Giải pháp hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội trong giai đoạn hiện nay

Solutions for implementing Ho Chi Minh Thought on social management in the current period

TS. Vũ Thị Thu Quyên
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(Quanlynhanuoc.vn) – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm khoa học, toàn diện về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, chứa đựng những giá trị tiến bộ, nhân văn và phát triển. Ngày nay, những giá trị ấy của Người tiếp tục định hướng, soi đường cho sự nghiệp xây dựng xã hội Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thúc đẩy sự phát triển đất nước toàn diện, hài hòa và thịnh vượng. Bài viết khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội; đồng thời, đề xuất giải pháp nhằm hiện thực hóa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quản lý xã hội của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; cách mạng Việt Nam; quản lý xã hội; kỷ nguyên mới.

Abstract: Ho Chi Minh Thought is a comprehensive and scientific system of views on the fundamental issues of the Vietnamese revolution. It is the result of the creative application and development of Marxism-Leninism to the specific conditions of our country, encompassing progressive, humanistic, and developmental values. Today, these values continue to guide and illuminate the path for building a Vietnamese society featuring a prosperous people, a strong country, and a democratic, equitable, and civilized nation, thereby promoting comprehensive, harmonious, and prosperous national development. This article outlines Ho Chi Minh’s thought on social management and, concurrently, proposes solutions for implementing President Ho Chi Minh’s thought on social management in Vietnam in the new era.

Keywords: Ho Chi Minh Thought; the Vietnamese revolution; social management; new era.

1. Đặt vấn đề

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội là bộ phận hợp thành quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người. Từ nền tảng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin gắn với điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành những quan điểm cơ bản về quản lý xã hội, trong đó nhấn mạnh quản lý xã hội phải gắn mới mục tiêu phát triển con người, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, lấy Nhân dân làm chủ thể và là trung tâm của các chính sách phát triển đời sống xã hội. Theo Người, để quản lý xã hội hiệu quả phải sử dụng phương thức quản lý phù hợp với mục tiêu và được tiến hành đồng bộ trên các lĩnh vực của đời sống, như: quản lý về tư tưởng, chính trị; về kinh tế; về văn hóa, xã hội; về giáo dục, đào tạo, quốc phòng, an ninh và các lĩnh vực khác, trong đó giáo dục, văn hóa và xây dựng con người mới được Người xác định là đích đến lâu dài của quản lý xã hội.

2. Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quản lý xã hội có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc và là cơ sở, nền tảng tư tưởng quan trọng để Đảng, Nhà nước xây dựng, quản lý và phát triển một Nhà nước kiến tạo, phát triển thịnh vượng. Có thể khái quát nội dung cơ bản trong tư tưởng của Người về quản lý xã hội như sau:

Thứ nhất, mục tiêu của quản lý xã hội.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất của quản lý xã hội luôn hướng tới và đạt được mục tiêu cao nhất là phục vụ Nhân dân, vì dân mà phục, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân. Người khẳng định: Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”1. Vì vậy, quản lý xã hội phải hướng đến và thực hiện được mục tiêu xây dựng con người, phát triển con người toàn diện. Trong tư tưởng của Người, nhân tố con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hòa về phẩm chất, năng lực, giá trị xã hội của con người. Con người ở đây vừa là từng cá nhân cụ thể, vừa là những cộng đồng người trong xã hội, giai cấp, dân tộc và cả nhân loại. Đó là con người có những phẩm chất đạo đức trong sáng, cao đẹp, phát triển toàn diện cả trí tuệ và thể chất, tinh thần, có sự am hiểu sâu sắc về cái hay, cái đẹp, về chân – thiện – mỹ – trí – dục. Nếu thiếu đi một yếu tố nào đó thì vấn đề phát triển sẽ không được bảo đảm toàn diện. Từ những phân tích sâu sắc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt trọng tâm vào con người; con người là chủ thể, cũng là mục tiêu của quản lý xã hội: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”2. Đồng thời khẳng định, giáo dục, văn hóa và xây dựng con người mới trở thành trụ cột, là đích đến của toàn bộ sự nghiệp quản lý xã hội, một xã hội tiến bộ và nhân văn, phát triển hiện đại và bền vững được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực mà không được xem nhẹ bất kỳ mặt nào như: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.

