(Quanlynhanuoc.vn) – Chiều ngày 21/5/2026, Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức Tọa đàm khoa học “Cơ sở lý luận hoàn thiện thể chế về phân cấp, phân quyền giữa các cấp chính quyền ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới”. Tọa đàm thuộc Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2026 “Hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền giữa các cấp chính quyền ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới” của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, do PGS.TS Trần Thị Diệu Oanh – Trưởng Khoa Luật – làm Chủ nhiệm đề tài. Tọa đàm có sự tham gia của các thành viên trong nhóm đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, cùng sự tham gia đông đảo của các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài Học viện, giảng viên và nghiên cứu sinh Khoa Luật.

Phát biểu đề dẫn Tọa đàm, PGS.TS Trần Thị Diệu Oanh nhấn mạnh phân cấp, phân quyền trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn cải cách mạnh mẽ nhằm xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực và hiệu quả. Trong điều kiện thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy, bỏ cấp huyện, sáp nhập đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc xác định đúng thẩm quyền của từng cấp chính quyền theo nguyên tắc “cấp tốt nhất” trở thành yêu cầu cấp thiết. Theo đó, Trung ương giữ vai trò kiến tạo, điều tiết vĩ mô và kiểm tra, giám sát; còn địa phương được trao quyền chủ động quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm. PGS.TS Trần Thị Diệu Oanh khẳng định phân quyền không chỉ là yêu cầu của quản lý hành chính mà còn là nhiệm vụ chính trị chiến lược trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 27-NQ/TW và các phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm, nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm, nguồn lực và kiểm soát quyền lực. Chính phủ cũng đã ban hành 28 nghị định nhằm cụ thể hóa cơ chế phân quyền, phân cấp giữa Trung ương và các cấp chính quyền địa phương.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hệ thống pháp luật vẫn tồn tại nhiều bất cập, như: chưa phân định rõ giữa “phân quyền” và “phân cấp”, thiếu đồng bộ giữa luật chung và luật chuyên ngành, địa phương chưa được tự chủ thực chất, và còn tồn tại cơ chế “xin – cho”. Ngoài ra, quá trình chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đòi hỏi mô hình quản trị linh hoạt hơn, nhưng các quy định hiện hành chưa theo kịp những yêu cầu mới.
Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền theo hướng minh bạch, đồng bộ, gắn với trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực và bảo đảm nguồn lực để thực thi. Đây là điều kiện quan trọng để xây dựng nền hành chính hiện đại, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Tham luận tại Tọa đàm, TS. Trần Thị Hải Yến nhấn mạnh về phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước ở Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ 1/7/2025. Trên nền tảng Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nhà nước xác định đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với bảo đảm nguồn lực, tăng cường giám sát và phát huy tính chủ động của địa phương. Các quy định mới trong Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đã làm rõ khái niệm, nguyên tắc và trách nhiệm trong việc phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương.
TS. Trần Thị Hải Yến cho rằng việc Chính phủ ban hành 28 nghị định về phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền tạo cơ sở pháp lý cho mô hình quản trị địa phương mới. Quá trình này góp phần tăng tính chủ động của địa phương trong quản lý ngân sách, giáo dục, đầu tư, tài nguyên và tổ chức bộ máy; nhiều địa phương, như: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng đã triển khai các cơ chế đặc thù nhằm thúc đẩy phát triển.
Tuy nhiên, thực tiễn vẫn tồn tại nhiều khó khăn, như chồng chéo pháp luật, nhận thức chưa thống nhất về các khái niệm “phân công”, “phân cấp”, “phân quyền”, hạn chế năng lực thực thi ở địa phương và tình trạng “phân cấp nhưng chưa được trao đủ nguồn lực”. Một số lĩnh vực, như đất đai, ngân sách, khoáng sản, vẫn còn lúng túng trong việc triển khai. Vì vậy, TS. Trần Thị Hải Yến cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm sự đồng bộ giữa phân quyền với cơ chế kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình và năng lực thực thi của chính quyền địa phương nhằm xây dựng nền quản trị hiện đại, hiệu quả và bền vững.

