Xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Building a cultural environment in the Vietnam People’s Army today

TS. Ngô Bằng Linh
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị mở ra định hướng cho phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới. Bài viết tập trung phân tích ý nghĩa của định hướng đối với xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam; làm rõ khái niệm, thành tố cấu thành và vai trò của môi trường văn hóa quân sự; khái quát kết quả, hạn chế và những tác động mới hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng vận dụng nhằm nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội, góp phần củng cố nhân tố chính trị, tinh thần và đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Từ khóa: Nghị quyết số 80-NQ/TW; môi trường văn hóa; Quân đội nhân dân Việt Nam; Bộ đội Cụ Hồ; văn hóa số.

Abstract: Resolution No. 80-NQ/TW, dated January 7, 2026, issued by the Politburo, sets forth new orientations for the development of Vietnamese culture in the current era. This article analyzes the significance of these orientations for building a cultural environment within the Vietnam People’s Army. It clarifies the concept, constituent elements, and the role of the military cultural environment, while summarizing achievements, limitations, and emerging impacts. On this basis, the article proposes several application directions to enhance the quality of the military cultural environment, thereby strengthening political and spiritual factors and meeting the requirements for building a revolutionary, regular, elite, and modern army.

Keywords: Resolution No. 80-NQ/TW; cultural environment; Vietnam People’s Army; Uncle Ho’s Soldiers; digital culture.

1. Đặt vấn đề

Văn hóa luôn giữ vị trí quan trọng trong đường lối lãnh đạo của Đảng, gắn với sự phát triển bền vững của đất nước, với sức mạnh nội sinh của dân tộc và chất lượng đời sống xã hội. Bước vào giai đoạn phát triển mới, khi tình hình thế giới, khu vực chuyển biến nhanh, phức tạp, cạnh tranh chiến lược gia tăng, không gian mạng mở rộng mạnh, chuyển đổi số tác động sâu đến mọi lĩnh vực, vấn đề văn hóa không còn dừng ở phạm vi đời sống tinh thần theo nghĩa hẹp mà gắn trực tiếp với quản lý phát triển xã hội, với giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, quốc phòng, an ninh và sức mạnh quốc gia. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ra đời trong bối cảnh đó (viết tắt là Nghị quyết số 80-NQ/TW).

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, môi trường văn hóa là bộ phận hợp thành của xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị. Môi trường ấy bao gồm hệ giá trị, chuẩn mực, các quan hệ văn hóa, thiết chế văn hóa, đời sống tinh thần, nề nếp chính quy, kỷ luật và môi trường thông tin ở cơ quan, đơn vị. Chất lượng môi trường văn hóa tác động trực tiếp đến bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần đoàn kết và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ. Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, quán triệt và vận dụng Nghị quyết số 80-NQ/TW vào xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội vừa là đòi hỏi trước mắt, vừa mang ý nghĩa lâu dài.

2. Nghị quyết số 80-NQ/TW xác lập định hướng mới cho xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội

Đặt trong tiến trình phát triển tư duy của Đảng về văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW cho thấy một bước phát triển mới về tầm nhìn, nội hàm và tổ chức thực hiện. Trước hết, nghị quyết xác định: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”1.

So với các nghị quyết trước đây, việc bổ sung các phạm trù “trụ cột” và “hệ điều tiết”, cho thấy, Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của văn hóa trong mô hình phát triển mới. Văn hóa không đơn thuần chỉ là hoạt động giải trí, không phải là hệ quả thuần túy của sự phát triển đời sống kinh tế, vật chất, mà nó phải được coi là nền tảng nâng đỡ, định hướng và điều hòa phát triển. Vì vậy, các giá trị văn hóa phải được “gắn kết chặt chẽ, hài hòa, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới”2.

Ở tầng sâu nhất, văn hóa quy tụ vào con người, “Nói đến văn hóa là nói đến con người. Không có thứ văn hóa nào không thuộc về con người, không liên hệ gì với con người”3. Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định: “Phát triển văn hoá vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và xây dựng con người để phát triển văn hoá”4. Đồng thời, yêu cầu phát triển toàn diện con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Vì vậy, trọng tâm của phát triển văn hóa đi vào chiều sâu nhân cách, vào sự bồi đắp hệ giá trị và vào môi trường xã hội, nơi các giá trị ấy được nuôi dưỡng, chuyển hóa thành nhận thức, tình cảm, hành vi và lối sống.