Thứ hai, phát huy dân chủ, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân trong quản lý xã hội. Theo Người, tôn trọng Nhân dân trước hết phải có thái độ đánh giá cao vai trò, vị trí của Nhân dân: “vô luận việc gì đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả”3; “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”4. Đồng thời Người cũng xác định và chỉ dạy: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”5; và “nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng… Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”6. Trong quản lý xã hội, muốn thật sự tôn trọng Nhân dân thì phải hiểu dân; tôn trọng Nhân dân có nhiều cách khác nhau, Người đúc kết: “Không phải ở chỗ chào hỏi kính thưa có lễ phép mà đủ. Không được phung phí nhân lực vật lực của dân. Khi huy động nên vừa phải, không nên nhiều quá lãng phí vô ích. Phải khôn khéo tránh điều gì có hại cho đời sống nhân dân. Biết giúp đỡ nhân dân cũng là biết tôn trọng dân”7.

Thứ ba, quản lý xã hội phải bảo đảm công bằng và hướng đến sự công bằng xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, do đó phải thực hiện chế độ phân phối công bằng, hợp lý theo nguyên tắc: “Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”8. Nội dung nguyên tắc này thể hiện sự công bằng về địa vị của người làm đối với chủ tư liệu sản xuất và cơ hội phát triển, phát huy hết khả năng của mỗi cá nhân; cũng thông qua nguyên tắc nhằm hướng tới xã hội ở đó mọi người đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nhận thức sâu sắc công bằng xã hội khởi nguồn từ chính sự phân phối, là mục tiêu, là động lực thúc đẩy quản lý xã hội phát triển; không công bằng sẽ dẫn đến hệ lụy to lớn. Vì vậy, Người đưa ra yêu cầu phân phối không được cào bằng, bình quân chủ nghĩa và phải thực hiện tốt phương châm “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”9.

Thứ tư, Đảng lãnh đạo quản lý xã hội. Trong quá trình lãnh đạo dân tộc đấu tranh cách mạng, Chủ tich Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, “phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng”10, “phải có Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh, để đánh đổ kẻ địch, tranh lấy chính quyền”11. Từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước, Người đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo, là đội tiên phong, đang đồng hành cùng quần chúng, dẫn dắt toàn thể dân tộc Việt Nam. Theo quan điểm của Người: “Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”12. Từ đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “Đảng ta là một đảng cầm quyền”13 và với vị thế là đảng cầm quyền, Đảng đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn để lãnh đạo Nhà nước và xã hội hiện thực hóa được mục tiêu mà Đảng đã xác định qua các giai đoạn.

Thứ năm, Nhà nước là chủ thể tổ chức thực hiện quản lý xã hội thông qua đội ngũ cán bộ, công chức. Quan điểm này của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm xác định Nhà nước là chủ thể trực tiếp, có vai trò quan trọng nhất trong việc hiện thực hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về quản lý xã hội. Trong tư tưởng của Người, vai trò quản lý xã hội của Nhà nước chính là phục vụ Nhân dân, đem lại lợi ích cho dân. Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải hướng đến và thực hiện được mục tiêu phục vụ cho Nhân dân, mang lại quyền lợi cho Nhân dân và lấy con người làm mục tiêu phấn đấu cao nhất. Từ đó, Người nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách phát triển xã hội; bảo đảm cho mọi thành viên xã hội bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và phát huy cao nhất năng lực của mình. Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính phủ là công bộc của dân”, “Đảng và Chính phủ chỉ lo phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động chân tay và lao động trí óc”14, và “Mọi chính sách của Đảng và Chính phủ ta đều nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”15.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước quản lý xã hội phải đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của Nhân dân, đây là tiêu chí số một để đánh giá hiệu quả năng lực hoạt động của Nhà nước: “Chúng ta phải thực hiện ngay: 1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở. 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó”16. Muốn vậy, trong quá trình quản lý, điều hành xã hội trên các lĩnh vực, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước phải “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”17.

