Policy Solutions to Support the Transition of Business Households into Corporate Models in Ho Chi Minh City
Mai Thị Kim Oanh
Học viện Cán bộ TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Sau khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh trở thành siêu đô thị với dân số khoảng 13,6 triệu người và số lượng hộ kinh doanh là 345.000 hộ1. Trong bối cảnh đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân và tái cấu trúc không gian đô thị, cùng với việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc chuyển đổi hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp đang trở thành một yêu cầu tất yếu đối với TP. Hồ Chí Minh. Bài viết phân tích thực trạng chính sách hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh từ đó chỉ ra những kết quả đạt được và cả những hạn chế. Từ đó, đề xuất các giải pháp chính sách đồng bộ nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi, phù hợp với yêu cầu phát triển của thành phố trong thời gian tới.
Từ khóa: Hộ kinh doanh, doanh nghiệp, TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: Following the merger of Binh Duong and Ba Ria – Vung Tau, Ho Chi Minh City has transformed into a megacity with a population of approximately 13.6 million and 345,000 business households. Within the context of accelerating private sector development, urban spatial restructuring, and the implementation of the two-tier local government model, transitioning business households into corporate entities has become an inevitable requirement for Ho Chi Minh City. This article analyzes the current status of support policies for this transition in Ho Chi Minh City, highlighting both the achieved milestones and existing limitations. On this basis, the paper proposes synchronized policy solutions to drive the transition process forward, aligning with the city’s development demands in the coming time.
Keywords: Business households; Corporate entities; Ho Chi Minh City.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò là động lực quan trọng của tăng trưởng, “…trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”2. Sau khi thực hiện sáp nhập Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh có vai trò là siêu đô thị, với số lượng hộ kinh doanh cá thể lớn, đóng góp rất quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố. Tuy nhiên, phần lớn các hộ kinh doanh vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, trình độ quản trị hạn chế, thiếu tính minh bạch và khó tiếp cận các nguồn lực chính thức như tín dụng, công nghệ và thị trường. Với đặc điểm đó, việc tái cấu trúc khu vực kinh tế phi chính thức, trong đó chuyển đổi hộ kinh doanh sang doanh nghiệp, là một nội dung trọng tâm. Điều này được cụ thể hóa trong chủ trương chung của Đảng và Nhà nước nói chung, của TP. Hồ Chí Minh nói riêng.
Bên cạnh đó, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng làm thay đổi căn bản phương thức quản lý nhà nước. Khi chính quyền cơ sở được phân quyền nhiều hơn, việc quản lý khu vực hộ kinh doanh đòi hỏi phải minh bạch, chuẩn hóa và số hóa, qua đó thúc đẩy nhu cầu chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp.
2. Kết quả đạt được và một số hạn chế trong chính sách hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh
TP. Hồ Chí Minh hiện là địa phương có số lượng hộ kinh doanh lớn nhất cả nước, tập trung vào các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, ăn uống và sản xuất nhỏ lẻ. Đặc điểm chung của khu vực này là quy mô vốn nhỏ, lao động ít, hoạt động linh hoạt nhưng thiếu ổn định và ít tuân thủ đầy đủ các quy định về kế toán, thuế và bảo hiểm xã hội.
Theo số liệu của Thuế TP. Hồ Chí Minh tính đến tháng 9/2025, số hộ kinh doanh của TP. Hồ Chí Minh đang quản lý 361.879 hộ. Trong đó, tại các địa bàn trước hợp nhất như: TP. Hồ Chí Minh có 243.356 hộ, Bình Dương có 87.364 hộ và Bà Rịa – Vũng Tàu có 31.159 hộ.
Khi phân loại theo nghĩa vụ thuế, trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh hiện có 85.430 hộ kinh doanh có doanh thu năm từ 100 triệu đồng trở xuống, thuộc diện không phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân (chiếm 23,61% tổng số hộ kinh doanh). Còn lại với số lượng 276.449 hộ (chiếm 76,39% tổng số hộ kinh doanh) thực hiện nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng và doanh nghiệp, trong đó chủ yếu nộp theo phương pháp thuế khoán (chiếm 71,13% tổng số hộ kinh doanh) và chiếm tới 93,1% số hộ thuộc diện nộp thuế. Ngược lại, số hộ kinh doanh thực hiện nộp thuế theo phương pháp kê khai còn khá hạn chế, với 19.060 hộ, chiếm 5,3% tổng số hộ kinh doanh và 6,9% trong nhóm phải nộp thuế4.
Với số lượng lớn như vậy, khu vực hộ kinh doanh hiện nay đóng góp khá lớn vào GRDP của thành phố và tạo ra nhiều việc làm, cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Các hộ kinh doanh của thành phố hoạt động trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ, nên giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Hơn nữa, với đặc điểm quy mô nhỏ, linh hoạt và dễ thích ứng, hộ kinh doanh có thể nhanh chóng thay đổi để phù hợp với thị trường. Vì vậy, đây được xem là một nguồn lực kinh tế tiềm năng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế theo hướng ổn định, bền vững.
Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ các hộ kinh doanh có doanh thu lớn, thậm chí tương đương với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn lựa chọn duy trì mô hình hộ để giảm chi phí tuân thủ và tránh các ràng buộc pháp lý. Điều này dẫn đến tình trạng “phi chính thức hóa” trong khu vực kinh tế, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước và làm giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Thực hiện chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về chuyển hộ kinh doanh thành doanh nghiệp, TP. Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều giải pháp chính sách đồng bộ nhằm hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển sang thành doanh nghiệp.
Thứ nhất, hệ thống chính sách của thành phố nhằm hỗ trợ chuyển đổi từng bước được hình thành và hoàn thiện với các quy định về đăng ký kinh doanh, thuế và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều này tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình chuyển đổi. Theo đó, chính sách của Thành phố đã bám sát các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ và Bộ Tài chính để tổ chức triển khai thực hiện một cách thống nhất, đồng bộ và kịp thời, trọng tâm là triển khai hiệu quả Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân và tổ chức thực hiện đầy đủ Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2025. Đồng thời, chú trọng nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ, qua đó góp phần phòng ngừa và hạn chế các sai phạm phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Thứ hai, công tác cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp và thuế, giúp rút ngắn thời gian và chi phí cho các hộ kinh doanh khi chuyển đổi. Theo đó, cơ quan thuế đã thực hiện các giải pháp nhằm thực hiện chủ trương chuyển 100% hộ kinh doanh từ diện khoán thuế sang thực hiện nộp thuế theo phương pháp kê khai, nhằm giúp người nộp thuế tiếp cận kịp thời các quy định pháp luật về kê khai, nộp thuế. Cơ quan thuế cũng xây dựng chi tiết, xác định và phân loại rõ đối tượng để giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị Thuế cơ sở, để từ đó có thể triển khai các bước về hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền đối với các hộ kinh doanh thuộc diện khoán phải chuyển đổi.
Thứ ba, việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý thuế, như hóa đơn điện tử và kê khai trực tuyến, đã góp phần nâng cao tính minh bạch và tạo điều kiện cho hộ kinh doanh tiếp cận môi trường kinh doanh chính thức. Theo đó, Thuế TP. Hồ Chí Minh đã đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số nhằm hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển từ phương pháp nộp thuế khoán sang phương pháp kê khai. Cụ thể, cơ quan thuế đã triển khai nhiều giải pháp như sử dụng Cổng thông tin điện tử để cung cấp dịch vụ đăng ký, kê khai và nộp thuế trực tuyến; phát triển ứng dụng Zalo mini app HCMTax giúp hộ kinh doanh dễ dàng tra cứu thông tin, nhận thông báo và thực hiện một số thủ tục thuế ngay trên điện thoại. Bên cạnh đó, việc áp dụng hóa đơn điện tử được đẩy mạnh, góp phần ghi nhận đầy đủ doanh thu, tăng tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh. Ngành thuế cũng phối hợp với các doanh nghiệp công nghệ để cung cấp phần mềm quản lý bán hàng, kế toán đơn giản, phù hợp với quy mô hộ kinh doanh, giúp người nộp thuế dễ dàng theo dõi doanh thu, chi phí và thực hiện kê khai chính xác hơn.
Thứ tư, nhận thức của hộ kinh doanh trên địa bàn thành phố về lợi ích của việc chuyển đổi đã được cải thiện, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Ngoài những kết quả đạt được như trên, chính sách nhằm hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp vẫn còn những hạn chế nhất định.
Một là, tỷ lệ chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp vẫn còn rất thấp so với tiềm năng, cho thấy hiệu quả chính sách chưa đạt kỳ vọng. Theo đó, số lượng hộ kinh doanh của Thành phố là 345.000 hộ; tuy nhiên, số lượng hộ chuyển sang doanh nghiệp còn ở mức thấp.
Bảng số 1: Số lượng hộ kinh doanh chuyển sang mô hình doanh nghiệp
tại TP. Hồ Chí Minh
| Năm | Giai đoạn 2019-2024 | 2025 |
| Số hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp | 260 | 640 |
(Nguồn: Thuế Thành phố Hồ Chí Minh và tổng hợp của tác giả)
Bảng trên cho thấy tỷ lệ chuyển sang doanh nghiệp của hộ kinh doanh còn ở mức thấp, chiếm 0,18% so với số lượng hộ kinh doanh năm 2025. Điều đó cho thấy, chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển sang doanh nghiệp trên địa bàn thành phố vẫn chưa đạt như kỳ vọng.
