Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên

Factors influencing the quality of leadership in the development of education and training by the Thai Nguyen provincial Party Organization

Trung tá Phạm Thế Minh
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, yêu cầu nâng cao chất lượng lãnh đạo của các cấp ủy đảng ngày càng trở nên cấp thiết. Đối với Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, quá trình lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện các mục tiêu giáo dục. Bài viết tập trung làm rõ những yếu tố chủ yếu, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo trong thời gian tới.

Từ khóa: Lãnh đạo; giáo dục và đào tạo; yếu tố tác động; chất lượng lãnh đạo; Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên.

Abstract: In the context of fundamental and comprehensive reform of education and training, the requirement to improve the leadership quality of Party committees has become increasingly urgent. For the Party Organization of Thai Nguyen Province in the 2020 – 2025 period, the leadership process in developing education and training is influenced by various factors. These factors directly affect the effectiveness and efficiency of implementing educational objectives. This article focuses on clarifying the key influencing factors, thereby contributing to improving leadership quality in the coming period.

Keywords: Leadership; education and training; influencing factors; leadership quality; Thai Nguyen Provincial Party Organization.

1. Đặt vấn đề

Giáo dục và đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, là nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng phát triển bền vững. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu đặt ra đối với công tác lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo ngày càng cao, đòi hỏi sự đổi mới toàn diện về tư duy, nội dung và phương thức lãnh đạo. Thực tiễn cho thấy, chất lượng lãnh đạo của các cấp ủy đảng giữ vai trò quyết định trong việc định hướng, tổ chức thực hiện và nâng cao hiệu quả các chủ trương, chính sách giáo dục và đào tạo.

Đối với tỉnh Thái Nguyên, một trung tâm kinh tế, giáo dục quan trọng của khu vực trung du và miền núi phía Bắc, giai đoạn 2020 – 2025 ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển giáo dục và đào tạo dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh. Tuy nhiên, quá trình này cũng chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả lãnh đạo. Việc nhận diện, phân tích một cách hệ thống các yếu tố tác động không chỉ góp phần làm rõ cơ sở lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo.

2. Thực trạng công tác lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên

Thứ nhất, chỉ đạo quy hoạch, mở rộng mạng lưới trường lớp và tăng cường cơ sở vật chất giáo dục.

Trong giai đoạn 2020 – 2025, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục theo hướng đồng bộ, từng bước chuẩn hóa và hiện đại hóa. Ngay từ năm học 2019 – 2020, toàn tỉnh có 683 cơ sở giáo dục (cấp học mầm non: 242 trường và phổ thông: 441 trường); 9 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên; 1 Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp tỉnh; 1 Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tỉnh Thái Nguyên; có 32 trường ngoài công lập1. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh tiếp tục triển khai quy hoạch mạng lưới trường lớp phù hợp với nhu cầu học tập và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, tỉnh đã ban hành và triển khai các đề án bảo đảm cơ sở vật chất giáo dục, trong đó nhấn mạnh mục tiêu đầu tư xây dựng cơ sở vật chất các trường bảo đảm đủ 1 phòng học/lớp; bảo đảm có đủ phòng học bộ môn, phòng chức năng… mua sắm đủ thiết bị dạy học tối thiểu2.

Công tác rà soát, sắp xếp mạng lưới trường lớp được triển khai quyết liệt, với việc sáp nhập 49 điểm trường; sáp nhập 38 trường tiểu học và trung học cơ sở thành 19 trường liên cấp; sáp nhập 16 trường cùng cấp thành 8 trường, góp phần tinh gọn đầu mối, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực. Đến năm 2025, toàn tỉnh có 688 cơ sở giáo dục, trong đó hệ thống trường lớp được tổ chức hợp lý hơn giữa các vùng, miền. Quy mô học sinh đạt 351.278 học sinh từ mầm non đến trung học phổ thông. Công tác đầu tư cơ sở vật chất đạt kết quả nổi bật: từ năm 2021 – tháng 6/2025, đã xây mới 1.995 phòng học, 1.633 phòng chức năng và công trình phụ trợ; mua sắm 7.327 bộ máy tính, 7.556 bộ thiết bị dạy học tối thiểu và hàng chục nghìn thiết bị khác. Tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 93,25%, tăng 21,87% so với năm 2020; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 89,15%, dự kiến đạt 90,04% vào cuối năm 20253. Những kết quả này đã tạo điều kiện quan trọng để triển khai hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông 2018, đồng thời nâng cao chất lượng dạy học và học tập trên địa bàn tỉnh.

