Phát triển mô hình du lịch nông thôn gắn với vùng cây ăn quả chủ lực: kinh nghiệm thực tiễn và giải pháp cho tỉnh Bắc Ninh

Developing a rural tourism model linked to key fruit-growing regions: practical experiences and solutions for Bac Ninh province

TS. Nguyễn Duy Đạt
Trường Đại học Thương mại

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”, du lịch nông thôn đang trở thành hướng phát triển quan trọng nhằm nâng cao giá trị gia tăng của nông sản, đa dạng hóa sinh kế và thúc đẩy phát triển bền vững ở khu vực nông thôn. Bài viết phân tích vai trò của du lịch nông thôn gắn với vùng cây ăn quả chủ lực; đồng thời, tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn từ các địa phương tiêu biểu, như Đồng Tháp, Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng), Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long) và Sơn La. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự kết hợp giữa du lịch nông nghiệp với vùng chuyên canh cây ăn quả không chỉ giúp mở rộng chuỗi giá trị nông sản thông qua mô hình “xuất khẩu tại chỗ” mà còn góp phần bảo tồn văn hóa bản địa, phát triển nông nghiệp xanh và nâng cao đời sống người dân. Từ đó, đề xuất một số hàm ý chính sách cho các địa phương, đặc biệt là tỉnh Bắc Ninh, bao gồm quy hoạch đồng bộ, phát triển hạ tầng, chuẩn hóa quy trình canh tác, phát triển nguồn nhân lực bản địa, thúc đẩy liên kết hợp tác xã và tăng cường chuyển đổi số trong quảng bá du lịch.

Từ khóa: Du lịch nông thôn; cây ăn quả chủ lực; du lịch nông nghiệp; phát triển bền vững; Bắc Ninh.

Abstract: Amid a shift from an “agricultural production” mindset to an “agricultural economy” mindset, rural tourism is emerging as a key development direction to increase the value added of agricultural products, diversify livelihoods, and promote sustainable development in rural areas. This article analyzes the role of rural tourism in major fruit-growing regions and synthesizes practical experiences from exemplary localities, including Dong Thap, Hai Duong (now Hai Phong City), Ben Tre (now Vinh Long Province), and Son La. The research findings indicate that integrating agritourism with specialized fruit-growing regions not only helps expand the agricultural value chain through the “on-site export” model but also contributes to preserving local culture, developing green agriculture, and improving the livelihoods of local residents. Consequently, several policy implications are proposed for localities, particularly Bac Ninh Province, including integrated planning, infrastructure development, standardization of farming practices, development of local human resources, promotion of cooperative linkages, and strengthening digital transformation in tourism promotion.

Keywords: Rural tourism, major fruit crops, agritourism, sustainable development, Bac Ninh.

1. Đặt vấn đề

Những năm gần đây, du lịch nông thôn nổi lên như một xu hướng phát triển tất yếu, tạo ra nhiều giá trị kinh tế, xã hội và môi trường cho các địa phương. Không chỉ đáp ứng nhu cầu trải nghiệm văn hóa, khám phá cảnh quan sinh thái và tìm về không gian sống truyền thống của du khách, du lịch nông thôn còn góp phần tạo sinh kế mới, đa dạng hóa ngành nghề và gia tăng thu nhập cho người dân nông thôn. Đặc biệt, việc phát triển du lịch nông thôn gắn với vùng chuyên canh cây ăn quả chủ lực được xem là hướng đi mang tính chiến lược trong tiến trình chuyển đổi từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”. Sự kết hợp này giúp nâng cao giá trị gia tăng của nông sản thông qua hoạt động trải nghiệm, tiêu dùng tại chỗ và phát triển các sản phẩm chế biến sâu. Đồng thời, mô hình còn góp phần thúc đẩy nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và bảo tồn không gian sinh thái nông thôn.

Thực tiễn tại nhiều địa phương như Đồng Tháp, Hải Dương cũ, Bến Tre cũ và Sơn La cho thấy mô hình du lịch nông thôn gắn với cây ăn quả đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Các địa phương này đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và nông nghiệp hữu cơ; phát triển sản phẩm OCOP; ứng dụng công nghệ cao; phát huy vai trò của hợp tác xã và tăng cường liên kết cộng đồng. Qua đó, những vùng chuyên canh cây ăn quả không chỉ là nơi sản xuất nông nghiệp mà còn trở thành không gian trải nghiệm du lịch hấp dẫn.