NCS.ThS Lê Thị Tình cho rằng vấn đề phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước tại các tỉnh vùng Tây Nguyên trong bối cảnh đổi mới quản trị quốc gia và quản trị địa phương theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng. Theo NCS.ThS Lê Thị Tình phân cấp, phân quyền là xu hướng tất yếu nhằm tăng quyền tự chủ, trách nhiệm và tính chủ động của chính quyền địa phương. Tây Nguyên có nhiều đặc thù về vị trí chiến lược, dân cư đa dân tộc, địa hình rộng lớn, cơ cấu buôn làng tự quản và vai trò quan trọng trong quốc phòng – an ninh. Tuy nhiên, khu vực này vẫn phát triển chưa tương xứng do cơ chế quản lý còn mang tính khuôn mẫu, thiếu cơ chế đặc thù và chưa phát huy hiệu quả quyền tự chủ của địa phương.
NCS.ThS Lê Thị Tình chỉ ra một số bất cập, như phân cấp chưa rõ ràng; nhiều lĩnh vực vẫn còn phụ thuộc vào Trung ương; năng lực cán bộ, tài chính và quản trị địa phương còn hạn chế; việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia còn lúng túng. Đồng thời, có lĩnh vực bị phân quyền quá mạnh như quản lý đất đai, tài nguyên rừng, dẫn đến việc khó kiểm soát hiệu quả.
Từ đó, NCS.ThS Lê Thị Tình đề xuất hoàn thiện thể chế phân cấp theo hướng gắn với đặc thù của vùng Tây Nguyên; tăng quyền tự chủ trong đầu tư công, tài chính, quản lý rừng, quy hoạch và phát triển vùng; đồng thời nâng cao năng lực bộ máy, cải cách hành chính, chuyển đổi số và nâng cao trách nhiệm giải trình. Mục tiêu là xây dựng mô hình quản trị địa phương hiệu quả, bền vững, phù hợp với điều kiện đặc thù của Tây Nguyên trong giai đoạn mới.

Tham luận tại Tọa đàm, NCS.ThS Lê Ngọc Hưng chia sẻ: mô hình chính quyền địa phương của Nhật Bản là một điển hình tiêu biểu về phân cấp, phân quyền hiệu quả, với đặc trưng nổi bật là tính tự chủ cao của địa phương đi đôi với cơ chế kiểm soát và trách nhiệm giải trình chặt chẽ. NCS.ThS Lê Ngọc Hưng cho rằng, nền tảng của mô hình này được hình thành từ Hiến pháp năm 1946 và Luật Tự quản địa phương năm 1947, qua đó, xác lập nguyên tắc “tự quản địa phương” như một bộ phận quan trọng của quản trị quốc gia hiện đại.
Nhật Bản tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp (cấp tỉnh và cấp cơ sở), vận hành trên nguyên tắc bổ trợ: việc gì cấp dưới làm hiệu quả thì giao cho cấp dưới thực hiện, trung ương chỉ đảm nhiệm những nhiệm vụ vượt quá khả năng của địa phương. Nhờ đó, chính quyền địa phương có quyền tự quyết tương đối lớn về tổ chức, nhân sự, tài chính, ban hành chính sách và cung ứng dịch vụ công, đồng thời vẫn chịu sự giám sát của trung ương thông qua cơ chế pháp luật và trách nhiệm hành chính.
NCS.ThS Lê Ngọc Hưng cũng nhấn mạnh tính dân chủ và tự quản của hệ thống địa phương Nhật Bản thông qua các cơ chế như bầu trực tiếp tỉnh trưởng, thị trưởng; quyền trưng cầu dân ý; quyền kiến nghị, bãi nhiệm người đứng đầu chính quyền địa phương; cùng với vai trò độc lập của các ủy ban hành chính chuyên môn. Đặc biệt, Nhật Bản áp dụng rộng rãi cơ chế ủy quyền từ trung ương cho địa phương thực hiện các nhiệm vụ nhà nước, giúp nâng cao hiệu quả quản trị và giảm tải cho bộ máy trung ương.
Từ việc phân tích mô hình Nhật Bản, NCS.ThS Lê Ngọc Hưng cho rằng Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng tăng quyền tự chủ cho địa phương đối với các vấn đề gắn trực tiếp với đời sống dân cư như hạ tầng, giáo dục, dịch vụ công; đồng thời hoàn thiện cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình và tăng cường sự tham gia của người dân. Tham luận khẳng định kinh nghiệm của Nhật Bản là nguồn tham khảo quan trọng trong quá trình cải cách tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay.