Thứ hai, chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học và đẩy mạnh chuyển đổi số.

Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo đổi mới toàn diện phương pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học. Chương trình phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2021 – 2025 xác định rõ yêu cầu: chuyển quá trình giáo dục từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học… kết hợp dạy và học trực tuyến4. Trong thực tiễn, nhiều mô hình giáo dục mới được triển khai hiệu quả, như: mô hình “Trường học hạnh phúc”, trường học tự quản về an ninh trật tự, đổi mới phương pháp dạy học tích cực… góp phần tạo môi trường giáo dục thân thiện, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Đặc biệt, chuyển đổi số trong giáo dục được xác định là khâu đột phá. Tỉnh đã ban hành các kế hoạch đồng bộ, với mục tiêu đến năm 2025: 100% cơ sở giáo dục có hạ tầng mạng internet… 100% cán bộ, giáo viên, học sinh được bồi dưỡng kỹ năng số; 100% cơ sở giáo dục phổ thông triển khai dạy học từ xa5. Thực tế triển khai cho thấy, ngành Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu ngành, triển khai dạy học trực tuyến, số hóa hồ sơ, áp dụng các phần mềm quản lý như: SMAS, VnEdu; 100% đăng ký thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đầu cấp thực hiện trực tuyến.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, việc triển khai Chương trình “Sóng và máy tính cho em” đạt kết quả tích cực, với 4.771 thiết bị được hỗ trợ, bảo đảm “100% học sinh toàn tỉnh có đủ thiết bị học tập trực tuyến”6.

Thứ ba, chỉ đạo phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.

Đảng bộ tỉnh đã chú trọng xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và nâng cao chất lượng. Đến tháng 3/2025, toàn tỉnh có 22.793 cán bộ, giáo viên, nhân viên trong các cơ sở giáo dục công lập; trong đó có 19.016 giáo viên7.

Việc triển khai Đề án đào tạo, bồi dưỡng giai đoạn 2021 – 2025 đã mang lại kết quả rõ nét. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn tăng cao, với 19.242 người đạt chuẩn trình độ đào tạo trở lên (98,66%), trong đó trên chuẩn là 6.963 người (35,70%)8. Công tác bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng theo chuẩn chức danh nghề nghiệp và bồi dưỡng triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 được thực hiện đồng bộ. Bên cạnh đó, tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp linh hoạt để bảo đảm đủ giáo viên, như: điều động, luân chuyển, hợp đồng bổ sung giáo viên, bố trí dạy liên trường, liên cấp. Tỷ lệ giáo viên/lớp cơ bản đáp ứng định mức ở các cấp học.

Thứ tư, chỉ đạo xã hội hóa giáo dục và huy động nguồn lực đầu tư.

Đảng bộ tỉnh đã quan tâm đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục nhằm huy động nguồn lực từ xã hội cho phát triển giáo dục. Các nghị quyết của tỉnh đã xác định rõ yêu cầu “tăng cường cơ sở vật chất… phát triển hài hòa giữa giáo dục công lập và ngoài công lập”9. Nhờ đó, công tác đầu tư cơ sở vật chất đạt nhiều kết quả tích cực: tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 93,25%, vượt 18,25% so với mục tiêu; hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được quan tâm đầu tư với 83,33% trường nội trú và 60% trường bán trú đạt chuẩn quốc gia10. Các hoạt động hỗ trợ, như: xây dựng “Tủ sách giáo khoa dùng chung” đã tiếp nhận hàng nghìn bộ sách, góp phần hỗ trợ học sinh khó khăn.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy, công tác lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên vẫn còn một số hạn chế. Cơ sở vật chất giáo dục tuy được cải thiện nhưng chưa đồng bộ giữa các vùng, một số trường còn thiếu phòng học bộ môn, phòng chức năng, thiết bị dạy học chưa đầy đủ. Hạ tầng công nghệ phục vụ chuyển đổi số còn hạn chế, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa; năng lực ứng dụng công nghệ thông tin của một bộ phận giáo viên, học sinh chưa đáp ứng yêu cầu. Đội ngũ giáo viên còn thiếu ở một số môn học mới, một bộ phận chưa đạt chuẩn theo quy định; việc bố trí thời gian và điều kiện bồi dưỡng còn khó khăn. Nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước, trong khi nhu cầu đầu tư ngày càng tăng, công tác xã hội hóa giáo dục còn gặp vướng mắc về cơ chế, chính sách.