Trong điều kiện chuyển đổi số, truyền thông số và các nền tảng xuyên biên giới phát triển với tốc độ rất cao, văn hóa ngày càng hiện diện trong một không gian rộng hơn trước, nơi giá trị và phản giá trị, thông tin xác thực và thông tin sai lệch tác động trực tiếp tới nhận thức, thị hiếu, lối sống và định hướng xã hội. Vì vậy, giữ gìn và phát triển văn hóa hiện nay không thể dừng ở việc chăm lo đời sống tinh thần theo nghĩa hẹp, mà gắn liền với việc kiến tạo một không gian xã hội lành mạnh để các giá trị đúng đắn được bồi đắp, lan tỏa và bảo vệ. Nghị quyết 80 yêu cầu xây dựng, làm trong sạch môi trường văn hóa số; đồng thời, nhấn mạnh việc “xây dựng thế trận văn hóa gắn với quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng”5, kiên quyết xử lý thông tin xấu độc, phản văn hóa, tin giả trên mạng xã hội và các phương tiện thông tin khác.

Môi trường văn hóa trong quân đội là “toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần hợp thành một chỉnh thể trong không gian và thời gian xác định, tác động đến quá trình hình thành, nuôi dưỡng và hoàn thiện những phẩm chất văn hóa của quân nhân; có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng”6. Thành tố giữ vai trò quan trọng hàng đầu của môi trường văn hóa trong quân đội là hệ giá trị văn hóa, bao gồm những truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam như quyết chiến, quyết thắng, trung với Đảng, hiếu với dân, đoàn kết, kỷ luật, cần kiệm, giản dị, cùng các chuẩn mực và mô thức văn hóa chi phối nhận thức, thái độ, hành vi, lối sống, quan hệ đồng chí, đồng đội và tác phong công tác của quân nhân trong toàn bộ đời sống đơn vị.

Môi trường văn hóa trong quân đội còn bao hàm hệ thống các quan hệ văn hóa (cốt lõi là quan hệ lãnh đạo, chỉ huy – phục tùng, quan hệ phối hợp công tác, quan hệ tình cảm đồng chí, đồng đội); các hoạt động văn hóa; và hệ thống thiết chế văn hóa. Chính trong môi trường ấy, quân nhân tiếp nhận giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị, hình thành ý thức tổ chức kỷ luật, củng cố tình đoàn kết, bồi đắp trách nhiệm và nuôi dưỡng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì thế, xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội gắn trực tiếp với xây dựng con người quân nhân cách mạng, với chất lượng chính trị của đơn vị và với sức mạnh tinh thần bảo đảm cho huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, công tác.

Quán triệt, thực hiện Cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội, thời gian qua, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp thường xuyên duy trì sự lãnh đạo, chỉ đạo, gắn xây dựng môi trường văn hóa với xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, phong trào thi đua quyết thắng và thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm. Từ đó, đời sống văn hóa tinh thần của bộ đội có chuyển biến khá rõ; quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân được củng cố; các thiết chế văn hóa từng bước được quy hoạch, củng cố, nâng cấp; hoạt động văn hóa, văn nghệ, báo chí, xuất bản, thư viện, bảo tàng, phát thanh, truyền hình, giao lưu kết nghĩa, xây dựng cảnh quan doanh trại, xây dựng đơn vị văn hóa diễn ra khá đồng bộ.

Nhìn chung, cuộc vận động đã “làm chuyển biến căn bản chất lượng đời sống văn hóa tinh thần, hình thành diện mạo văn hóa mới”7 trong các cơ quan, đơn vị và trên các địa bàn đóng quân. Đã có 872 tập thể, 124 cá nhân được Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị khen thưởng; được địa phương công nhận trên 93% đơn vị đạt  “Đơn vị văn hóa”, 97,5% khu tập thể quân đội đạt danh hiệu “Khu dân cư văn hóa”; 99,2% gia đình quân nhân đạt “Gia đình văn hóa”8. Tuy vậy, nhận thức của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ về ý nghĩa, vai trò của môi trường văn hóa chưa thật đầy đủ; một số cơ quan, đơn vị chậm đổi mới nội dung, hình thức hoạt động, thiếu linh hoạt; việc cụ thể hóa chủ trương thành quy chế, quy định, tiêu chí ở một số nơi chưa bám sát thực tiễn; tình trạng vi phạm kỷ luật, pháp luật tuy giảm nhưng chưa thật vững chắc. Những hạn chế đó xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, song nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu. Một số nơi chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho công tác này; nội dung, hình thức tổ chức hoạt động chậm đổi mới; việc phối hợp giữa xây dựng môi trường văn hóa với quy hoạch, khai thác thiết chế văn hóa và với nhiệm vụ quản lý tư tưởng, quản lý thông tin mới chưa thật chặt chẽ.