Tại Tọa đàm, Đồng chí Bùi Công Quang đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của phân cấp, phân quyền, đặc biệt nhấn mạnh “nút thắt” lớn nhất hiện nay nằm ở cơ chế tài chính và quản lý ngân sách nhà nước. Theo đó, tính khả thi của phân cấp không phụ thuộc chủ yếu vào quyền thu mà nằm ở quyền chi và khả năng tự chủ về nguồn lực của địa phương. Đặc biệt, trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh, cần nhận thức rằng Chính phủ không phải là chủ thể thực hiện toàn bộ hoạt động quốc phòng, an ninh mà chủ yếu thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Trong khi đó, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an còn trực tiếp đảm nhiệm lực lượng chiến đấu, lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia và thực thi các nhiệm vụ đặc thù theo sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Vì vậy, nếu trong các quy định pháp luật không được xác định rõ vai trò, vị trí và trách nhiệm của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thì vô hình trung sẽ làm khuyết thiếu cơ chế bảo đảm cho nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ an ninh quốc gia. Đây cũng là vấn đề gắn liền với triết lý về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền và phân công trách nhiệm giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước.
Khi các nội dung này được quy định một cách mạch lạc, rõ ràng và minh định, không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn góp phần tháo gỡ nhiều vướng mắc pháp lý trong thực tiễn tổ chức và thực thi quyền lực hiện nay.

NCS.ThS Lê Thị Quỳnh Mi tập trung đánh giá thể chế phân cấp quản lý hành chính nhà nước gắn liền với mô hình chính quyền hai cấp (tỉnh và xã), vận hành từ ngày 01/7/2025, là một bước ngoặt lớn trong cải cách hành chính tại Việt Nam. Trên cơ sở rà soát hơn 5.000 văn bản, Chính phủ đã thần tốc ban hành 28 nghị định chuyên biệt, chuyển hóa thành công 2.718 nhiệm vụ quản lý. Cải cách này đã dịch chuyển mạnh mẽ quyền lực về địa phương, đặc biệt là cấp xã sau khi bãi bỏ cấp huyện, nhằm hiện thực hóa phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, gắn với nguyên tắc rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm và nâng cao tính giải trình.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai đang đối mặt với nhiều “điểm nghẽn” lớn. Do tính ổn định của hệ thống pháp luật chưa cao, các quy định mới ở cấp nghị định có nguy cơ xung đột với các luật chuyên ngành chưa kịp sửa đổi. Áp lực quá tải cũng đè nặng lên chính quyền cấp xã khi khối lượng công việc tăng đột biến, nhưng năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế trong các lĩnh vực phức tạp như đất đai, quy hoạch. Đáng chú ý, cơ chế phân bổ nguồn lực về tài chính, biên chế và hạ tầng công nghệ chưa tương xứng với thẩm quyền được giao; kết hợp với việc chuẩn hóa thủ tục hành chính chuyển tiếp còn chậm, gây lúng túng cho người thực thi. Những hạn chế này xuất phát từ áp lực thời gian ban hành gấp, tính chất chưa có tiền lệ của mô hình mới và tâm lý e dè trong việc phân cấp thực chất ở một số bộ, ngành.