3. Những yếu tố tác động đến chất lượng lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên

Một là, sự biến đổi nhanh chóng của môi trường quốc tế dưới tác động của toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi căn bản yêu cầu đối với giáo dục và đào tạo.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), tự động hóa và nền tảng số, tri thức trở thành nguồn lực quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Điều này dẫn đến sự chuyển dịch mạnh mẽ từ nền kinh tế dựa vào tài nguyên và lao động giản đơn sang nền kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo. Do đó, hệ thống giáo dục buộc phải tái cấu trúc theo hướng phát triển năng lực toàn diện, tư duy sáng tạo và khả năng học tập suốt đời của người học.

Mặt khác, xu hướng quốc tế hóa giáo dục với các hình thức liên kết đào tạo, công nhận tín chỉ xuyên biên giới, trao đổi học thuật và di chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng phổ biến. Điều này không chỉ mở ra cơ hội tiếp cận các mô hình giáo dục tiên tiến mà còn đặt ra sức ép cạnh tranh trực tiếp đối với hệ thống giáo dục trong nước nói chung và địa phương nói riêng. Đặc biệt, đại dịch Covid-19 đã tạo ra cú sốc toàn cầu, làm gián đoạn hoạt động giáo dục truyền thống; đồng thời, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang mô hình giáo dục số, làm thay đổi sâu sắc phương thức tổ chức dạy và học.

Hai là, bối cảnh trong nước với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo gắn với chuyển đổi số quốc gia đã tạo ra khuôn khổ và áp lực phát triển mới.

Việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 – 2030, cùng với chủ trương phát triển kinh tế số, xã hội số đã đặt giáo dục và đào tạo vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và các văn kiện của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu đổi mới toàn diện từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp giáo dục. Trong thực tiễn, giai đoạn 2020 – 2022 chứng kiến sự chuyển đổi đột ngột sang dạy học trực tuyến trên quy mô toàn quốc do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Điều này đã bộc lộ rõ những hạn chế về hạ tầng công nghệ, năng lực số của đội ngũ giáo viên cũng như khả năng thích ứng của người học. Theo mục tiêu của Đề án chuyển đổi số ngành giáo dục, đến năm 2025, khoảng 50% người học và nhà giáo có khả năng tham gia hiệu quả vào môi trường giáo dục số; đồng thời, hình thành hệ thống học liệu trực tuyến đáp ứng khoảng 50% nội dung chương trình giáo dục phổ thông11. Những yêu cầu này không chỉ mang tính định hướng mà còn tạo áp lực hiện thực đối với các địa phương trong việc đổi mới quản lý, đầu tư hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giáo dục.

Ba là, sự hoàn thiện đồng bộ về chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đã định hình rõ yêu cầu và tiêu chuẩn phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ: “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc; phát triển giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân”12. Trên cơ sở đó, việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 với định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học đã làm thay đổi căn bản nội dung và phương pháp giảng dạy. Đồng thời, Luật Giáo dục năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các chính sách liên quan đến xã hội hóa giáo dục, tự chủ đại học, phát triển đội ngũ nhà giáo đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho đổi mới giáo dục. Tuy nhiên, việc chuyển hóa các chủ trương, chính sách này vào thực tiễn địa phương không đơn thuần là quá trình “áp dụng” mà đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể. Điều đó đặt ra yêu cầu cao đối với năng lực lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương.

Bốn là, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Thái Nguyên.

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỉnh Thái Nguyên từng bước trở thành một trong những trung tâm công nghiệp, giáo dục của khu vực trung du và miền núi phía Bắc. Sự phát triển của các khu công nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử, công nghệ cao đã làm gia tăng nhu cầu về lao động có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng làm việc trong môi trường công nghệ hiện đại. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu đối với hệ thống giáo dục địa phương phải gắn kết chặt chẽ hơn với nhu cầu của thị trường lao động, tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp; đồng thời, đổi mới chương trình đào tạo theo hướng ứng dụng và thực hành. Đây là yếu tố có tính chất chi phối trực tiếp đến định hướng lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với giáo dục và đào tạo.

