Credit risk management issues at Saigon – Hanoi Commercial Joint Stock Bank (SHB)
ThS. Vũ Đức Quang
Hội Nông dân Việt Nam
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng chịu tác động ngày càng lớn của biến động kinh tế – xã hội và chuyển đổi số, chuẩn mực an toàn vốn và yêu cầu của phát triển bền vững, quản lý rủi ro hiện nay không chỉ là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành trụ cột của quản trị ngân hàng hiện đại. Bài viết phân tích một số vấn đề về quản lý rủi ro tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB), tập trung vào khung quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng. Kết quả bước đầu cho thấy, SHB đã xây dựng khung quản trị rủi ro theo quy định của Thông tư số 41/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản trị vốn, dữ liệu và đo lường rủi ro để đáp ứng lộ trình áp dụng Thông tư số 14/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Từ khóa: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB); quản lý rủi ro tín dụng; rủi ro tín dụng.
Abstract: In the context of banking operations being increasingly affected by socio-economic fluctuations, digital transformation, capital adequacy standards, and the requirements of sustainable development, risk management is no longer merely a supporting tool but has become a pillar of modern banking governance. This article analyzes several issues related to risk management at Saigon-Hanoi Commercial Joint Stock Bank, focusing on the credit risk governance framework in credit-granting activities. Initial findings show that SHB established its risk governance framework under Circular No. 41/2016/TT-NHNN. At the same time, the bank needs to further improve its capital management, data management, and risk measurement systems to meet the roadmap for implementing Circular No. 14/2025/TT-NHNN on capital adequacy ratios applicable to commercial banks and foreign bank branches.
Keywords: Saigon-Hanoi Commercial Joint Stock Bank; SHB; credit risk management; credit risk.
1. Đặt vấn đề
Theo một số nghiên cứu, có thể hiểu: “Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách quản lý và hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vi mức độ rủi ro có thể chấp nhận được”1. Vì vậy, trong hoạt động ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của ngân hàng. Khi tín dụng suy giảm chất lượng, ngân hàng không chỉ đối diện nguy cơ mất vốn mà còn có thể chịu áp lực dự phòng, suy giảm lợi nhuận, giảm uy tín và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản. Các nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng Việt Nam đều khẳng định, rủi ro tín dụng là loại rủi ro trọng yếu, có khả năng ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập ròng và giá trị vốn của mỗi ngân hàng.
Xuất phát từ đặc thù của hoạt động ngân hàng và từ bối cảnh biến động kinh tế – xã hội cũng như chuyển đổi số hiện nay, bài viết nêu các kết quả đạt được về quản lý rủi ro tín dụng tại SHB; chỉ ra những hạn chế, bất cập về chiến lược, quy trình, mô hình, chất lượng đội ngũ nhân sự,…, từ đó đề xuất một số giải pháp về quản lý rủi ro tín dụng tại SHB.
2. Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại SHB
2.1. Khái quát chung về SHB
Hiện nay, SHB có tên giao dịch tiếng Anh là Saigon Hanoi Commercial Joint Stock Bank (mã cổ phiếu SHB). SHB tiền thân là Ngân hàng TMCP Nông Thôn Nhơn ái, được thành lập ngày 13/11/1993 tại Cần Thơ, vốn điều lệ 400 triệu đồng, với sứ mệnh phục vụ khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đến nay, mạng lưới của Ngân hàng phát triển tại gần 50 tỉnh, thành phố với 587 điểm giao dịch trong nước và nước ngoài. Theo Báo cáo thường niên năm 2024, vốn điều lệ của SHB là 36.629,085 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt 58.067,344 tỷ đồng, đứng trong nhóm 5 ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân có quy mô lớn nhất. Báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 cho thấy, tổng dư nợ cho vay khách hàng của SHB tại ngày 31/03/2026 đạt khoảng 628.157 tỷ đồng, tăng so với mức 614.862 tỷ đồng cuối năm 20252.