NCS.ThS Nguyễn Trường Sơn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong việc kiểm soát quyền lực và bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp hiện nay. Việt Nam hiện vẫn chưa hình thành đầy đủ cơ chế đánh giá tính hợp pháp gắn với bảo vệ quyền con người, quyền công dân; đồng thời, còn thiếu hệ thống lý luận chuyên sâu liên quan đến các phương pháp tiếp cận hiện đại trong lĩnh vực này.
Đáng chú ý, NCS.ThS Nguyễn Trường Sơn nhấn mạnh nguyên tắc tương xứng, một nguyên tắc phát triển từ Luật hành chính và Luật Hiến pháp Đức sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hiện đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia châu Âu và châu Á. Theo đó, nguyên tắc này được xem là công cụ quan trọng nhằm kiểm soát quyền lực công, bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích công và quyền con người trong hoạt động tư pháp và quản trị nhà nước.
Bên cạnh đó, NCS.ThS Nguyễn Trường Sơn cũng đề cập đến vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động giải thích pháp luật trong hệ thống pháp lý hiện đại. Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt tại các quốc gia châu Âu và Hoa Kỳ, việc ban hành văn bản pháp luật mới chỉ là bước khởi đầu, trong khi quá trình giải thích pháp luật mới là yếu tố quyết định hiệu lực thực tiễn của pháp luật. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, các nghiên cứu về giải thích pháp luật, phương pháp luận giải thích cũng như thẩm quyền và chủ thể thực hiện hoạt động này vẫn còn tương đối hạn chế, cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện trong thời gian tới.

Nghiên cứu của Dương Thị Ngọc Thương phân tích vụ án cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp thông qua Bản án số 108 của TAND thành phố Đà Nẵng. Vụ án có tính thời sự và điển hình khi phát sinh sau ngày 01/7/2025, thời điểm mô hình chính quyền địa phương 2 cấp chính thức được vận hành. Điểm nổi bật là trách nhiệm giải quyết hồ sơ được chuyển từ Chủ tịch UBND huyện cũ sang Chủ tịch UBND xã mới, đặt ra vấn đề về cơ chế kế thừa trách nhiệm công vụ sau khi thay đổi tổ chức bộ máy. Vụ việc xuất phát từ sai sót của UBND huyện trước đây khi giao đất nhưng chưa thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định, trong khi người dân đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ tài chính. Khi tiếp nhận hồ sơ, UBND xã mới lo ngại về trách nhiệm pháp lý nên không tiếp tục cấp Giấy chứng nhận, dẫn đến tranh chấp hành chính.
Tòa án xác định hành vi không cấp Giấy chứng nhận là trái pháp luật và buộc UBND xã tiếp tục thực hiện nhiệm vụ công vụ. Phán quyết khẳng định nguyên tắc: sai sót nội bộ của cơ quan nhà nước không thể trở thành căn cứ để ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người dân ngay tình. Từ vụ án, nhóm nghiên cứu đề xuất cần hoàn thiện cơ chế kế thừa trách nhiệm công vụ, tách bạch việc xử lý sai phạm với việc bảo vệ quyền lợi người dân; đồng thời ban hành hướng dẫn chuyển tiếp rõ ràng nhằm giảm tâm lý “sợ sai, sợ trách nhiệm” ở cấp cơ sở.
Kết luận Tọa đàm, PGS.TS Trần Thị Diệu Oanh trân trọng cảm ơn các chuyên gia, nhà khoa học và đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc, toàn diện, có ý nghĩa trực tiếp đối với việc triển khai Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2026. Những ý kiến tranh luận, góc nhìn đa chiều và dẫn chứng thực tế được phát biểu tại Tọa đàm là nguồn “chất liệu” vô cùng phong phú, có giá trị giúp nhóm nghiên cứu Đề tài thu thập thêm các luận cứ khoa học sắc bén, kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu nhằm phục vụ trực tiếp cho việc hoàn thiện đề tài về chiều sâu lý luận và khả năng ứng dụng vào thực tiễn đời sống quản trị quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Lê Thị Thanh Hương