Thứ sáu, trong quản lý xã hội phải thực hiện hiệu quả công tác đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Người cho rằng, tham nhũng, lãng phí, quan liêu là những trở lực của sự phát triển và công bằng xã hội. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về “căn bệnh” có tên gọi là tham ô, lãng phí và quan liêu. Từ góc độ đạo đức, xã hội và quản lý, tham ô, lãng phí và quan liêu chính là “giặc nội xâm” làm tha hóa con người, xói mòn đạo đức và hậu quả của nó là cản trở quá trình xây dựng con người mới – theo quan điểm của Người. Người lên án mạnh mẽ với hành vi tham ô: “Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người,… Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức cách mạng”18.

Với Người, lãng phí được coi là tệ nạn gây tổn thất lớn về vật chất, tài sản và công sức của Nhân dân, của xã hội; nó chính là một loại “kẻ thù”, cần phải kiên quyết loại trừ ra khỏi hoạt động của các cơ quan, tổ chức và đời sống: “kiên quyết chống nạn lãng phí ở các cơ quan và trong sinh hoạt của chúng ta. Chống cách tiêu dùng bừa bãi tiền của của nhân dân và vốn liếng của Chính phủ. Hiện nay có những cuộc khai hội, những lễ kỷ niệm, những đám yến tiệc tốn hàng vạn, hàng chục vạn cần phải chấm dứt nạn phô trương ấy, lãng phí ấy…”19.

Đối với quan liêu, Người chỉ rõ: “Quan liêu là người cán bộ phụ trách nhưng xa rời thực tế, xa rời quần chúng. Đối với công việc thì không điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng. Chỉ đạo thì đại khái, chung chung. Không lắng nghe ý kiến của quần chúng, tác phong không dân chủ. Sợ phê bình và tự phê bình. Không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách… Vì vậy, ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó có nạn tham ô, lãng phí”20. Đồng thời, người cũng khẳng định, quan liêu là loại bệnh hết sức nguy hiểm; nó là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô; nó làm “biến dạng” các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước; đặc biệt nó phá hoại đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, làm cho họ trở thành những người xa dân, đứng trên Nhân dân, thoát ly đời sống xã hội.

3. Một số kiến nghị nhằm hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội trong bối cảnh mới

Một là, tăng cường giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh trong quản lý xã hội.

Cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị, trong đó làm rõ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội. Sớm đưa nội dung này vào đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp để nâng cao năng lực hoạch định, điều hành và kiểm soát quyền lực nhà nước một cách khoa học, dân chủ, hiệu quả. Trong đó, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về cơ sở hình thành, nội dung, giá trị và ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong quản lý xã hội đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Việc đưa tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng trong hoạch định và thực thi chính sách quản lý cần được thực hiện qua các hình thức, như: (1) Đưa nội dung này vào chương trình giáo dục lý luận chính trị, giáo dục phổ thông và đào tạo cán bộ; (2) Tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo chuyên đề, các hoạt động sinh hoạt chính trị sâu rộng trong hệ thống chính trị; (3) Tăng cường truyền thông đại chúng bằng các phương tiện hiện đại, ứng dụng công nghệ số để lan tỏa tư tưởng Hồ Chí Minh một cách hiệu quả, dễ tiếp cận, phù hợp với từng đối tượng xã hội.

Giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội cần gắn với thực tiễn công việc, giúp mỗi cán bộ hiểu rõ chức năng “quản lý là phục vụ Nhân dân”, từ đó, hình thành thái độ trách nhiệm, tinh thần nêu gương và phương pháp hành động đúng đắn.

Hai là, xây dựng nền hành chính liêm chính, phục vụ và kiến tạo phát triển.

