Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Enhancing the effectiveness of state management of social security in accordance with the spirit of the Party’s 14th National Congress Resolution

TS. Nguyễn Thị Thu Hà
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – An sinh xã hội là một trong những trụ cột của phát triển bền vững, đồng thời là công cụ quan trọng để bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm phát triển con người toàn diện, xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, toàn diện và bền vững, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả của phát triển. Bài viết phân tích những định hướng lớn của Văn kiện Đại hội XIV liên quan đến chính sách an sinh xã hội; đồng thời, làm rõ vai trò của quản lý nhà nước trong tổ chức thực hiện các chính sách này. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: An sinh xã hội; quản lý nhà nước; Đại hội XIV của Đảng; chính sách xã hội; phát triển bao trùm.

Abstract: Social security is one of the pillars of sustainable development and an important tool for ensuring social progress and equity in the process of economic development. The documents of the Party’s 14th National Congress reaffirm the principle of comprehensive human development and the establishment of a multi-tiered, comprehensive, and sustainable social security system, ensuring that all citizens benefit from the fruits of development. This article analyzes the major orientations of the 14th Party Congress Document regarding social security policies and clarifies the role of state management in organizing the implementation of these policies. Based on this, the article proposes several practical directions to enhance the effectiveness of state management in social security in Vietnam during the current phase.

Keywords: Social security; state management; the 14th Party Congress; social policies; inclusive development.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, an sinh xã hội luôn được xem là một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm sự ổn định xã hội và phát triển bền vững. Đối với Việt Nam, xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược nhằm bảo đảm quyền lợi cơ bản của người dân, giảm thiểu rủi ro xã hội và thúc đẩy phát triển bao trùm.

Tại Việt Nam, quan điểm phát triển an sinh xã hội luôn được Đảng khẳng định trong các kỳ Đại hội. Văn kiện Đại hội XIII và tiếp tục được nhấn mạnh trong định hướng của Đại hội XIV: phát triển kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, hiện đại, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều biến động của kinh tế toàn cầu, già hóa dân số, biến đổi khí hậu và chuyển đổi số, việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV trở thành yêu cầu cấp thiết.

2. Quan điểm của Đảng về an sinh xã hội

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán quan điểm phát triển gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, trong đó an sinh xã hội được xác định là một trong những trụ cột quan trọng của phát triển bền vững.

Theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, hệ thống an sinh xã hội cần được thiết kế theo hướng toàn diện, bao trùm và lấy con người làm trung tâm, bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu có chất lượng. Trong đó, cần đặc biệt ưu tiên các đối tượng chính sách, các nhóm yếu thế trong xã hội, người lao động trong khu vực phi chính thức, đồng thời mở rộng các chương trình tín dụng chính sách xã hội phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của đất nước, hướng tới mục tiêu phát triển bao trùm với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Bên cạnh đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng đặt ra yêu cầu phát triển toàn diện các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến an sinh xã hội. Trong lĩnh vực y tế, Đảng xác định cần xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả và bền vững, chú trọng nâng cao chất lượng phòng bệnh, khám và chữa bệnh, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh và triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển. Đồng thời, cần nâng cao chất lượng và hiệu quả mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế từ trung ương đến cơ sở nhằm đáp ứng sự thay đổi của mô hình bệnh tật và thực hiện mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, trong đó mọi người dân được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu có chất lượng và được khám sức khỏe miễn phí ít nhất mỗi năm một lần.

Đại hội XIV của Đảng cũng đặt ra các mục tiêu quan trọng trong lĩnh vực bảo đảm phúc lợi xã hội như phấn đấu đến năm 2030 cơ bản không còn hộ nghèo và từng bước thực hiện mục tiêu cơ bản miễn viện phí toàn dân. Đồng thời, cần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, nâng cao chất lượng dinh dưỡng cho người dân, đặc biệt ở các vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế trong xã hội. Việc tăng cường kiểm soát và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm cũng được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Ngoài ra, Văn kiện Đại hội XIV cũng nhấn mạnh yêu cầu thực hiện tốt các chính sách đối với người có công, bảo đảm mức sống của gia đình người có công từ mức trung bình khá trở lên so với cộng đồng nơi cư trú; thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội; tăng cường chăm sóc, bảo vệ người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo nhằm bảo đảm sự phát triển hài hòa và ổn định xã hội.