Về hoạt động kinh doanh, ngân hàng SHB thực hiện các hoạt động: huy động vốn, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngoại hối, dịch vụ ủy thác, dịch vụ mua bán tín phiếu kho bạc.., dịch vụ lưu ký chứng khoán và một số dịch vụ tài chính khác như kinh doanh mua bán vàng miếng, mua nợ, ví điện tử. Trong đó, hoạt động cấp tín dụng bao gồm cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, bảo lãnh ngân hàng, phát hành thẻ tín dụng và bao thanh toán trong nước3. Năm 2024, SHB tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao. Tổng dư nợ cấp tín dụng hợp nhất đạt 533.984 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt 11.569 tỷ đồng, tăng 25,2% so với năm 2023; quy mô huy động vốn đạt 660.983 tỷ đồng, tăng 19,3%. Ngân hàng có 6.651 cán bộ nhân viên, phục vụ trên 5 triệu khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, đồng thời kết nối với khoảng 600 ngân hàng đại lý trên thế giới4. Bên cạnh đó, SHB chú trọng cân bằng giữa mở rộng đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm hiệu quả sinh lời bền vững cho nhà đầu tư
Hiện nay, SHB thực hiện các kế hoạch huy động vốn nước ngoài với hạn mức tổng giá trị thực hiện và đang đàm phán lên đến 1 tỷ USD; dự kiến nhận khoản vay 350 triệu USD kỳ hạn 3 năm từ tổ chức nước ngoài trong quý I/2026 và tiếp tục đàm phán khoản vay 500 triệu USD với kỳ hạn 3 – 5 năm5.
Về định hướng phát triển, SHB hướng tới mục tiêu đến năm 2028 trở thành ngân hàng dẫn đầu về hiệu quả, ngân hàng số được yêu thích, ngân hàng bán lẻ tốt nhất và là ngân hàng hàng đầu trong cung ứng vốn, sản phẩm tài chính, dịch vụ cho các khách hàng doanh nghiệp chiến lược, chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và phát triển xanh. Đến năm 2035, SHB đặt mục tiêu trở thành ngân hàng bán lẻ hiện đại, ngân hàng xanh và ngân hàng số trong nhóm đầu khu vực6.
Một trong những mục tiêu phát triển bền vững của SHB: “Quản trị (G): Quản trị rủi ro ESG với việc thiết lập Hệ thống quản lý môi trường xã hội (ESMS) toàn diện vào năm 2028, theo các khung/chuẩn mực quốc tế và các hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước; tích hợp ESG vào quản trị doanh nghiệp; công bố báo cáo ESG hằng năm tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và các hướng dẫn của Ủy ban chứng khoán”7.
2.2. Các kết quả đạt được về quản lý rủi ro tín dụng tại SHB
SHB đã từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý rủi ro, gắn với chiến lược chuyển đổi số, mở rộng quy mô tín dụng, tăng cường tín dụng xanh. Tỷ lệ an toàn vốn theo Basel II đạt 11,85% (quy định của Ngân hàng Nhà nước là ≥8%). Tỷ lệ dự nợ/tiền gửi đạt 76,58% (QĐ của Ngân hàng Nhà nước ≤ 85%); Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn 23,62%.
Một là, đã xây dựng được chiến lược và mô hình quản trị rủi ro hình thành gồm 3 bộ phận.
(1) Các bộ phận có chức năng nhận biết rủi ro và thực hiện các biện pháp giảm thiểu rủi ro (thông qua quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu, dự phòng rủi ro). Ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro khi nợ xấu có dấu hiệu vượt ngưỡng cho phép, dự phòng rủi ro đã sử dụng hết. Có nhiều khách hàng có dấu hiệu khó có khả năng trả nợ. Để nhận biết rủi ro ngân hàng phải phân tích quy mô tín dụng; phân tích đánh giá khách hàng.
(2) Giám sát các hạn mức rủi ro, khâu này thực hiện bằng đo lường rủi ro tín dụng thực hiện đo lường rủi ro khoản vay; đo lường rủi ro danh mục; mô hình xếp hạng tín dụng; đo lường rủi ro tín dụng tổng thể của Ngân hàng. Việc đo lường rủi ro tín dụng sẽ loại bỏ những khách hàng có mức độ rủi ro tín dụng cao và nhận biết trước những rủi ro có thể xảy ra, đồng thời cũng giúp chính khách hàng có những biện pháp bảo đảm vay vốn cho phù hợp và giúp ngân hàng sẽ xây dựng nhiều sản phẩm phù hợp đáp ứng nhu cầu của khách hàng và xã hội nhưng cũng bảo đảm an toàn của ngân hàng.
