Tiêu dùng xanh tại TP. Hồ Chí Minh: nhận thức, thái độ, hành vi và hàm ý chính sách

Green consumption in Ho Chi Minh City: awareness, attitudes, behaviors, and policy implications

TS. Hồ Ngọc Khương – TS. Phùng Thế Anh
Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Tiêu dùng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đặc biệt đối với đô thị có quy mô tiêu dùng lớn như TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu khảo sát 240 người tham gia tại TP. Hồ Chí Minh và sử dụng thống kê mô tả để đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi và rào cản đối với tiêu dùng xanh. Kết quả cho thấy, nhận thức và thái độ của nhóm khảo sát tương đối tích cực, nhưng hành vi thực tế chưa đồng đều; phân loại rác tại nhà và mang túi cá nhân khi mua sắm là hai hành vi có mức độ thực hiện thấp nhất. Các rào cản gồm giá sản phẩm xanh cao, hạ tầng phân loại và tái chế chưa đồng bộ, khó phân biệt sản phẩm xanh thực sự với sản phẩm được quảng bá là xanh và thiếu thông tin đáng tin cậy. Nghiên cứu đề xuất năm nhóm hàm ý chính sách về chi phí, hạ tầng, minh bạch thông tin, kênh phân phối và truyền thông thực hành nhằm thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh tại TP. Hồ Chí Minh.

Từ khóa: tiêu dùng xanh, nhận thức tiêu dùng xanh, hành vi xanh, thái độ tiêu dùng xanh.

Abstract: Green consumption is an important component of sustainable development, particularly in a high-consumption urban area such as Ho Chi Minh City. This study surveyed 240 participants in Ho Chi Minh City and employed descriptive statistics to assess awareness, attitudes, behaviors, and barriers related to green consumption. The findings indicate that the surveyed group exhibited relatively positive awareness and attitudes, but their actual behaviors remained uneven; household waste sorting and bringing one’s own reusable bags when shopping were the two least frequently practiced behaviors. The identified barriers included the high price of green products, fragmented sorting and recycling infrastructure, difficulty in distinguishing genuinely green products from those merely marketed as green, and a lack of reliable information. The study proposes five sets of policy implications addressing affordability, infrastructure, information transparency, distribution channels, and practice-oriented communication to promote green consumption behavior in Ho Chi Minh City.

Keywords: green consumption, awareness of green consumption, green consumption behavior, attitudes toward green consumption.

1. Đặt vấn đề

Biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và gia tăng chất thải đang đặt ra yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng xanh và bền vững. Trong tiến trình đó, tiêu dùng xanh không chỉ là lựa chọn cá nhân mà còn là động lực thị trường thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sản phẩm, giảm phát thải và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Các tiếp cận về sản xuất và tiêu dùng bền vững đều nhấn mạnh rằng sản phẩm thân thiện với môi trường chỉ có thể phát triển lâu dài khi đi kèm với nhận biết, thái độ và lựa chọn phù hợp của người tiêu dùng.

Ở Việt Nam, yêu cầu xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững đã được thể hiện trong các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh. Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2020, tầm nhìn đến năm 2050 và Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đều nhấn mạnh nhiệm vụ thay đổi mô hình tiêu dùng theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và thân thiện với môi trường. Cùng với cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 tại COP26, tiêu dùng xanh trở thành một mắt xích quan trọng trong tiến trình phát triển bền vững của Việt Nam. Mục tiêu môi trường không thể chỉ dựa vào công nghệ sản xuất hay trách nhiệm của doanh nghiệp, mà cần được chuyển hóa thành lựa chọn mua sắm, sử dụng tiết kiệm năng lượng, hạn chế nhựa dùng một lần và phân loại chất thải trong đời sống hằng ngày của người dân.

TP. Hồ Chí Minh là đô thị có quy mô dân cư và thị trường tiêu dùng lớn, với hệ thống thương mại, dịch vụ phát triển và lối sống đô thị thay đổi nhanh. Những đặc điểm này tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm xanh, nhưng đồng thời đặt ra áp lực về rác thải sinh hoạt, bao bì nhựa, sử dụng năng lượng và chất lượng môi trường đô thị. Do đó, việc đánh giá nhận biết, thái độ và hành vi tiêu dùng xanh có ý nghĩa thiết thực đối với việc thiết kế chính sách đô thị bền vững.

2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

2.1 Cơ sở lý luận về tiêu dùng xanh

Tiêu dùng xanh được hiểu là quá trình người tiêu dùng lựa chọn, sử dụng và thải bỏ sản phẩm, dịch vụ theo hướng giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, tiết kiệm tài nguyên và đóng góp cho lợi ích xã hội lâu dài. Nội hàm của tiêu dùng xanh không dừng lại ở việc mua sản phẩm có nhãn môi trường, sản phẩm hữu cơ hay sản phẩm “sạch” mà còn bao gồm các hành vi thường ngày như hạn chế sử dụng nhựa dùng một lần, sử dụng túi tái dùng, tiết kiệm điện và nước, ưu tiên sản phẩm có nguồn gốc minh bạch, tái sử dụng vật dụng và phân loại rác thải.