2.1. Phát triển con người là trung tâm của chiến lược phát triển

Một trong những điểm nhấn quan trọng trong quan điểm của Đảng tại Đại hội XIV là tiếp tục khẳng định phát triển con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Theo đó, mọi chính sách phát triển kinh tế – xã hội đều phải hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và bảo đảm các quyền cơ bản của con người.

Trong bối cảnh đó, chính sách an sinh xã hội được xem là công cụ quan trọng nhằm bảo đảm mọi người dân được thụ hưởng thành quả của quá trình tăng trưởng kinh tế, đồng thời góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nhóm dân cư và các vùng miền.

Quan điểm này đã được Đảng xác định từ sớm và thể hiện rõ trong Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống chính sách xã hội toàn diện, hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đến Đại hội XIV của Đảng, quan điểm này tiếp tục được phát triển theo hướng xây dựng hệ thống chính sách xã hội đồng bộ, toàn diện và hiện đại, trong đó an sinh xã hội đóng vai trò nền tảng trong chiến lược phát triển bền vững của đất nước.

2.2. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bền vững

Một định hướng quan trọng khác được Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh là xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt và bền vững, phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống an sinh xã hội đa tầng bao gồm nhiều trụ cột khác nhau nhằm bảo đảm sự hỗ trợ toàn diện đối với người dân, trong đó các chính sách chủ yếu bao gồm: bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; bảo hiểm thất nghiệp; trợ giúp xã hội; chính sách giảm nghèo; chính sách việc làm.

Việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội theo mô hình đa tầng không chỉ giúp mở rộng phạm vi bảo vệ xã hội mà còn tạo ra sự linh hoạt trong việc ứng phó với các rủi ro kinh tế – xã hội, đặc biệt trong bối cảnh già hóa dân số, biến động của thị trường lao động và những tác động của toàn cầu hóa. Quan điểm này cũng phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới chính sách xã hội, trong đó xác định cần xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, thích ứng với những biến đổi của thị trường lao động và cơ cấu dân số trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

2.3. Hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả quản lý an sinh xã hội

Bên cạnh việc xác định mục tiêu và định hướng phát triển hệ thống an sinh xã hội, Văn kiện Đại hội XIV cũng nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực an sinh xã hội.

Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là các quy định về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội nhằm bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả trong thực thi. Đồng thời, cần tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý và phân bổ nguồn lực cho các chương trình an sinh xã hội.

Một nội dung quan trọng khác là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý chính sách xã hội, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về an sinh xã hội và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội.

3. Thực trạng hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2023–2025

Những năm gần đây, hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam tiếp tục được củng cố và phát triển theo hướng toàn diện, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Việc triển khai đồng bộ các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, giảm nghèo bền vững và phát triển dịch vụ xã hội cơ bản đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong việc bảo vệ và hỗ trợ các nhóm dân cư trước các rủi ro kinh tế – xã hội.

3.1. Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế

Một trong những thành tựu nổi bật của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn 2023-2025 là sự mở rộng đáng kể diện bao phủ của các chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế.

Theo số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, năm 2024 có khoảng 18,3 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tương đương khoảng 39% lực lượng lao động trong độ tuổi. Đến năm 2025, số người tham gia bảo hiểm xã hội tăng lên 21,53 triệu người, cho thấy xu hướng mở rộng diện bao phủ của hệ thống bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế1.