Một trong những trụ cột quan trọng để hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội là xây dựng một nền hành chính nhà nước thật sự liêm chính, phục vụ Nhân dân và kiến tạo phát triển. Trong tư tưởng của Người, quản lý xã hội không chỉ là điều hành bộ máy công quyền mà là sự tương tác hài hòa, hiệu quả giữa Nhà nước và Nhân dân; giữa quyền lực và đạo đức; giữa thể chế và hành vi công vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng, cán bộ, công chức phải thực sự là “công bộc của dân”, “liêm chính, chí công vô tư”, “cần, kiệm, liêm, chính” để xứng đáng là người thực thi quyền lực nhà nước trong một xã hội dân chủ. Theo Người, cán bộ, đảng viên toàn Đảng: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”21.

Để hiện thực hóa sâu sắc tinh thần đó trong điều kiện hiện nay, Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước theo hướng tinh gọn, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, đặt người dân và doanh nghiệp vào vị trí trung tâm; đồng thời, bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách.

(1) Cần cải cách mạnh mẽ tổ chức bộ máy hành chính, theo hướng tinh gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả. Tư tưởng Hồ Chí Minh về một chính quyền gần dân, gắn bó với dân, không xa rời Nhân dân cần được cụ thể hóa bằng việc thực hiện tinh giản biên chế, tinh gọn đầu mối, xóa bỏ những tầng nấc trung gian không cần thiết, giảm thiểu thủ tục hành chính rườm rà. Cùng với đó, phân cấp, phân quyền một cách hợp lý, rõ ràng và minh bạch giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền, tạo điều kiện để chính quyền cơ sở chủ động giải quyết các vấn đề xã hội gắn với thực tiễn địa phương.

(2) Xây dựng và thực thi hệ thống quy tắc đạo đức công vụ là giải pháp thiết yếu nhằm nâng cao liêm chính trong hoạt động công quyền. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đặc biệt là nguyên tắc “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” phải được thể chế hóa thành chuẩn mực hành vi của cán bộ, công chức. Người yêu cầu cán bộ phải “vừa hồng, vừa chuyên”, phải giữ đạo đức cách mạng, thật thà, khiêm tốn, không kiêu ngạo, không tham ô, lãng phí. Song song với đó là việc thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đạo đức công vụ, đồng thời khuyến khích, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Việc đưa học tập và thực hành sáng tạo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành nội dung thường xuyên trong công vụ cũng là giải pháp quan trọng để bồi dưỡng phẩm chất liêm chính, tinh thần phục vụ Nhân dân cho đội ngũ cán bộ.

(3) Thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý hành chính, lấy công nghệ làm công cụ bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc ứng dụng công nghệ số, xây dựng chính quyền điện tử và tiến tới chính quyền số không chỉ nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân mà còn hạn chế những khoảng mờ trong thực thi công vụ. Theo Báo cáo cải cách hành chính nhà nước của Bộ Nội vụ năm 2023, nhiều địa phương đã triển khai hiệu quả cổng dịch vụ công trực tuyến, tích hợp thông tin minh bạch về quy trình xử lý, thời gian giải quyết, chi phí thực hiện, góp phần gia tăng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Nhất là, sau đợt cải cách, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động bình thường, chắc chắn sự hài lòng của Nhân dân với chính quyền sẽ tăng lên rõ rệt. Điều này càng có ý nghĩa trong môi trường số, khi thông tin cần được chia sẻ, phản hồi và giám sát dễ dàng hơn bao giờ hết.

(4) Xây dựng một nền hành chính “kiến tạo phát triển” đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có tư duy chiến lược, năng lực hoạch định chính sách và tinh thần đổi mới sáng tạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Do đó, cần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, hiện đại, có năng lực, bản lĩnh, đạo đức và tinh thần phụng sự. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ là “xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch…”22; đồng thời, “lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”23.