2. Vai trò của du lịch nông thôn

2.1. Vai trò kinh tế

Du lịch nông thôn góp phần tạo việc làm, đa dạng hóa sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương, qua đó hỗ trợ giảm nghèo hiệu quả. Loại hình du lịch này còn thúc đẩy quá trình phân phối lại thu nhập giữa các vùng và tạo cơ hội phát triển kinh tế tại khu vực nông thôn. Ngoài ra, du lịch nông thôn giúp hình thành các hoạt động kinh doanh mới, duy trì các dịch vụ địa phương và giảm sự phụ thuộc của người dân vào sản xuất nông nghiệp truyền thống. Việc tiêu thụ nông sản trực tiếp tại điểm du lịch cũng tạo điều kiện nâng cao giá trị nông sản và giảm áp lực đầu ra. Đáng chú ý, mô hình này còn tạo việc làm tại chỗ cho phụ nữ, người cao tuổi và người khuyết tật, đồng thời hạn chế tình trạng di cư lao động ra đô thị. Trong nhiều trường hợp, du lịch nông thôn còn thu hút thanh niên có trình độ quay trở về địa phương để khởi nghiệp và phát triển kinh tế.

2.2. Vai trò xã hội

Du lịch nông thôn góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống, nâng cao dân trí và thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới. Sự phát triển của du lịch kéo theo nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng, giao thông, điện, nước và các công trình công cộng tại địa phương. Bên cạnh đó, du lịch nông thôn tạo thêm cơ hội nghề nghiệp cho thanh niên, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và khơi dậy niềm tự hào về văn hóa bản địa. Đồng thời, hoạt động này cũng góp phần nâng cao năng lực nguồn nhân lực địa phương, thúc đẩy bình đẳng giới và hỗ trợ các nhóm yếu thế tham gia vào các hoạt động kinh tế – xã hội.

2.3. Vai trò văn hóa và môi trường

Du lịch nông thôn là công cụ quan trọng để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bao gồm nghệ thuật dân gian, nghề thủ công và tập quán sinh hoạt địa phương. Bên cạnh đó, loại hình du lịch này còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, duy trì cảnh quan tự nhiên và cải thiện diện mạo nông thôn theo hướng xanh – sạch – đẹp. Các mô hình du lịch gắn với sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn và hạn chế hóa chất đang trở thành xu hướng phát triển bền vững tại nhiều địa phương.

3. Kinh nghiệm phát triển mô hình du lịch nông thôn gắn với vùng cây ăn quả chủ lực tại một số địa phương ở Việt Nam

3.1. Kinh nghiệm của Đồng Tháp

Đồng Tháp là địa phương có lợi thế về hệ thống sông ngòi, kênh rạch và các vùng cây ăn quả đặc sản. Trước áp lực biến động giá nông sản, nhiều hộ nông dân đã chuyển đổi từ tư duy sản xuất thuần túy sang kết hợp phát triển du lịch miệt vườn nhằm gia tăng giá trị kinh tế và quảng bá văn hóa địa phương.

(1) Mô hình gia tăng chuỗi giá trị tại vườn quýt hồng Lai Vung.

Lai Vung được xem là “vương quốc quýt hồng” của Đồng Tháp với nhiều vườn đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch. Điểm nổi bật của mô hình là việc áp dụng quy trình canh tác VietGAP, hữu cơ và sử dụng phân hữu cơ nhằm phục hồi đất sau dịch bệnh. Nhà vườn không chỉ bán trái cây tươi mà còn phát triển nhiều sản phẩm chế biến sâu như nước ép, mứt và rượu quýt nhằm kéo dài chuỗi giá trị sản phẩm. Chủ vườn trực tiếp hướng dẫn du khách tham quan, chia sẻ kinh nghiệm canh tác và kể câu chuyện về văn hóa miệt vườn. Mô hình này tạo ra “thu nhập kép” từ cả hoạt động du lịch và tiêu thụ nông sản. Đồng thời, kinh nghiệm của Lai Vung cho thấy việc phát triển sản phẩm chế biến sâu và phát huy vai trò của người nông dân như “đại sứ thương hiệu” là yếu tố quan trọng để nâng cao tính hấp dẫn của điểm đến.