Bên cạnh đó, bảo hiểm y tế tiếp tục được mở rộng mạnh mẽ, tiến gần mục tiêu bao phủ toàn dân. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 93,3% dân số vào năm 2023 và tăng lên khoảng 95,16% dân số vào năm 20252. Việc mở rộng diện bao phủ bảo hiểm y tế đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân và giảm thiểu gánh nặng chi phí y tế cho các hộ gia đình.

Cùng với việc mở rộng các chương trình bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, tăng trưởng kinh tế ngày càng gắn kết chặt chẽ hơn với việc bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Nhà nước đã ưu tiên bố trí nguồn lực cho các chương trình an sinh xã hội và phát triển con người, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Trong thời gian qua, nhiều chính sách xã hội quan trọng tiếp tục được hoàn thiện và triển khai hiệu quả, bao gồm chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách đối với người có công với cách mạng và chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Các chương trình giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ với nhiều giải pháp hỗ trợ toàn diện, góp phần giảm mạnh tỷ lệ hộ nghèo đa chiều từ 4,2% năm 2022 xuống còn khoảng 1,3% vào năm 20253.

Bên cạnh đó, các chương trình bảo đảm phúc lợi xã hội cũng đạt được nhiều kết quả tích cực. Chương trình phát triển nhà ở xã hội được triển khai mạnh mẽ với mục tiêu xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội, đồng thời Quỹ nhà ở quốc gia được thành lập nhằm tạo thêm nguồn lực cho chính sách nhà ở. Đến tháng 9/2025, việc xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước cơ bản được hoàn thành, góp phần cải thiện điều kiện sống của nhiều hộ gia đình khó khăn.

Trong lĩnh vực trợ giúp xã hội, số người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tiếp tục được mở rộng, đạt trên 3,5 triệu người vào năm 2025, trong đó khoảng 55% là người cao tuổi. Đây là minh chứng cho sự quan tâm của Nhà nước đối với các nhóm yếu thế trong xã hội.

Hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân cũng có những bước phát triển tích cực. Chất lượng dịch vụ y tế từng bước được nâng cao, nhiều kỹ thuật và công nghệ y học tiên tiến được làm chủ, góp phần nâng cao hiệu quả khám, chữa bệnh. Việc triển khai chế độ thông tuyến khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế đã tạo thuận lợi hơn cho người dân trong tiếp cận dịch vụ y tế. Bên cạnh đó, khu vực y tế tư nhân tiếp tục phát triển, bổ sung nguồn lực quan trọng cho hệ thống y tế quốc gia.

Nhờ những nỗ lực đó, các chỉ số sức khỏe của người dân Việt Nam tiếp tục được cải thiện. Đến năm 2025, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đạt khoảng 74,8 năm, trong đó số năm sống khỏe mạnh khoảng 67 năm, phản ánh sự cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống và điều kiện chăm sóc sức khỏe của Nhân dân.

3.2. Tăng cường trợ giúp xã hội và giảm nghèo bền vững

Song song với việc phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, các chương trình trợ giúp xã hội cũng được triển khai rộng rãi nhằm hỗ trợ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương trong xã hội.

Theo thống kê, năm 2023 có khoảng 3,7 triệu người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên, chiếm khoảng 3,6% dân số cả nước. Các chương trình trợ giúp xã hội không chỉ tập trung vào hỗ trợ tài chính mà còn bao gồm các dịch vụ xã hội như chăm sóc người cao tuổi, hỗ trợ người khuyết tật, bảo vệ trẻ em và hỗ trợ các nhóm yếu thế khác4.

Trong bối cảnh dịch Covid-19, các chính sách hỗ trợ xã hội khẩn cấp đã được triển khai kịp thời, hỗ trợ hơn 68 triệu lượt người với tổng kinh phí trên 120.000 tỷ đồng. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc bảo đảm an sinh xã hội và hỗ trợ người dân vượt qua các cú sốc kinh tế – xã hội.

3.3. Những hạn chế và thách thức

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế và thách thức.