(5) Xây dựng nền hành chính liêm chính và phục vụ không thể tách rời khỏi sự giám sát và tham gia của Nhân dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân vừa là mục tiêu, vừa là chủ thể của quản lý xã hội. Người khẳng định: “Dân chúng biết kiểm soát thì cán bộ không dám hư hỏng”24. Do đó, phải thiết lập cơ chế dân chủ thực chất, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội, các thiết chế giám sát của Mặt trận Tổ quốc, đồng thời nâng cao năng lực phản biện và đối thoại xã hội. Các hình thức như tiếp xúc cử tri, lấy ý kiến cộng đồng, phản ánh qua cổng thông tin điện tử cần được đổi mới để bảo đảm người dân thực sự có tiếng nói và được tôn trọng trong tiến trình chính sách.

Xây dựng một nền hành chính liêm chính, phục vụ và kiến tạo phát triển là giải pháp nền tảng để hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội trong điều kiện hiện nay. Đây là nền hành chính đặt người dân vào vị trí trung tâm, kết hợp giữa pháp quyền – đạo đức – công nghệ, hướng đến một nhà nước kiến tạo phát triển, dân chủ, công bằng và văn minh, như khát vọng Người hằng mong mỏi.

Ba là, đẩy mạnh thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò Nhân dân trong quản lý xã hội.

Một trong những giải pháp trọng tâm để hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội là phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân, trước hết là tại cơ sở – nơi gần dân nhất, sát dân nhất, gắn bó trực tiếp với đời sống hằng ngày của Nhân dân. Người dân không chỉ là đối tượng phục vụ mà còn là chủ thể tích cực trong toàn bộ quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chính sách. Do đó, việc thực hiện nghiêm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở là yêu cầu tất yếu và cấp thiết để thúc đẩy hiệu quả quản lý xã hội trong giai đoạn hiện nay.

(1) Cần mở rộng và thể chế hóa cơ chế để Nhân dân tham gia thực chất vào quản lý xã hội, đặc biệt trong các khâu xây dựng, giám sát và phản biện chính sách. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, dù đã có những bước tiến quan trọng, song nhiều quy trình lấy ý kiến Nhân dân vẫn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu và chưa tạo được cơ chế phản hồi hai chiều. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2023) theo hướng ràng buộc trách nhiệm của chính quyền trong việc tiếp thu, phản hồi và báo cáo lại ý kiến người dân. Đồng thời, khuyến khích sự tham gia sâu rộng của Nhân dân thông qua các hội nghị đối thoại, diễn đàn chính sách, hoặc lấy ý kiến qua môi trường số, mạng xã hội chính thống.

(2) Thực hiện nghiêm túc các quy định về công khai, minh bạch thông tin – một điều kiện tiên quyết để Nhân dân thực sự có thể tham gia giám sát và phản biện xã hội. Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, Dân chủ với Nhân dân phải đi đôi với công khai và minh bạch, phải để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Trong điều kiện hiện nay, việc công khai phải gắn với công nghệ số, công bố thông tin trên cổng thông tin điện tử cấp xã, phường, thị trấn, cũng như tại nơi tiếp công dân, các khu dân cư… Các nội dung về thu – chi ngân sách, quy hoạch – kế hoạch sử dụng đất, các chương trình đầu tư công, tuyển dụng công chức, sử dụng quỹ xã hội…, cần được công khai rõ ràng, kịp thời và dễ tiếp cận với người dân.

(3) Cần tiếp tục phát triển các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện một cách cân đối và bổ sung cho nhau. Trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân là gốc”, cần khuyến khích các hình thức dân chủ trực tiếp tại cơ sở, như trưng cầu ý kiến, lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ khu dân cư, hoặc biểu quyết nhân dân về các khoản đóng góp, dự án cộng đồng. Đồng thời, tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong công tác vận động Nhân dân, giám sát quyền lực, phản biện chính sách. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 đã quy định rõ bốn nội dung nhân dân được thực hiện, gồm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; nhưng để nội dung này đi vào cuộc sống, cần sự cam kết thực sự từ cấp ủy, chính quyền địa phương và cán bộ cơ sở.