Hai là, rào cản tâm lý vẫn là yếu tố lớn khi nhiều hộ kinh doanh lo ngại về nghĩa vụ thuế, chi phí kế toán và các yêu cầu pháp lý khi trở thành doanh nghiệp.
(1) Tâm lý về nghĩa vụ thuế, theo đó, trước đây hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán với mức tương đối ổn định và dễ dự đoán, việc trở thành doanh nghiệp đồng nghĩa với việc chuyển sang cơ chế kê khai, quyết toán thuế định kỳ, chịu sự kiểm tra, thanh tra của cơ quan thuế. Điều này tạo ra gánh nặng tâm lý đối với các hộ có doanh thu không ổn định hoặc chưa quen với việc hạch toán minh bạch.
(2) Bên cạnh đó, chi phí kế toán và vận hành cũng là một gánh nặng tâm lý với hộ kinh doanh. Theo đó, nếu vận hành như bộ máy doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh phải tổ chức bộ máy kế toán, lập sổ sách, báo cáo tài chính, sử dụng hóa đơn điện tử và tuân thủ các chuẩn mực kế toán hiện hành. Điều đó làm chi phí phát sinh thường xuyên, trong khi lợi nhuận chưa chắc đạt được kỳ vọng trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động như hiện nay;
(3) Các yêu cầu pháp lý và thủ tục hành chính khi trở thành doanh nghiệp cũng tạo ra áp lực không nhỏ. Doanh nghiệp phải tuân thủ nhiều quy định về đăng ký kinh doanh, lao động, bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động, phòng cháy chữa cháy…làm giảm tính linh hoạt vốn có trong hoạt động kinh doanh truyền thống của hộ kinh doanh trước đây.
Ba là, chi phí tuân thủ cao và hệ thống quy định còn phức tạp khi chuyển từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp. Theo đó, chi phí tuân thủ về thuế và kế toán có thể tạo ra gánh nặng đối với hộ kinh doanh, bởi vì khi chuyển thành doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh không còn áp dụng phương pháp thuế khoán mà phải thực hiện kê khai, quyết toán thuế theo định kỳ, gồm cả thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và các nghĩa vụ liên quan. Điều này đòi hỏi phải thiết lập hệ thống sổ sách kế toán, lưu trữ chứng từ, lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực quy định. Trong thực tế, phần lớn hộ kinh doanh không đủ năng lực tự thực hiện các công việc này, buộc phải thuê dịch vụ kế toán hoặc nhân sự chuyên trách, dẫn đến chi phí vận hành tăng lên thường xuyên. Ngoài ra, chi phí cho phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử, chữ ký số… cũng trở thành khoản chi bắt buộc, tạo áp lực tài chính đối với các cơ sở kinh doanh quy mô nhỏ trên địa bàn thành phố.
Hơn nữa, các quy định pháp luật hiện hành đối với hộ kinh doanh tuy đã từng bước được hoàn thiện nhưng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, như khung pháp lý chưa thực sự rõ ràng về vị trí và địa vị pháp lý của hộ kinh doanh, một số quy định còn chồng chéo giữa các lĩnh vực như thuế, lao động và đăng ký kinh doanh. Thủ tục chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp trên thực tế vẫn còn nhiều bước và chưa thật sự thuận tiện. Việc phải chấm dứt hộ kinh doanh rồi thành lập doanh nghiệp mới gây gián đoạn hoạt động kinh doanh. Việc tiếp cận thông tin pháp lý của hộ kinh doanh còn gặp khó khăn. Tâm lý lo ngại rủi ro và nghĩa vụ phát sinh vẫn phổ biến. Do đó, quá trình chuyển đổi chưa diễn ra mạnh mẽ như kỳ vọng. Đây là nguyên nhân quan trọng khiến nhiều hộ kinh doanh chưa muốn chuyển đổi sang doanh nghiệp.
Bốn là, chính sách hỗ trợ chuyển đổi của thành phố còn chưa thực sự đồng bộ, thiếu sự liên kết giữa các công cụ tài chính, đào tạo và tư vấn.
Thời gian qua, tuy Thành phố đã có những chính sách rất quan trọng để hỗ trợ chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp, nhưng vẫn cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn từ các tổ chức liên quan, từ việc cung cấp thông tin, tư vấn, đào tạo và các chương trình hỗ trợ tài chính. Hơn nữa, việc chỉ dựa vào loại hình pháp lý của doanh nghiệp mà chưa có các tiêu chí hỗ trợ theo quy mô hoạt động kinh doanh, dẫn đến chưa bảo đảm sự công bằng và phù hợp trong quản lý, dẫn đến tình trạng các hộ kinh doanh có quy mô lớn nhưng vẫn chịu cơ chế quản lý đơn giản như hộ siêu nhỏ, trong khi các doanh nghiệp quy mô rất nhỏ lại phải gánh chịu các nghĩa vụ tuân thủ phức tạp như doanh nghiệp lớn.