(3) Kiểm soát độc lập, thực hiện giám sát, đánh giá độc lập hiệu quả rủi ro. Năm 2024, SHB đã hoàn thành việc xây dựng các mô hình đo lường rủi ro tín dụng và phương pháp luận tính vốn theo tiêu chuẩn Basel II – phương pháp nâng cao IRB; đã hoàn thành triển khai và áp dụng quản lý rủi ro thanh khoản theo tiêu chuẩn Basel III (LCR, NSFR) và triển khai công cụ đo lường quản lý tài sản nợ có (FTP, ALM) tiên tiến, giúp kiểm soát chặt chẽ dòng tiền, bảo đảm khả năng thanh khoản và có dự phong chủ động trong trường hợp thị trường có diễn biến bất lợi. Các chỉ số an toàn vốn, quản lý rủi ro của SHB đều đạt ở mức tốt hơn so với kế hoạch và quy định của Ngân hàng Nhà nước, thông lệ chuẩn mực quốc tế8.
Hai là, SHB đã thiết lập được bộ máy quản trị rủi ro, bộ máy quản lý rủi ro ở cấp quản trị cao. Ủy ban Quản lý rủi ro thuộc Hội đồng quản trị được giao chức năng tham mưu, giám sát và đề xuất các biện pháp quản lý rủi ro. Ngân hàng có bộ máy vừa bảo đảm tính chuyên nghiệp vừa có chức năng giám sát lẫn nhau. Bộ phận khách hàng có chức năng quản lý khách hàng, thẩm định và đề xuất tín dụng; bộ phận quản lý rủi ro có chức năng quản lý rủi ro và danh mục tín dụng; Ban Kiểm soát nội bộ có chức năng kiểm tra giám sát tín dụng độc lập. Việc phân cấp phân quyền quyết định tín dụng dựa trên cơ sở khách quan, kiểm soát chặt chẽ của các bộ phận đã ứng phó rủi ro, thực hiện bằng tổ chức quản lý rủi ro thông qua các công cụ quản lý rủi ro. Các công cụ quản lý rủi ro có thể được thực hiện, như: phân tán rủi ro không cấp tín dụng tập trung vào một ngành, lĩnh vực, một số khách hàng, sử dụng công cụ tín dụng phái sinh cũng để hạn chế rủi ro.
Trong kiểm soát rủi ro tín dụng, tiến hành kiểm soát trước khi cho vay, trong quá trình vay và sau khi cho vay. Vì vậy, kiểm soát trước khi cho vay là quá trình kiểm soát toàn bộ quá trình xây dựng chính sách, quy trình cho vay; kiểm soát quá trình lập hồ sơ vay, thẩm định hồ sơ. Việc kiểm soát quy trình cấp tín dụng được thực hiện nghiêm túc, gồm: xem xét các quy định áp dụng đối với hoạt động của Ngân hàng liên quan đến chất lượng và đặc điểm các khoản cho vay; ký các cam kết và chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ liên quan đến khoản cho vay; yêu cầu vay trước sau phải tuân thủ cho đúng chính sách cho vay bằng văn bản; xem xét các tài liệu không phải của cơ quan kiểm soát tín dụng.