(4) Phát huy sáng tạo các mô hình “tự quản cộng đồng” – một hình thức tổ chức xã hội có tính linh hoạt và hiệu quả cao, phù hợp với đặc điểm quản trị đa trung tâm trong xã hội hiện đại. Các mô hình như tổ dân phố tự quản, nhóm bảo vệ môi trường, nhóm cộng đồng phòng, chống tội phạm, tổ an ninh trật tự, đội cứu nạn khẩn cấp, hợp tác xã đô thị… đang phát huy hiệu quả trong nhiều địa phương. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến nếu lòng dạ không trong sáng nữa”25 – vì vậy, sự tự quản của cộng đồng chính là thước đo phẩm chất dân chủ của một xã hội và là cơ chế để kiểm soát quyền lực hữu hiệu từ Nhân dân.

(5) Tăng cường giáo dục nâng cao ý thức pháp luật, ý thức công dân và năng lực thực hành dân chủ cho người dân. Một trong những cản trở của thực hiện dân chủ ở cơ sở là tình trạng dân chủ hình thức do người dân chưa hiểu quyền, chưa biết thực thi quyền hoặc ngại va chạm. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác thông tin – truyền thông, giáo dục pháp luật, tổ chức các lớp bồi dưỡng, tọa đàm cộng đồng để Nhân dân hiểu rõ quyền hạn và trách nhiệm của mình. Đây cũng là một cách thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là, phải làm cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân tin.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức, năng lực và tư duy quản lý hiện đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của người cán bộ trong quản lý xã hội. Theo Người, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”26, “muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”27. Vì vậy, để hiện thực hóa tư tưởng của Người cần phải: (1) Đổi mới công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, gắn lý luận với thực tiễn; (2) Chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng, đề cao tinh thần: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ngăn chặn biểu hiện suy thoái, cơ hội, lợi ích nhóm trong bộ máy công quyền; (3) Kiện toàn cơ chế kiểm tra, giám sát cán bộ và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ cương, kỷ luật, vi phạm đạo đức công vụ. Bên cạnh đó, phải đổi mới tư duy quản lý cán bộ theo hướng “mở”, năng động, linh hoạt, biết tiếp thu tri thức khoa học, công nghệ và quản trị hiện đại trong điều hành xã hội.

Năm là, đẩy mạnh việc thực hiện sáng tạo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò làm chủ và giám sát của Nhân dân.

Việc đẩy mạnh, phát huy dân chủ không chỉ củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước mà còn góp phần xây dựng một xã hội hài hòa, ổn định và phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định dân là chủ, dân làm chủ: “Ở nước ta, chính quyền của nhân dân, do nhân dân làm chủ… nhân dân là ông chủ nắm chính quyền”28. Vì thế, cần xây dựng và vận hành hiệu quả Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để người dân tham gia thực chất vào quá trình quản lý xã hội. Điều đó đòi hỏi: (1) Tăng cường tính công khai, minh bạch trong các hoạt động quản lý công; (2) Mở rộng kênh tiếp nhận phản ánh, kiến nghị và đối thoại trực tiếp giữa chính quyền và Nhân dân; (3) Thúc đẩy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể Nhân dân trong phản biện, giám sát và bảo vệ quyền lợi của người dân; (4) Hỗ trợ, phát triển các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư, qua đó, nâng cao tính tự quản, tự điều chỉnh trong cộng đồng. Theo Người: “Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là phụng sự cho lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân”29.

Sáu là, tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật gắn với phát triển đạo đức công dân.

Trong điều kiện phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình chuyển đổi số, việc tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật gắn với phát triển đạo đức công dân là một giải pháp căn bản nhằm xây dựng một xã hội kỷ cương, văn minh, đồng thuận và phát triển bền vững. Quản lý xã hội không thể chỉ dựa vào các chế tài mang tính cưỡng chế pháp lý, mà cần được đặt trên nền tảng văn hóa pháp lý, đạo đức công dân và sự tự giác chấp hành của mỗi người dân.