(2) Mô hình liên kết cộng đồng tại làng du lịch “Cây xoài nhà tôi”.

Tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, người dân đã liên kết phát triển du lịch cộng đồng dựa trên thương hiệu xoài Cao Lãnh đạt tiêu chuẩn GlobalGAP và VietGAP.

Thay vì đầu tư cơ sở vật chất quy mô lớn, mô hình tập trung vào trải nghiệm đời sống nông nghiệp như cắt tỉa cành, bao trái và thu hoạch xoài. Các hộ dân phân công vai trò rõ ràng như phục vụ tham quan, ẩm thực hoặc giới thiệu văn hóa địa phương. Mô hình này cho thấy sức mạnh của kinh tế chia sẻ và liên kết cộng đồng trong phát triển du lịch nông thôn. Những hoạt động sản xuất thường nhật của người dân đã trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn đối với du khách đô thị.

(3) Mô hình tạo khác biệt tại vườn sinh thái Nam Hương.

Điểm nhấn của mô hình là phát triển hơn 80 loại cây ăn quả đặc sản và độc lạ; trong đó có cây vú sữa Nam Hương, ruột đặc, không mủ, ăn được cả vỏ và đạt chứng nhận OCOP 4 sao. Kinh nghiệm từ mô hình này cho thấy các địa phương có điều kiện tự nhiên hạn chế vẫn có thể phát triển du lịch thông qua chiến lược tạo sự khác biệt và xây dựng thương hiệu sản phẩm đặc hữu.

(4) Mô hình nông nghiệp tuần hoàn và công nghệ cao.

Các mô hình như Ecofarm và Nông trại Suối Gạo áp dụng hệ thống nhà màng, tưới tự động và sản xuất tuần hoàn khép kín. Đối tượng khách hàng chủ yếu là gia đình và học sinh. Du khách được tham gia các hoạt động trải nghiệm như thu hoạch nông sản, quan sát hệ thống canh tác công nghệ cao và học tập về nông nghiệp tuần hoàn. Đây là xu hướng kết hợp giáo dục và du lịch có tiềm năng phát triển lớn.

3.2. Kinh nghiệm của Hải Dương cũ

(1) Mô hình du lịch sinh thái vườn vải Thanh Hà.

Thanh Hà nổi tiếng với vùng chuyên canh vải thiều và các điểm du lịch sinh thái như Đồng Mẩn hay Cây Vải Tổ. Du khách không chỉ tham gia thu hoạch vải mà còn trải nghiệm du thuyền, ẩm thực địa phương và không gian sinh thái ven sông.

Địa phương đã chủ động nâng cấp hạ tầng, chuẩn hóa vùng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và tổ chức tập huấn kỹ năng du lịch cho người dân. Một kinh nghiệm đáng chú ý là việc kết hợp đa dạng các hệ sinh thái, như ao sen, nuôi rươi và nuôi cá nhằm kéo dài thời gian khai thác du lịch, hạn chế tính mùa vụ của cây vải.

(2) Mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại Gia Lộc.

Mô hình trồng nho Hạ Đen trong nhà màng tại Gia Lộc cho thấy hiệu quả nổi bật trong việc kết hợp nông nghiệp công nghệ cao với du lịch trải nghiệm. Không gian sản xuất sạch, hiện đại và có tính thẩm mỹ cao đã trở thành điểm “check-in” hấp dẫn đối với du khách. Ngoài doanh thu từ bán nông sản, mô hình còn tạo thêm nguồn thu từ dịch vụ tham quan, chụp ảnh và bán hàng trực tuyến.

Thực tiễn cho thấy vai trò điều phối của cơ quan quản lý nhà nước là rất quan trọng nhằm tránh tình trạng phát triển tự phát; trong đó, đã xây dựng bản đồ du lịch nông sản theo mùa vụ để cung cấp thông tin minh bạch cho du khách; đồng thời, xây dựng sản phẩm mang tính đặc trưng và thương hiệu riêng để tăng sức cạnh tranh.