Thứ nhất, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội vẫn còn thấp so với quy mô lực lượng lao động, đặc biệt là trong khu vực lao động phi chính thức. Điều này làm hạn chế khả năng bảo vệ người lao động trước các rủi ro về thu nhập và việc làm.

Thứ hai, khoảng cách tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản giữa các vùng miền vẫn còn đáng kể, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hạ tầng giao thông, điện, nước và các dịch vụ công tại những khu vực này vẫn còn nhiều khó khăn.

Thứ ba, hệ thống dữ liệu và quản lý thông tin về an sinh xã hội chưa thực sự đồng bộ, gây khó khăn cho việc quản lý, giám sát và đánh giá hiệu quả của các chính sách xã hội. Bên cạnh đó, một số vấn đề xã hội mới phát sinh trong bối cảnh chuyển đổi số và toàn cầu hóa vẫn chưa được nhận diện đầy đủ và chưa có cơ chế xử lý kịp thời. Tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng và các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm vẫn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh con người và phúc lợi xã hội.

Thứ tư, sự phân hóa giàu – nghèo có xu hướng gia tăng, trong khi chính sách dân số và phát triển chưa theo kịp những biến động của cơ cấu dân số và thị trường lao động. Hệ thống dịch vụ y tế, đặc biệt là y tế cơ sở và y tế dự phòng, vẫn còn nhiều hạn chế về nguồn lực và năng lực phục vụ.

Những hạn chế và thách thức nêu trên đặt ra yêu cầu cần tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội, phù hợp với định hướng phát triển mà Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.

4. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về an sinh xã hội

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách an sinh xã hội.

Một trong những yêu cầu quan trọng được đặt ra trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế và chính sách an sinh xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại và phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ nhằm bảo đảm quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực an sinh xã hội.

Trong thời gian qua, hệ thống pháp luật về an sinh xã hội đã từng bước được hoàn thiện thông qua việc ban hành và sửa đổi nhiều văn bản quan trọng. Một bước tiến đáng chú ý là việc Quốc hội thông qua Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, với nhiều quy định mới nhằm mở rộng diện bao phủ của hệ thống bảo hiểm xã hội và tăng cường tính bền vững của quỹ bảo hiểm xã hội. Luật này hướng tới việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, đặc biệt đối với lao động trong khu vực phi chính thức, đồng thời,tăng cường các cơ chế bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Việc hoàn thiện thể chế pháp luật về an sinh xã hội theo tinh thần Đại hội XIV cần tiếp tục được thực hiện theo hướng xây dựng hệ thống chính sách xã hội đồng bộ, bảo đảm sự kết nối giữa các trụ cột của hệ thống an sinh xã hội như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, chính sách việc làm và giảm nghèo bền vững. Qua đó, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, toàn diện và bao trùm.

Hai là, đổi mới phương thức quản lý nhà nước về an sinh xã hội.

Theo tinh thần của Văn kiện Đại hội XIV, quản lý nhà nước về an sinh xã hội cần được đổi mới theo hướng hiện đại, chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị công hiện đại, lấy hiệu quả phục vụ người dân làm trung tâm.

Một trong những nội dung quan trọng của quá trình đổi mới này là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý và cung cấp dịch vụ an sinh xã hội. Việc xây dựng và phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo hiểm và lao động – việc làm sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, chính xác và hiệu quả trong quản lý.

Bên cạnh đó, việc kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong tiếp cận các chính sách an sinh xã hội. Chuyển đổi số trong lĩnh vực an sinh xã hội không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn giúp tăng cường khả năng giám sát, đánh giá và dự báo các rủi ro xã hội trong bối cảnh mới.

Ba là, tăng cường phân cấp và nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương.

Trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc phân cấp quản lý trong lĩnh vực an sinh xã hội cần được thực hiện rõ ràng, hợp lý và hiệu quả. Phân cấp quản lý không chỉ giúp nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương mà còn góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội tại cơ sở.