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, phù hợp với thực tiễn; đồng thời, bảo đảm tính minh bạch, công khai và dễ tiếp cận. Pháp luật phải được xây dựng theo phương châm: dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ giám sát. Các quy định pháp luật không nên quá phức tạp hoặc trừu tượng, gây khó khăn cho người dân trong việc tuân thủ. Đây cũng chính là yêu cầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh khi khẳng định rằng, muốn trị nước phải theo pháp luật; pháp luật phải rõ ràng, nghiêm minh; cán bộ phải gương mẫu thi hành pháp luật.

Bên cạnh đó, cần chú trọng phát triển đạo đức công dân – yếu tố gắn liền với ý thức tự giác chấp hành pháp luật và đóng vai trò điều chỉnh hành vi trong những tình huống mà pháp luật không thể bao quát hết. Đạo đức công dân cần được định hướng và vun đắp thông qua giáo dục chính trị – tư tưởng, giáo dục pháp luật và xây dựng các chuẩn mực văn hóa ứng xử trong cộng đồng. Việc xây dựng và thực hành đạo đức xã hội không chỉ là công việc của nhà trường, mà còn cần sự vào cuộc của gia đình, các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng dân cư và truyền thông đại chúng.

Trong thời đại công nghệ số, vai trò của truyền thông và giáo dục công dân số cần được đẩy mạnh hơn nữa, nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật trong thế giới số. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các hành vi lệch chuẩn và vi phạm pháp luật trên không gian mạng ngày càng phổ biến và khó kiểm soát. Do đó, cần xây dựng các chương trình truyền thông pháp luật có tính giáo dục sâu rộng, dễ tiếp cận, gắn với các tình huống thực tiễn, đồng thời triển khai các khóa học, chuyên đề về công dân số, an toàn thông tin và đạo đức mạng trong trường học và cộng đồng.

Quản lý xã hội bằng pháp luật phải luôn gắn chặt với phát triển đạo đức công dân – hai yếu tố bổ sung, hỗ trợ và thúc đẩy nhau trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Chỉ khi người dân hiểu pháp luật, tin vào pháp luật, tự giác tuân thủ pháp luật và có đạo đức công dân vững vàng thì pháp luật mới thực sự đi vào cuộc sống, trở thành công cụ hiệu quả để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội một cách ổn định và bền vững.

Bảy là, ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý xã hội.

Trong thời đại công nghệ số, chuyển đổi số trong quản lý xã hội là công cụ hiện đại hóa bộ máy nhà nước, góp phần thực hiện lời dạy của Người, phải gắn liền lý luận với thực tiễn, kế hoạch với hành động, nói đi đôi với làm. Bởi vậy, quản lý xã hội không thể tách rời việc ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính khoa học, hiệu quả, sát dân trong quản lý xã hội cần được vận dụng thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ sau: (1) Phát triển chính phủ số, chính quyền số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến hiệu quả, minh bạch; (2) Sử dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), Blockchain để phân tích, dự báo và ra quyết định quản lý chính xác; (3) Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và hệ thống thông tin quản lý liên thông giữa các ngành, các cấp; (4) Tăng cường an ninh mạng và bảo vệ quyền riêng tư của người dân trong môi trường số.

4. Kết luận

Trong bối cảnh hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh giữ vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tư tưởng của Người về quản lý xã hội có giá trị soi chiếu cho việc xây dựng và tổ chức thực thi chiến lược phát triển đất nước, cung cấp nền tảng lý luận và thực tiễn cho việc đổi mới cơ chế, chính sách, bảo đảm ổn định chính trị, hướng tới một xã hội phát triển bền vững, lấy con người làm trung tâm và hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Chú thích:
1, 2, 3, 6, 16. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 21, 21, 241, 64 – 65, 175.
4, 5, 24, 26, 27. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011. tr. 286, 333, 314, 309, 280.

7, 17, 21. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 458, 232, 16.

8, 18.  Hồ Chí Minhtoàn tập (2021). Tập 11. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 404, 612.
9, 12, 13, 25. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 224, 292, 611, 672.
10, 11, 28. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 8. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 274, 274, 263.
14. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 454.
15, 20. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 14. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 455, 141.
19, 29. Hồ Chí Minh toàn tập (2021). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 372, 361 – 362.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 176.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 382.