3.3. Kinh nghiệm của Bến Tre cũ

Bến Tre là một trong những địa phương có diện tích cây ăn quả lớn tại đồng bằng sông Cửu Long với nhiều sản phẩm chủ lực như dừa, sầu riêng, chôm chôm và bưởi da xanh. Nhận thức được tiềm năng này, địa phương đã xem du lịch nông nghiệp là một trong những trụ cột phát triển kinh tế.

(1) Mô hình vườn kiểu mẫu kết hợp du lịch.

Mô hình này tập trung tại một số khu vực, như: Thạnh Phú, Mỏ Cày Nam … với định hướng sản xuất hữu cơ và sử dụng thiên địch trong quản lý sâu bệnh. Hoạt động du lịch được xây dựng dựa trên trải nghiệm canh tác sinh học, tham quan vườn hữu cơ và thưởng thức nông sản sạch ngay tại vườn.

(2) Mô hình làng văn hóa du lịch Chợ Lách.

Đây là mô hình kết hợp vùng chuyên canh sầu riêng, chôm chôm và cây giống với trải nghiệm văn hóa – kỹ thuật nông nghiệp. Du khách không chỉ tham quan mà còn trực tiếp tham gia các hoạt động như chiết cành, ghép cây và tạo dáng bonsai dưới sự hướng dẫn của nghệ nhân địa phương.

(3) Mô hình du lịch sinh thái miệt vườn gắn với “xuất khẩu tại chỗ”.

Các hộ dân ở Châu Thành tỉnh Vĩnh Long liên kết với các điểm du lịch để tiêu thụ trái cây trực tiếp cho du khách. Mô hình này giúp tăng giá trị nông sản, giảm phụ thuộc vào thương lái và nâng cao thu nhập cho người dân.

(4) Mô hình farmstay trải nghiệm đa giác quan.

Farmstay tại Mỏ Cày Nam được xây dựng theo mô hình kết hợp nông nghiệp, nghỉ dưỡng và trải nghiệm văn hóa địa phương. Du khách được trực tiếp tham gia chăm sóc cây trồng, vật nuôi, chế biến thực phẩm và trải nghiệm đời sống miệt vườn Nam Bộ.

3.4. Kinh nghiệm của Sơn La

Sơn La đã chuyển đổi thành công từ vùng sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả sang trung tâm cây ăn quả lớn của miền Bắc. Việc phát triển du lịch gắn với các vùng nguyên liệu đã giúp địa phương nâng cao giá trị nông sản và cải thiện sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số.

(1) Mô hình du lịch trải nghiệm tại vườn.

Tại Mộc Châu và Yên Châu, các vườn mận, dâu tây, xoài và hồng đã trở thành điểm đến thu hút đông đảo du khách vào mùa hoa và mùa thu hoạch. Mô hình cho phép du khách trải nghiệm trực tiếp các hoạt động nông nghiệp, đồng thời hỗ trợ tiêu thụ nông sản tại chỗ.

(2) Mô hình nông nghiệp tuần hoàn gắn với du lịch xanh.

Các mô hình như Lõi Tươi Farm hay Hợp tác xã 19/5 áp dụng sản xuất tuần hoàn, tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp và phát triển sản phẩm chế biến sâu. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế du lịch xanh và tiêu dùng bền vững hiện nay.

Sơn La cũng đã khai thác hiệu quả các lễ hội mùa hoa và mùa quả, như Ngày hội hái mận Mộc Châu, Ngày hội xoài Yên Châu hay Lễ hội nhãn Sông Mã để quảng bá nông sản và thu hút khách du lịch. Thực tiễn từ tỉnh Sơn La cho thấy cần đồng bộ hóa chính sách hỗ trợ, phát triển nông nghiệp sinh thái công nghệ cao, phát huy vai trò của hợp tác xã và gắn du lịch với bảo tồn văn hóa dân tộc bản địa.