Ba là, về chất lượng nợ, cơ cấu tín dụng chuyển biến theo chiều hướng tích cực và các nhóm nợ xấu tại SHB được thể hiện như sau:
Bảng cơ cấu chất lượng nợ tại SHB
| Chỉ tiêu | 31/3/2026 | Tỷ trọng trong tổng dư nợ | 31/12/2025 |
| Nợ đủ tiêu chuẩn | 608.326 | 96,84% | 596.168 |
| Nợ cần chú ý | 3.510 | 0,56% | 4.117 |
| Nợ dưới tiêu chuẩn | 4.182 | 0,67% | 1.777 |
| Nợ nghi ngờ | 5.025 | 0,80% | 4.324 |
| Nợ có khả năng mất vốn | 7.113 | 1,13% | 8.476 |
| Tổng nợ xấu nhóm 3, 4, 5 | 16.320 | 2,60% | 14.577 |
Tỷ lệ nợ xấu tại SHB ngày 31/03/2026 khoảng 2,60%, tăng so với khoảng 2,37% cuối năm 2025. Điểm đáng chú ý là nợ nhóm 5 giảm từ khoảng 8.476 tỷ đồng xuống 7.113 tỷ đồng nhưng nợ nhóm 3 và nhóm 4 tăng, làm tổng nợ xấu vẫn tăng. Điều này cho thấy, chất lượng tín dụng có dấu hiệu phân hóa: ngân hàng có chuyển biến trong xử lý một phần nợ có khả năng mất vốn nhưng áp lực phát sinh nợ xấu mới vẫn còn. Trong khi đó, SHB đặt mục tiêu năm 2026 duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 2% nên việc kiểm soát nợ nhóm 3 và nhóm 4 sẽ là vấn đề cần theo dõi trong các quý tiếp theo10. Cơ cấu tín dụng của SHB nghiêng về cho vay trung và dài hạn, trong đó riêng nợ dài hạn chiếm hơn 40% tổng dư nợ. Đây là đặc điểm phù hợp với định hướng tài trợ doanh nghiệp, dự án và các chuỗi giá trị lớn nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về quản trị thanh khoản, kỳ hạn vốn và rủi ro lãi suất.
Bốn là, SHB đã xây dựng được hệ thống khuôn khổ, chính sách tín dụng đồng bộ.
Chính sách tín dụng, bao gồm: quy trình, quy tắc thống nhất áp dụng cho toàn bộ hệ thống ngân hàng. Với một hệ thống chính xác, đồng nhất như vậy sẽ tránh được tình trạng sai sót, bất đồng giữa các bộ phận. Việc đẩy nhanh thời gian giao dịch cũng giúp cho SHB tiết kiệm rất nhiều thời gian và chi phí. Việc thực hiện đúng điều kiện cho vay theo quy định, số tiền cho vay; nhu cầu vay vốn của khách hàng; tỷ lệ cho vay đối với tài sản bảo đảm; khả năng hoàn trả nợ của khách hàng vay; mối quan hệ giao dịch tín dụng với SHB trong quá khứ, lịch sử của khách hàng với Ngân hàng, khách hàng có nợ xấu, có tín dụng đen hay không.
SHB đã kiểm soát được giới hạn tổng dư nợ cho vay, trong đó tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của Ngân hàng tại thời điểm cho vay (trừ trường hợp cho vay từ các nguồn ủy thác của Chính phủ, của tổ chức và cá nhân hoặc những dự án đã trình và được Chính phủ đồng ý cho vay vượt 15% vốn tự có của SHB). Đồng thời kiểm soát chặt chẽ lãi suất cho vay trong quy trình cấp tín dụng, như: mức lãi suất cho vay đúng hạn được thỏa thuận phù hợp với Ngân hàng Nhà nước và quy định của SHB về lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng. Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do Giám đốc SHB quyết định theo nguyên tắc cao hơn lãi suất trong hạn nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trung hạn đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng. Đối với dư nợ quá hạn chỉ áp dụng lãi suất nợ quá hạn đối với phần dư nợ gốc của kỳ hạn mà khách hàng không trả đúng hạn, đối với phần dư nợ gốc chưa đến kỳ hạn trả nợ nhưng phải chuyển nợ quá hạn thì SHB áp dụng lãi suất cho vay trong hạn đã thỏa thuận trước đó trong hợp đồng tín dụng.
Quy trình cấp tín dụng của SHB được xây dựng và thực hiện chặt chẽ, đây cũng là một trong những phương thức quản lý rủi ro, bao gồm các bước: (1) Tiếp cận với khách hàng và hướng dẫn khách hàng tạo hồ sơ vay vốn theo đúng quy định; (2) Tiếp nhận, thẩm định hồ sơ vay vốn và hồ sơ tài sản bảo đảm; (3) Hoàn thiện hồ sơ tín dụng và thực hiện quyết định tín dụng (nếu có); (4) Kiểm tra và xử lý nợ vay; (5) Tất toán hợp đồng tín dụng và lưu trữ hồ sơ.
Năm là, xây dựng được hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, trong đó khách hàng đã được chấm điểm và xếp hạng tín dụng, sau đó được chia theo nhóm (gồm: nhóm 1 – nợ đủ tiêu chuẩn; nhóm 2 – nợ cần chú ý; nhóm 3 – nợ dưới tiêu chuẩn; nhóm 4 – nợ nghi ngờ; nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn).
Việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ giúp SHB chuyển từ quản lý tín dụng dựa nhiều vào kinh nghiệm và phân tích định tính sang quản lý dựa trên dữ liệu và tiêu chí định lượng, nhờ vậy, hạn chế tính chủ quan trong thẩm định. Mặt khác, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ này cũng đã tạo cơ sở để Ngân hàng phát hiện sớm khách hàng có dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ…. Đây cũng là cơ sở giúp ngân hàng chủ động hơn nữa trong việc trích lập dự phòng, điều chỉnh chính sách tín dụng, kiểm soát nợ xấu.
2.3. Một số hạn chế, bất cập
Thứ nhất, chiến lược quản lý rủi ro tín dụng chưa toàn diện, chưa thiết lập các mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng; chưa có một khung định hướng cho các chính sách quản lý rủi ro tín dụng làm cơ sở để xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro tín dụng cho một kế hoạch phát triển bền vững. Chính sách tài sản bảo đảm đối với các tài sản hình thành trong tương lai của SHB chưa rõ ràng và linh hoạt, dẫn tới việc các cán bộ tín dụng tại SHB gặp khó khăn khi mời chào vay vốn trong lĩnh vực sản xuất có nhu cầu đầu tư tài sản cố định.
Thứ hai, mô hình quản lý rủi do chưa phù hợp, chưa có khả năng nhận biết rủi ro. Hệ thống quản lý rủi ro, các bộ phận trong cơ cấu tổ chức của Ngân hàng chưa thực sự phát huy hết hiệu quả của nguyên tắc bảo đảm phân tách và giám sát, kiểm soát lẫn nhau tăng tính quản lý rủi ro giữa các bộ phận: bộ phận tuyến đầu/tuyến kinh doanh (front office); bộ phận quản lý rủi ro/thẩm định độc lập (middle office); bộ phận tuyến sau/hỗ trợ tác nghiệp (back office).
Thứ ba, quy trình cấp tín dụng còn có sự bất cập khi phòng khách hàng thực hiện đầy đủ các chức năng và chịu trách nhiệm toàn bộ từ khâu tiếp xúc, tìm kiếm khách hàng, phân tích khách hàng để trình duyệt. Nhiều khi sẽ hạn chế tính khách quan, minh bạch về thông tin khách hàng do tâm lý lấy KPI.
Thứ tư, áp lực về thời gian giải ngân nên nhân sự tín dụng không đủ thời gian phân tích hồ sơ dẫn đến đánh giá không đúng thực trạng hồ sơ và khách hàng. Trình độ, năng lực của các nhân sự tín dụng không đồng đều cũng như cứng nhắc trong khâu thẩm định vay vốn. Một số nhân sự tín dụng được chuyển từ các phòng, ban khác nên chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác khách hàng. Việc luôn thay đổi, tuyển dụng mới nhân sự tín dụng cũng là một trong những yếu tố dẫn đến chất lượng kiểm soát rủi ro trong thực hiện quy trình tín dụng chưa phát huy hiệu quả.
Thứ năm, tỷ lệ nợ xấu tuy giảm nhưng vẫn ở mức cần theo dõi chặt chẽ. Năm 2024, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng SHB là 2,4% thấp hơn ngưỡng quy định của Ngân hàng Nhà nước. Nhưng cơ cấu nợ xấu cho thấy, áp lực đang nằm trong nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn mà nợ nhóm này đòi hỏi chi phí xử lý, dự phòng và thu hồi cao hơn nhiều so với các nhóm khác.
3. Một số đề xuất về quản lý rủi ro tín dụng tại SHB
Một là, xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro tín dụng toàn diện, thiết lập các mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng. Trong đó có một khung định hướng các chính sách quản lý rủi ro tín dụng, làm cơ sở để xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro tín dụng. Xây dựng chính sách tài sản bảo đảm đối với các tài sản hình thành trong tương lai của SHB rõ ràng và linh hoạt, làm cơ sở cho hoạt động quản lý rủi ro tín dụng và tìm kiếm khách hàng.
