin toàn tập (1979). Tập 41. Matxcơva. NXB Tiến Bộ, tr. 6, 34.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 17.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 8. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 51.
5, 6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 41, 41.
7, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 34, 35.
Tài liệu tham khảo:
1. Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
2. OECD. Directorate for Public Governance and Territorial Development, “Principal Elements of Good Governance”. http://www.oecd.org/governance/regulatory-policy/irc.htm.
3. World Bank (2023). Worldwide Governance Indicators 2023. https://info.worldbank.org/governance/wgi.
4. Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc tổng kết phòng, chống tham nhũng… https://tuoitre.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-hoi-nghi-toan-quoc-tong-ket-phong-chong-tham-nhung-20251223143212296.htm.