4. Một số gợi ý chính sách

4.1. Quy hoạch đồng bộ, đầu tư hạ tầng và phát huy vai trò của cơ quan quản lý

Cần gắn kết chặt chẽ quy hoạch phát triển vùng chuyên canh cây ăn trái với quy hoạch du lịch để bảo đảm chúng hỗ trợ lẫn nhau và phát triển bền vững. Nhà nước cần lồng ghép các nguồn vốn để ưu tiên đầu tư, nâng cấp hệ thống giao thông (đường liên ấp, liên xã, giao thông nội đồng), bãi đỗ xe, điện, nước và hệ thống xử lý rác thải phục vụ song song cho cả logistics nông sản và du lịch. Tránh tình trạng người dân làm du lịch tự phát, “mạnh ai người ấy làm”. Cơ quan quản lý nhà nước phải đứng ra làm đầu mối kết nối các hộ nông dân với các công ty lữ hành, từ đó thiết kế các tour tuyến bài bản và chuyên nghiệp.

4.2. Chuẩn hóa quy trình canh tác và ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao

Từ kinh nghiệm của Hải Dương và Đồng Tháp, cần có chính sách khuyến khích nông dân chuyển đổi sang phương thức canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, nông nghiệp hữu cơ, sử dụng thiên địch và hạn chế hóa chất. Điều này không chỉ cung cấp nông sản sạch mà còn tạo không gian tham quan an toàn, bảo vệ môi trường.Phát triển hệ thống nhà màng khép kín, tưới tự động hoặc mô hình tuần hoàn khép kín để kiểm soát sâu bệnh và tạo cảnh quan sạch đẹp, lý tưởng cho du khách “check-in” mà không bị ảnh hưởng bởi thời tiết.Địa phương cần hỗ trợ xây dựng hoặc kết nối với các trung tâm kiểm định chất lượng (test kim loại nặng, dư lượng thuốc) tại chỗ để tiết kiệm thời gian, chi phí cho nông dân khi muốn bán sản phẩm cao cấp.

4.3. Khắc phục tính mùa vụ, đa dạng hóa sản phẩm và tạo điểm nhấn khác biệt (USP)

Trái cây tươi thường có tính thời vụ ngắn. Từ kinh nghiệm của Hải Dương cũ và Sơn La, cần kéo dài chuỗi giá trị và duy trì nguồn thu bằng cách chế biến sâu thành mứt, rượu, hoa quả sấy, nước ép. Kết hợp mô hình vườn cây ăn quả với việc trồng ao sen, nuôi cá, nuôi rươi để có thể đón khách du lịch quanh năm. Nếu địa phương có những vùng đất gặp bất lợi về thổ nhưỡng, cần biến đó thành lợi thế bằng tư duy độc lạ (sưu tầm các giống cây độc, hiếm) hoặc khai thác các chứng nhận độc quyền, chỉ dẫn địa lý để tạo sự tò mò cho du khách. Đồng thời, có thể tổ chức các sự kiện, lễ hội mùa vụ gắn với chu kỳ ra hoa, kết trái để kích cầu du lịch quy mô lớn.

4.4. Lấy nông dân làm trung tâm và phát triển nguồn nhân lực bản địa

Thực tiễn từ Đồng Tháp cho thấy việc để chính người nông dân chân lấm tay bùn làm hướng dẫn viên, kể câu chuyện miệt vườn và chia sẻ kinh nghiệm canh tác sẽ tạo ra sự chân thực, thân thiện, thu hút du khách. Các địa phương cần mở lớp tập huấn, đào tạo cho nông dân về văn hóa kinh doanh, nghiệp vụ phục vụ du lịch, kỹ năng giao tiếp và ứng dụng công nghệ số. Có thể thành lập “Tổ cộng tác viên hướng dẫn du lịch” từ chính nguồn lực tại chỗ.

4.5. Phát huy sức mạnh liên kết cộng đồng và vai trò “bà đỡ” của các hợp tác xã

Kinh nghiệm thực tiễn từ Bến Tre cũ: thay vì cạnh tranh, người dân cần liên kết tạo ra sự phân công lao động rõ ràng trong một cộng đồng (hộ làm dịch vụ tham quan, hộ phụ trách ẩm thực, hộ làm lưu trú) để giữ chân du khách lâu hơn. Hợp tác xã cần đóng vai trò pháp nhân đứng ra chuẩn hóa quy trình canh tác, đầu tư chế biến sâu và trực tiếp liên kết với các doanh nghiệp lữ hành để bảo đảm nguồn khách ổn định, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún. Đẩy mạnh tư duy “xuất khẩu tại chỗ”, đưa trực tiếp trái cây lên bàn ăn phục vụ du khách ngay tại vườn để bán được giá cao hơn.