Năm là, những hạn chế về điều kiện kinh tế – xã hội và sự chênh lệch vùng miền tiếp tục là rào cản đối với phát triển giáo dục.

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song trên địa bàn tỉnh vẫn tồn tại sự khác biệt đáng kể giữa khu vực trung tâm và vùng khó khăn, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Điều kiện cơ sở vật chất, khả năng tiếp cận công nghệ thông tin và chất lượng đội ngũ giáo viên ở một số địa bàn còn hạn chế, dẫn đến khoảng cách trong tiếp cận giáo dục và cơ hội học tập. Trong bối cảnh chuyển đổi số, sự chênh lệch này có nguy cơ gia tăng nếu không có các chính sách can thiệp kịp thời. Do đó, công tác lãnh đạo không chỉ tập trung vào nâng cao chất lượng giáo dục mà còn phải bảo đảm công bằng trong tiếp cận, tạo điều kiện cho mọi đối tượng được thụ hưởng thành quả giáo dục.

Sáu là, yếu tố chủ quan từ nhận thức, năng lực và phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh.

Nhận thức của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về vai trò của giáo dục và đào tạo có tác động trực tiếp đến việc xác định mục tiêu, phương hướng và mức độ ưu tiên trong phát triển lĩnh vực này. Khi giáo dục được xác định là động lực phát triển, các chủ trương, nghị quyết được ban hành kịp thời, đồng bộ, tạo cơ sở chính trị cho việc huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện hiệu quả; ngược lại, nếu nhận thức chưa đầy đủ sẽ làm giảm tính chủ động và hiệu lực lãnh đạo. Năng lực lãnh đạo của cấp ủy các cấp tác động đến chất lượng cụ thể hóa và triển khai chủ trương. Năng lực càng cao thì việc lựa chọn trọng tâm, bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện càng sát thực tiễn, qua đó, nâng cao hiệu quả phát triển giáo dục và đào tạo. Đồng thời, phương thức lãnh đạo có tác động đến tính linh hoạt và hiệu quả quản trị hệ thống giáo dục; việc đổi mới theo hướng phân cấp, gắn quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình và tăng cường kiểm tra, giám sát đã góp phần nâng cao tính chủ động của các cơ sở giáo dục và hiệu lực quản lý nhà nước.

4. Kết luận

Chất lượng lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2020 – 2025 chịu sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Các yếu tố này đan xen, tác động trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo. Thực tiễn cho thấy, khi phát huy tốt các yếu tố chủ quan phù hợp với điều kiện khách quan, chất lượng lãnh đạo được nâng lên rõ rệt. Ngược lại, nếu nhận diện và xử lý chưa đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện mục tiêu. Vì vậy, cần tiếp tục phân tích, vận dụng đúng các yếu tố tác động. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới.

Chú thích:
1. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên (2020). Báo cáo số 1436/BC-SGDĐT ngày 16/8/2020 về đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2019 – 2020  và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm học 2020 – 2021.
2. Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2021). Nghị quyết số 154/NQ-HĐND ngày 12/8/2021 thông qua Đề án bảo đảm cơ sở vật chất cho các trường mầm non, phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2021 – 2025.
3. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên (2025). Báo cáo số 285/BC-SGDĐT ngày 10/4/2025 về kết quả thực hiện Đề án “Đảm bảo cơ sở vật chất cho các trường Mầm non, phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 – 2025”.
4. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2020). Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XX Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, nhiệm kỳ 2020 – 2025.
5. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên (2021). Kế hoạch số 825/KH-SGDĐT ngày 29/4/2021 về việc triển khai thực hiện Chương trình Chuyển đổi số ngành giáo dục tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030.
6. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên (2022). Báo cáo số 1423/BC-SGDĐT ngày 07/8/2022 về đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ 2021 – 2022 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2022 – 2023.
7, 8. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2025). Báo cáo số 131/BC-UBND ngày 18/6/2025 về kết quả 5 năm thực hiện Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030”.
9, 10. Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2021). Nghị quyết số 152/NQ-HĐND ngày 10/8/2021 thông qua chương trình phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 – 2025.
11. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022, Về việc phê duyệt Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 – 2025, định hướng đến năm 2030.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 278 – 279.