Hiện nay, “Cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh. Hòa bình, hơp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều thách thức mới”9. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong kỷ nguyên phát triển mới đặt ra những yêu cầu đòi hỏi cao hơn. Đặt trong bối cảnh đó, môi trường văn hóa trong quân đội sẽ chịu tác động đồng thời từ nhiều phía: giao lưu và tiếp biến văn hóa diễn ra nhanh hơn; không gian số mở rộng mạnh hơn; thông tin xấu độc, sản phẩm phản văn hóa, lối sống thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, biểu hiện lệch chuẩn giá trị tiếp tục có nguy cơ thâm nhập, từ đó tác động trực tiếp đến nhận thức, thị hiếu, tâm lý và hành vi của cán bộ, chiến sĩ. Nghị quyết số 80-NQ/TW trở thành cơ sở khoa học, cơ sở chính trị và phương hướng chỉ đạo nhận thức để điều chỉnh nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức thực hiện, phát huy ưu điểm, khắc phục dần những hạn chế, khuyết điểm đã bộc lộ trong công tác xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội thời gian qua và đáp ứng tốt hơn những tác động mới của bối cảnh hiện nay.

3. Định hướng xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội hiện nay

Thứ nhất, quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 80-NQ/TW, tạo sự thống nhất về nhận thức, trách nhiệm và hành động trong xây dựng môi trường văn hóa.

Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần tổ chức quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 80-NQ/TW, đồng thời, gắn chặt với quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quy định có liên quan, nhất là Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 – 2030; Quyết định số 3672/QĐ-BQP ngày 24/11/2020 của Bộ Quốc phòng về quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Tập trung làm rõ vị trí của văn hóa trong phát triển đất nước và trong xây dựng Quân đội; yêu cầu xây dựng con người Việt Nam, quân nhân cách mạng; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”.

Nắm chắc tình hình, đặc điểm nhiệm vụ, cụ thể hóa nội dung nghị quyết, chỉ thị của cấp trên vào nghị quyết lãnh đạo, chương trình công tác, kế hoạch công tác của đơn vị; xác định rõ mục tiêu, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, biện pháp và trách nhiệm của từng tổ chức, từng lực lượng, từng cán bộ chủ trì. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục, tuyên truyền trong các cơ quan, đơn vị. Kết hợp chặt chẽ giữa hình thức, phương pháp giáo dục mang tính cơ bản, truyền thống với phương pháp hiện đại; tận dụng tối đa thế mạnh của phương tiện, công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả tuyên truyền.

Thứ hai, xây dựng hệ giá trị, chuẩn mực và tiêu chí xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội theo Nghị quyết số 80-NQ/TW.

Rà soát, xác định rõ hệ giá trị cốt lõi chi phối đời sống văn hóa quân sự ở từng cơ quan, đơn vị trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam mà Nghị quyết số 80-NQ/TW đã nêu. Trong quân đội, hệ giá trị ấy phải quy tụ vào phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tập trung ở những nội dung cốt lõi: trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; quyết chiến, quyết thắng; đoàn kết; kỷ luật; trách nhiệm; nhân văn; cần kiệm; giản dị; nêu gương; tận tụy với nhiệm vụ.

Tiếp tục cụ thể hóa những giá trị thành chuẩn mực gắn trực tiếp với học tập, huấn luyện, công tác, sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử, chấp hành điều lệnh, điều lệ, pháp luật, kỷ luật và sử dụng mạng xã hội của quân nhân. Việc cụ thể hóa phải bám sát từng loại hình cơ quan, đơn vị. Đơn vị huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu cần làm rõ ý thức chấp hành mệnh lệnh, tinh thần vượt khó, tác phong khẩn trương, chính xác, đoàn kết hiệp đồng, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Học viện, nhà trường cần làm rõ văn hóa sư phạm quân sự, tinh thần tự học, thái độ nghiên cứu nghiêm túc, lối ứng xử mẫu mực giữa giảng viên, cán bộ quản lý và học viên.

Đối với các cơ quan, tập trung nhấn mạnh tác phong công tác khoa học, chặt chẽ, chính xác, trách nhiệm, văn hóa tham mưu, văn hóa phối hợp và tinh thần phục vụ cơ sở, phục vụ bộ đội. Cùng với chuẩn mực của từng loại hình đơn vị, cần xác định rõ chuẩn mực đối với từng nhóm đối tượng như cán bộ chủ trì, cán bộ quản lý, giảng viên, học viên, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ để mỗi người có cơ sở tự soi, tự sửa, tự rèn luyện.

Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá môi trường văn hóa theo hướng ngắn gọn, rõ việc, dễ kiểm tra, dễ so sánh, dễ sử dụng trong sơ kết, tổng kết và bình xét thi đua. Tiêu chí cần tập trung vào những mặt phản ánh trực tiếp chất lượng môi trường văn hóa như: quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ; mức độ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân; nền nếp chính quy; kết quả chấp hành kỷ luật; hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa; chất lượng đời sống văn hóa tinh thần; kết quả quản lý, định hướng thông tin; mức độ tham gia của bộ đội vào các hoạt động văn hóa; khả năng ngăn ngừa biểu hiện lệch chuẩn về đạo đức, lối sống, phát ngôn và ứng xử trên không gian số… Lồng ghép tiêu chí xây dựng môi trường văn hóa vào đánh giá chất lượng tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, cán bộ chủ trì và bình xét đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”.

Thứ ba, xây dựng quân nhân cách mạng, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong toàn bộ hoạt động của cơ quan, đơn vị.

Xây dựng con người văn hóa vừa là nội dung, vừa là biện pháp rất quan trọng của xây dựng môi trường văn hóa. Vì vậy, tăng cường công tác giáo dục, làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ giữ vững bản lĩnh chính trị, đạo đức, nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm đối với tập thể và nhiệm vụ. Rèn luyện, củng cố kỷ luật, lối sống giản dị, tác phong khoa học, thái độ tận tụy, tinh thần trách nhiệm và cách ứng xử chân thành, trong sáng, có tình đồng chí, đồng đội. Quan tâm, chăm lo bảo đảm đầy đủ đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt chế độ, chính sách, điều kiện học tập, công tác, sinh hoạt của bộ đội. Quán triệt sâu sắc, thực hiện hiện hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”10, cần chú ý làm tốt công tác lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng nguồn cán bộ, đẩy mạnh phong trào thi đua, phát huy điển hình tiên tiến trong cơ quan, đơn vị.

Giữ gìn, phát huy, lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong quân đội và trong toàn xã hội. Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì cần nêu gương trong lời nói, việc làm, lối sống, tác phong công tác, tinh thần trách nhiệm. Xây dựng bầu không khí dân chủ, đoàn kết, gắn bó; kịp thời uốn nắn biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, vô cảm, thiếu trách nhiệm, phát ngôn tùy tiện và lệch chuẩn trên không gian số. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35, lực lượng 47 đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ những giá trị văn hóa tốt đẹp, góp phần thiết thực xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong quân đội.

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng văn hóa số vững chắc đi đôi với tăng cường kỷ luật, xây dựng chính quy trong quân đội.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, làm trong sạch môi trường văn hóa số. Vận dụng vào quân đội, các cơ quan, đơn vị cần đưa nội dung xây dựng văn hóa số vào nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch công tác Đảng, công tác chính trị, kế hoạch xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật, quản lý tư tưởng và quản lý thông tin. Đồng thời, tiếp tục rà soát, bổ sung quy định về sử dụng Internet, mạng xã hội, thiết bị thông minh, giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, kỷ luật bảo mật, kỷ luật cung cấp, khai thác và tiếp nhận thông tin; siết chặt nền nếp quản lý, kịp thời phát hiện, uốn nắn những biểu hiện lệch chuẩn trong sử dụng không gian số của cán bộ, chiến sĩ.

Đẩy mạnh phong trào “Bình dân học vụ số” trong quân đội, tăng cường bồi dưỡng kỹ năng số theo hướng thiết thực, ngắn gọn, sát chức trách, nhiệm vụ. Đối với cán bộ, tập trung vào phương pháp định hướng thông tin, xử lý tình huống nảy sinh trên không gian mạng, sử dụng công cụ số trong chỉ huy, quản lý, giáo dục và nắm bắt tư tưởng bộ đội. Đối với chiến sĩ, tập trung vào kỹ năng nhận diện tin giả, thông tin xấu độc, thủ đoạn chống phá trên mạng xã hội; kỹ năng kiểm chứng, chọn lọc thông tin; ý thức giữ gìn bí mật quân sự, bí mật công tác; thái độ ứng xử đúng mực khi tham gia môi trường số. Nâng cao chất lượng các kênh thông tin chính thống của các cơ quan, đơn vị, đẩy mạnh số hóa học liệu, tài liệu truyền thống, chuyên đề giáo dục, thư viện, bảng tin điện tử, kho dữ liệu phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục.