Hai là, cần xây dựng một mô hình quản lý rủi do phù hợp, có khả năng nhận biết rủi ro. Hệ thống quản lý rủi ro phải bảo đảm đúng nguyên tắc. Các bộ phận trong cơ cấu tổ chức ngân hàng bảo đảm phân tách và giám sát, kiểm soát lẫn nhau tăng tính quản lý rủi ro giữa các bộ phận: front office, middle office, back office. Bộ phận quản lý rủi ro có trách nhiệm rà soát các đề xuất do bộ phận front office chuyển sang phê duyệt, còn bộ phận back office có trách nhiệm nhập dữ liệu vào hệ thống, thực hiện chức năng báo cáo.
Áp dụng mô hình quản lý rủi ro tín dụng giúp SHB chủ động xây dựng kế hoạch hành động, sử dụng vốn phù hợp hạn chế tổn thất. Việc áp dụng mô hình quản lý rủi ro tín dụng cũng sẽ giúp cho SHB có thể xác định chính xác phương hướng kinh doanh trong tương lai. Trong mô hình quản lý rủi ro, cần tăng cường hệ thống cảnh báo rủi ro, đặc biệt tập trung hệ thống cảnh báo rủi ro theo danh mục, lưu ý đặc biệt với các ngành, lĩnh vực có chu kỳ rủi ro cao.
Ba là, xây dựng quy trình cấp tín dụng hợp lý, khắc phục những bất cập trong quy trình cấp tín dụng. Vì vậy, để có quy trình cấp tín dụng hợp lý, SHB phải thiết lập được những tiêu chí cấp tín dụng và phân cấp thẩm quyền phù hợp. Ngoài các chính sách tín dụng đối với các món vay mới cũng cần phải thường xuyên xem xét và có những chính sách phù hợp với những món vay cũ trong từng giai đoạn.
Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng theo hướng lấy dòng tiền làm trung tâm. Trong quá trình thẩm định khách hàng, nhất là khách hàng doanh nghiệp, SHB cần phân tích kỹ mô hình kinh doanh, khả năng tạo dòng tiền từ hoạt động chính, tính ổn định của đầu ra, biến động chi phí đầu vào và khả năng chịu đựng khi có bất lợi. Tài sản bảo đảm cần được thẩm định theo đúng quy định, bảo đảm định giá thận trọng, thanh khoản tốt, có khả năng thu hồi khi có rủi ro.
Bốn là, lượng hóa các thước đo rủi ro, đẩy nhanh áp dụng mô hình đo lường rủi ro theo Basel II nâng cao. Ủy ban Base II ra đời với những chỉ dẫn cụ thể trong lượng hóa rủi ro, trong đó có các cấu phần PD, LGD, EAD. Thực tế tại SHB, rủi ro cũng đang được SHB lượng hóa bằng các công cụ như chấm điểm tín dụng. Tuy nhiên, để hiện thực hóa việc đo lường tín dụng theo thông lệ quốc tế cần phải có những bước chuẩn bị và thiết lập mô hình đo lường tín dụng theo hướng lượng hóa nhưng phân tích rủi ro cần có sự kết hợp giữa phân tích định tính và phân tích định lượng. SHB cần đưa các tham số rủi ro vào các quyết định tín dụng, định giá khoản vay, đồng thời, cần kiểm định mô hình xếp hạng tín dụng, đánh giá khả năng dự báo nợ xấu. Đối với các mô hình phê duyệt tự động cũng cần có cơ chế kiểm soát độc lập, tránh hạn chế của mô hình phê duyệt nhanh nhưng hạn chế rủi ro chưa đủ độ tin cậy.
Năm là, cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý rủi ro tín dụng và nâng cao chất lượng nhân sự của SHB. Cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý rủi ro tín dụng là nhiệm vụ quan trọng, do đó, SHB cần thiết lập được bộ máy quản lý rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế và thực trạng của SHB. Để thực hiện hiệu quả, cần chú trọng đến việc nâng cao chất lượng nhân sự của SHB. Trong đó, cần xác định rõ nhân sự tín dụng chính là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, chốt chặn thẩm định đầu tiên. Vì vậy, ý kiến của cán bộ tín dụng có ảnh hưởng rất lớn tới quyết định của các cấp thẩm quyền trong việc xét duyệt cho vay, từ đó tác động lớn đến hoạt động cho vay của Ngân hàng, do vậy:
(1) Phân nhóm ngành nghề quản lý: nên phân bổ mỗi nhân sự phụ trách 1 nhóm ngành nghề nhất định, theo năng lực, theo sở trường, sở thích, kinh nghiệm. Điều này cải thiện rất nhanh trình độ tay nghề của đội ngũ nhân sự, vì họ có sự hiểu biết sâu sắc về ngành nghề.