Chính quyền địa phương giữ vai trò trực tiếp trong việc triển khai các chương trình an sinh xã hội, hỗ trợ các nhóm yếu thế và bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân. Do đó, cần tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đồng thời nâng cao năng lực quản lý, giám sát và đánh giá việc thực hiện chính sách tại địa phương. Bên cạnh đó, việc tăng cường phối hợp giữa các cấp chính quyền và giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực an sinh xã hội cũng có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ và hiệu quả trong quá trình thực thi chính sách.

Bốn là, phát huy vai trò của xã hội trong bảo đảm an sinh xã hội.

Một trong những định hướng quan trọng được Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh là tăng cường xã hội hóa các hoạt động an sinh xã hội, qua đó huy động sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội vào quá trình bảo đảm phúc lợi xã hội.

Trong bối cảnh nguồn lực của Nhà nước còn hạn chế, việc phát huy vai trò của các chủ thể xã hội như doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Các doanh nghiệp có thể tham gia cung cấp dịch vụ xã hội, hỗ trợ các chương trình phúc lợi xã hội và tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động. Các tổ chức xã hội và cộng đồng cũng có thể đóng góp tích cực trong việc hỗ trợ các nhóm yếu thế và triển khai các chương trình trợ giúp xã hội.

Việc thúc đẩy các mô hình hợp tác công – tư trong cung cấp dịch vụ xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, chăm sóc người cao tuổi và trợ giúp xã hội, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng của hệ thống an sinh xã hội. Đồng thời, việc phát huy vai trò giám sát của xã hội đối với việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội cũng góp phần tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước.

5. Một số kiến nghị

Trên cơ sở phân tích quan điểm của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và thực trạng hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội trong giai đoạn tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về an sinh xã hội theo hướng đồng bộ và phù hợp với bối cảnh phát triển mới. Việc hoàn thiện thể chế cần bảo đảm tính thống nhất giữa các chính sách liên quan đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, chính sách việc làm và giảm nghèo bền vững. Đồng thời, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật nhằm mở rộng diện bao phủ của hệ thống an sinh xã hội, bảo đảm quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của mọi người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế và lao động trong khu vực phi chính thức.

Thứ hai, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong lĩnh vực quản lý an sinh xã hội. Đây là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả tổ chức thực hiện các chính sách xã hội. Do đó, cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng quản lý và năng lực ứng dụng công nghệ số cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác an sinh xã hội. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm và năng lực phục vụ nhân dân trong bối cảnh yêu cầu quản trị công ngày càng cao.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và cung cấp dịch vụ an sinh xã hội. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường tính minh bạch và giảm thiểu thủ tục hành chính trong quá trình thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Trong thời gian tới, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, đồng thời tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong tiếp cận các dịch vụ xã hội.

Thứ tư, tăng cường giám sát xã hội đối với việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Việc phát huy vai trò giám sát của các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quá trình thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Đồng thời, cần tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát, phản biện và đánh giá việc thực hiện các chính sách xã hội, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả và tính công bằng của hệ thống an sinh xã hội.

6. Kết luận

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã đề ra nhiều định hướng quan trọng đối với việc xây dựng và phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới. Những quan điểm về phát triển con người toàn diện, xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại và bao trùm, cũng như yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực an sinh xã hội đã tạo cơ sở chính trị và định hướng chiến lược cho việc hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội của đất nước.

Việc vận dụng các quan điểm và định hướng của Đảng trong quản lý nhà nước về an sinh xã hội không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách xã hội mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm phát triển bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và củng cố niềm tin của xã hội đối với hệ thống chính trị.

Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, việc tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội là yêu cầu tất yếu nhằm xây dựng một xã hội công bằng, tiến bộ và phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Ban Chấp hành Trung ương (2023). Nghị quyết số 42-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách xã hội.
3. Quốc hội (2024). Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.
4. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2024 – 2025). Các báo cáo về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội.
5. Tổng cục Thống kê (2025). Báo cáo kinh tế – xã hội.