Văn hóa số trong quân đội chỉ đứng vững khi đi liền với kỷ luật và nền nếp chính quy, vì vậy, cần gắn việc xây dựng môi trường số với duy trì chấp hành điều lệnh, điều lệ, chế độ công tác, chế độ học tập, quy định bảo mật và quy chế quản lý quân nhân; làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ hình thành tác phong làm việc chuẩn xác, thái độ phát ngôn có trách nhiệm, thói quen tiếp nhận và xử lý thông tin đúng quy trình, đúng thẩm quyền. Cùng với kiểm tra, chấn chỉnh vi phạm, cần đưa nội dung chấp hành kỷ luật số, kỷ luật phát ngôn, kỷ luật khai thác và chia sẻ thông tin vào tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và bình xét đơn vị vững mạnh toàn diện. Làm tốt nội dung đó sẽ giúp văn hóa số không tách khỏi đời sống chính quy của đơn vị, trái lại đi vào củng cố kỷ luật, nâng cao ý thức tổ chức, trách nhiệm và chất lượng quản lý bộ đội trong điều kiện mới.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa trong quân đội.

Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần rà soát toàn bộ hệ thống thiết chế văn hóa; đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, quân số, địa bàn đóng quân và Quyết định số 3672/QĐ-BQP để điều chỉnh quy hoạch, bổ sung hạng mục còn thiếu, khắc phục nơi xuống cấp, phân tán, hoạt động nghèo nàn, thiếu sức hút. Hoàn thiện quy chế quản lý, khai thác, sử dụng; xác định rõ chức năng, chế độ hoạt động, chế độ phối hợp, trách nhiệm của từng cơ quan, từng lực lượng, từng người phụ trách, bảo đảm mỗi thiết chế vận hành đúng mục tiêu, đúng nhiệm vụ, đúng đối tượng phục vụ.

Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên trách làm công tác văn hóa và lực lượng trực tiếp tổ chức, vận hành các thiết chế văn hóa. Các nhà hát, đoàn văn công, bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa trong quân đội cần tăng cường mở lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ, hỗ trợ cơ sở tổ chức hoạt động, đưa đội ngũ văn nghệ sĩ, cán bộ chuyên môn về cơ sở truyền đạt kinh nghiệm, nâng chất lượng hoạt động. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cũng phải được bồi dưỡng kiến thức lý luận văn hóa, phương pháp tổ chức đời sống văn hóa tinh thần để chỉ đạo sát, đúng, trúng. Tăng cường đầu tư trang bị, bổ sung sách, báo, tài liệu, học liệu điện tử; cập nhật tư liệu, hình ảnh, hiện vật, chuyên đề giáo dục; đổi mới nội dung truyền thanh, bảng tin; đẩy mạnh số hóa tài liệu truyền thống, xây dựng thư viện số, bảng tin điện tử, kho dữ liệu phục vụ tuyên truyền, giáo dục. Phát huy vai trò của các thiết chế văn hóa trong việc phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức các hoạt động văn hóa đáp ứng nhu cầu của bộ đội và góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh.

4. Kết luận

Quán triệt và vận dụng Nghị quyết số 80-NQ/TW vào xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay là yêu cầu cần thiết, xuất phát từ nhiệm vụ xây dựng quân đội trong tình hình mới và từ những tác động ngày càng sâu của đời sống kinh tế, chính trị – xã hội, khoa học, công nghệ, không gian mạng đối với hoạt động quân sự. Trọng tâm cần tập trung quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, quy định có liên quan; xây dựng hệ giá trị, chuẩn mực và tiêu chí xây dựng môi trường văn hóa; xây dựng quân nhân cách mạng, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong toàn bộ hoạt động của cơ quan, đơn vị; đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng văn hóa số vững chắc đi đôi với tăng cường kỷ luật, xây dựng chính quy; nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa trong quân đội. Quá trình tổ chức thực hiện đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, các tổ chức quần chúng, đội ngũ cán bộ các cấp, lực lượng làm công tác văn hóa và toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong quân đội; đồng thời, phải gắn chặt với xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật, quản lý tư tưởng, quản lý thông tin, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”.

Chú thích:
1, 2, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
3. Mấy vấn đề về hệ giá trị Việt Nam. https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/752.
6. Xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo tinh thần Đại hội lần thứ XIII của Đảng. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/823677/xay-dung-moi-truong-van-hoa-trong-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-theo-tinh-than-dai-hoi-lan-thu-xiii-cua-dang.aspx
7, 8. Tổng cục Chính trị (2023). Kỷ yếu Hội nghị Tổng kết 30 năm thực hiện Cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa; sơ kết 2 năm thực hiện Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam, tr.9, 16.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.77.
10. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 612.
Tài liệu tham khảo:
1. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (2025). Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 – 2030 (dùng cho cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân). H. NXB Quân đội nhân dân.
2. Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (2023). Tài liệu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. H. NXB Quân đội nhân dân.