(2) Tổ chức các lớp đào tạo nghiệp vụ thường xuyên kết hợp với các lớp học kỹ năng mềm, cụ thể: đối tượng đào tạo, gồm toàn thể nhân viên các phòng Khách hàng doanh nghiệp. Nội dung tập trung vào đào tạo nghiệp vụ, như: phân tích tài chính, tài trợ dự án, các sản phẩm mới, như: ALLC, UPAS LC,… cũng như đào tạo các kỹ năng mềm như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đàm phán.
(3) Cơ chế thưởng phạt phân minh: khen thưởng tuyên dương đối với các cán bộ hoàn thành hoặc vượt chỉ tiêu KPI, nghiêm khắc kiểm điểm cán bộ có dấu hiệu vi phạm đạo đức trong hoạt động tín dụng.
Sáu là, ứng dụng các nghiệp vụ phái sinh để hạn chế rủi ro tín dụng. Trong đó, cần chú trọng đến công cụ thứ nhất là hợp đồng quyền chọn tín dụng; tiếp đến là hợp đồng quyền chọn trái phiếu và công cụ thứ ba là hợp đồng quyền hoán đổi tổng thu nhập.
4. Kết luận
Trong dòng chảy hội nhập và phát triển, SHB không ngừng hoàn thiện, nâng cao hiệu quả, cùng với sự gia tăng số lượng khoản vay, dưới ảnh hưởng công nghệ số thì rủi ro ngày càng lớn. SHB tiếp tục kiên định chiến lược tăng trưởng dựa trên các trụ cột: lấy khách hàng và thị trường làm trung tâm, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng quản trị, mở rộng hệ sinh thái khách hàng. Ngân hàng cũng tiếp tục đồng hành cùng các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp lớn và các chuỗi giá trị trọng điểm của nền kinh tế, đồng thời, mở rộng phục vụ tới khách hàng SME và khách hàng cá nhân trong hệ sinh thái. Bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng cũng như hướng đến nâng cao chất lượng của quản lý rủi ro của ngân hàng là một trong những mục tiêu phát triển xanh và bền vững mang tính chiến lược trong hoạt động của SHB.
Chú thích:
1. Nguyễn Đức Tú (2012). Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công thương Việt. Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
2, 10. Báo cáo tài chính quý I năm 2026. https://www.shb.com.vn/bao-cao-tai-chinh-quy-I-2026
3, 4, 6, 7. Thông tin chung. Báo cáo thường niên SHB 2024. https://www.shb.com.vn/BCTN2024
5. SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026. https://vneconomy.vn/shb-nang-cao-nen-tang-von-tao-da-ke-hoach-kinh-doanh-but-pha-nam-2026.htm
8. Tình hình hoạt động trong năm 2024/Báo cáo thường niên SHB 2024. https://www.shb.com.vn/BCTN2024/tinh-hinh-hoat-dong-trong-nam-2024.html
9. SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn. https://www.shb.com.vn/shb-lai-truoc-thue-4-656-ty-dong-quy-i-thu-nhap-dich-vu-tang-manh-tiep-tuc-tang-cuong-nen-tang-von/
Tài liệu tham khảo:
1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2017). Quyết định số 312/QĐ-NHNN ngày 14/03/2017 về việc đính chính Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
2. Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) (2022 – 2024). Báo cáo thường niên các năm 2022, 2023, 2024.
3. Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) (2023). Chiến lược phát triển giai đoạn 2025 – 2030.
4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2025). Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
5. Quốc hội (2010). Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
6. Quốc hội (2020). Luật Doanh nghiệp năm 2020.
7. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 về Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050.
8. International Finance Corporation (IFC). (2021). SME finance gap: Assessment of shortfalls and opportunities in financing SMEs in emerging markets. Washington, DC: IFC.
9. United Nations Development Programme (UNDP) (2022). Promoting green finance for sustainable development in Vietnam.