Năm là, trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, năng lực của cán bộ, công chức cấp cơ sở trong hỗ trợ và quản lý hộ kinh doanh vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
Trong bối cảnh thực hiện chính quyền đô thị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp, với việc phân quyền mạnh mẽ cho chính quyền cơ sở của thành phố, năng lực cán bộ, công chức của chính quyền cơ sở trong hỗ trợ và quản lý hộ kinh doanh vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định, chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt là kiến thức cập nhật về pháp luật kinh doanh, thuế, chuyển đổi số và các quy định liên quan đến hoạt động của hộ kinh doanh, dẫn đến lúng túng trong hướng dẫn, giải đáp và xử lý tình huống phát sinh.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện khung chính sách hỗ trợ của thành phố đối với hộ kinh doanh khi chuyển sang mô hình doanh nghiệp, đơn giản hóa thủ tục chuyển đổi, theo hướng thu hẹp tối đa khoảng cách so với khu vực doanh nghiệp, đồng thời tạo lập môi trường thuận lợi về tổ chức quản trị, cơ chế tài chính và chế độ kế toán. Qua đó, góp phần khuyến khích các hộ kinh doanh của thành phố chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp, từng bước nâng cao tính chính thức, minh bạch và hiệu quả trong hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Thứ hai, có chính sách hỗ trợ tư vấn pháp lý và cung cấp thông tin đến hộ kinh doanh, đẩy mạnh công khai, phổ biến các chương trình hỗ trợ, thông tin về thị trường và công nghệ thông qua các cổng thông tin điện tử, bảo đảm cho hộ gia đình có khả năng tiếp cận đơn giản, thuận tiện. Đồng thời, nâng cao chất lượng hoạt động hỗ trợ pháp lý, nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật của hộ kinh doanh, chủ động phòng ngừa và xử lý hiệu quả các vấn đề tranh chấp trong quá trình chuyển từ hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp.
Thứ ba, tiếp tục nâng cao hiệu quả của chính sách tuyên truyền, hỗ trợ về thủ tục thuế, và tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tuân thủ pháp luật thuế khi chuyển sang mô hình doanh nghiệp, đồng thời duy trì và kiện toàn các tổ công tác hỗ trợ trực tiếp tại cơ sở, khu chợ, tuyến phố,… bảo đảm việc hướng dẫn được thực hiện kịp thời, sát thực tiễn của hộ kinh doanh.
Thứ tư, có chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị cho các hộ kinh doanh thông qua các chương trình đào tạo về kế toán, quản trị doanh nghiệp và chuyển đổi số, đồng thời xây dựng mạng lưới tư vấn và hỗ trợ khởi nghiệp.
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và hoạt động kinh doanh, cung cấp các nền tảng số dùng chung cho doanh nghiệp nhỏ, giúp giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động.
4. Kết luận
Chuyển đổi hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp là yêu cầu khách quan, đặc biệt đối với siêu đô thị như Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian qua, thành phố đã có những chính sách hỗ trợ rất quan trọng để cụ thể hóa các mục tiêu đặt ra trong việc chuyển đổi, tuy nhiên, quá trình này vẫn còn những rào cản, khó khăn nhất định. Điều đó cho thấy cần có những giải pháp chính sách đồng bộ, mang tính dài hạn và phù hợp với đặc thù của chính quyền đô thị đặc biệt và việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Việc thúc đẩy chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo động lực cho phát triển kinh tế tư nhân, hướng tới một nền kinh tế minh bạch, hiệu quả.
Chú thích:
1. Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2025). Niên giám thống kê năm 2025.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
3, 4. Tác giả tổng hợp từ nguồn báo cáo của Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh năm 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Phan Tuấn Anh (2022). Phát triển hộ kinh doanh ở TP. Hồ Chí Minh sau tác động của dịch Covid-19. Tạp chí Khoa học Xã hội, số 9 (289).
2. Chính phủ (2020). Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 về đăng ký doanh nghiệp.
3. Doumer, Laure Pasquier, Oudin, Xavier et Nguyễn Thắng (2017). Vai trò của hộ sản xuất kinh doanh cá thể và khu vực phi chính thức đối với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam. H. NXB Thế Giới.
4. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
5. Quốc hội (2025). Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025.
6. Quốc hội (2020). Luật Doanh nghiệp năm 2020.
7. Quốc hội (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh.
8. Quốc hội (2025). Nghị quyết 260/2025/QH15 ngày 11/12/2025 sửa đổi Nghị quyết 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh.
9. TP. Hồ Chí Minh tăng hiệu quả quản lý thuế của hộ cá nhân kinh doanh. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/tp-ho-chi-minh-tang-hieu-qua-quan-ly-thue-ho-ca-nhan-kinh-doanh-177031.html?