4.6. Tích hợp văn hóa bản địa và đẩy mạnh chuyển đổi số 4.0

Thực tiễn mô hình tại các địa phương đều có xu hướng lồng ghép không gian trải nghiệm nhà vườn với các di sản văn hóa, ẩm thực địa phương, dân ca dân vũ và các làng nghề thủ công truyền thống để tạo chiều sâu và tránh sự nhàm chán. Theo đó, cần hệ thống hóa điểm đến bằng bản đồ du lịch nông sản chi tiết (phân định rõ mùa hoa, mùa trái) để định hướng cho du khách. Khuyến khích số hóa điểm đến, áp dụng thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc bằng mã QR và mạng xã hội để tiếp thị rộng rãi.

5. Kết luận

Phát triển du lịch nông thôn gắn với vùng cây ăn quả chủ lực là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển kinh tế nông nghiệp hiện đại và bền vững. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, mô hình này không chỉ nâng cao giá trị gia tăng của nông sản mà còn tạo sinh kế bền vững, bảo tồn văn hóa địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế xanh. Đối với tỉnh Bắc Ninh, việc vận dụng các bài học kinh nghiệm từ các địa phương đi trước cần được triển khai theo hướng đồng bộ giữa quy hoạch, hạ tầng, chuyển đổi số, liên kết cộng đồng và phát triển nguồn nhân lực. Trong dài hạn, đây sẽ là nền tảng quan trọng để xây dựng mô hình du lịch nông thôn đặc trưng, góp phần phát triển kinh tế địa phương theo hướng bền vững.

Tài liệu tham khảo:
1. Bùi. (2019). Sự hình thành và quan niệm du lịch nông thôn ở một số quốc gia trên thế giới – Kinh nghiệm cho phát triển du lịch nông thôn Việt Nam. Tạp chí Công Thương. https://tapchicongthuong.vn
2. Hồ, N. N. (2023). Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn trong phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn bền vững.
3. Nguyễn, H. H., & Hà, T. N. H. (2020). Đánh giá mô hình phát triển du lịch nông nghiệp tại huyện Đắk Pơ, tỉnh Gia Lai.
4. Nguyễn, T. M. H. (2016). Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch miền núi, nghiên cứu điển hình tại Sa Pa, Lào Cai (Luận án tiến sĩ). Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
5. Phạm, L. T. (2018). Liên kết phát triển du lịch cộng đồng. Trong Chính sách phát triển du lịch cộng đồng và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam.
6. Võ, Q. (2006). Du lịch cộng đồng – Lý thuyết và vận dụng. Tập 1. H. NXB Khoa học Kỹ thuật.
7. Võ, H. T., Nguyễn, Q. T., Nguyễn, T. T., & Huỳnh, T. T. (2018). Đánh giá tiềm năng phát triển vườn cây ăn trái đặc sản gắn với du lịch tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Can Tho University Journal of Science, 54(1), 203. https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2018.024
8. Barbieri, C. (2013). Assessing the sustainability of agritourism in the US: A comparison between agritourism and other farm entrepreneurial ventures. Journal of Sustainable Tourism, 21(2), 252–270. https://doi.org/10.1080/09669582.2012.685174
9. Gannon, A. (1994). Rural tourism as a factor in rural community economic development for economies in transition. Journal of Sustainable Tourism, 2(1–2), 51–60. https://doi.org/10.1080/09669589409510683
10. Irshad, H. (2010). Rural tourism: An overview.
11. Lane, B., & Kastenholz, E. (2018). Rural tourism: New concepts, new research, new practice. Routledge. https://doi.org/10.4324/9781315111865
12. McGehee, N. G., Kim, K., & Jennings, G. R. (2007). Gender and motivation for agri-tourism entrepreneurship. Tourism Management, 28(1), 280–289.
13. Phạm, M. H. (2013). Residents’ attitudes and participation in tourism development in Ba Be National Park, Vietnam (Master’s thesis). Daegu University.