Trong quá trình thực hiện tiêu dùng xanh, sản phẩm xanh là một trong những đối tượng lựa chọn quan trọng của người tiêu dùng. Sản phẩm xanh là sản phẩm được thiết kế, sản xuất, phân phối, sử dụng hoặc thải bỏ theo cách giảm tác động bất lợi đến môi trường so với các sản phẩm cùng chức năng. Sản phẩm xanh có thể được nhận diện thông qua một số đặc điểm như sử dụng ít nguyên liệu gây hại, có khả năng tái chế, giảm bao bì, tiết kiệm năng lượng hoặc giảm phát thải trong vòng đời sản phẩm. Tuy nhiên, để sản phẩm xanh được thị trường chấp nhận, người tiêu dùng cần có nhận thức đúng, thái độ tích cực và điều kiện thuận lợi để thực hiện hành vi mua sắm tương ứng.

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen làm khung diễn giải, không nhằm kiểm định đầy đủ mô hình lý thuyết1. Theo cách tiếp cận này, thái độ tích cực có thể thúc đẩy hành vi, nhưng khả năng thực hiện còn bị giới hạn bởi các điều kiện mà người tiêu dùng cảm nhận như chi phí, thông tin, mức độ thuận tiện và hạ tầng hỗ trợ. Cách tiếp cận này phù hợp để lý giải khoảng cách giữa thái độ và hành vi trong tiêu dùng xanh, hiện tượng được thảo luận trong nhiều nghiên cứu trước.

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp định lượng với bảng hỏi cấu trúc, thực hiện trên mẫu 240 cư dân đang sinh sống, học tập hoặc làm việc tại TP. Hồ Chí Minh. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện tại sáu địa bàn lựa chọn có chủ đích, gồm các phường Sài Gòn, Gò Vấp, Thủ Đức, Dĩ An, Thủ Dầu Một và Bình Thạnh, nhằm bao quát khu vực trung tâm, khu đô thị phát triển mới và vùng mở rộng của Thành phố sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025.

Bảng hỏi gồm bốn nhóm nội dung: mức độ nhận biết về tiêu dùng xanh;  thái độ đối với tiêu dùng xanh; tần suất thực hiện các hành vi tiêu dùng xanh trong đời sống hằng ngày; và những rào cản ảnh hưởng đến việc thực hành tiêu dùng xanh. Mức độ nhận biết được đo bằng câu hỏi lựa chọn và tổng hợp theo số người nhận biết hoặc trả lời có; thái độ được đo bằng thang Likert 5 mức, từ 1 là “Hoàn toàn không đồng ý” đến 5 là “Hoàn toàn đồng ý”; hành vi được đo bằng thang tần suất 5 mức, từ 1 là “Không bao giờ” đến 5 là “Luôn luôn”; rào cản được ghi nhận bằng câu hỏi nhiều lựa chọn. Dữ liệu sau khảo sát được tổng hợp và phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả.

3. Kết quả khảo sát và thảo luận

3.1. Đặc điểm mẫu khảo sát

Kết quả thu thập dữ liệu có 240 phiếu khảo sát hợp lệ, được phân bổ đồng đều tại sáu địa bàn nghiên cứu, với 40 người tham gia tại mỗi phường. Cơ cấu mẫu theo giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp và thu nhập được trình bày tại Bảng 1. Về giới tính, nữ giới chiếm 55,0% và nam giới chiếm 45,0% mẫu khảo sát, cho thấy cơ cấu tham gia tương đối cân bằng. Về độ tuổi, nhóm từ 26–35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 32,5%, tiếp đến là nhóm 18–25 tuổi với 30,0%; tổng cộng nhóm từ 18–35 tuổi chiếm 62,5% mẫu khảo sát. Về nghề nghiệp, sinh viên chiếm 35,8%; kinh doanh/hộ gia đình chiếm 24,2%; công chức/viên chức chiếm 22,5% và nhân viên văn phòng chiếm 17,5% mẫu khảo sát. Về thu nhập, nhóm từ 7 đến dưới 15 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ cao nhất với 40,0%, tiếp theo là nhóm từ 15–25 triệu đồng/tháng với 25,8%. Nhìn chung, mẫu khảo sát có sự đa dạng nhất định về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp và thu nhập, phù hợp với mục tiêu mô tả mức độ nhận biết, thái độ, hành vi và các rào cản đối với tiêu dùng xanh của nhóm người tham gia khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh.

Bảng 1. Cơ cấu mẫu khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh

Đặc điểmNhómSố lượngTỷ lệ (%)
Giới tínhNam10845,0
Nữ13255,0
Địa bàn phường khảo sátSài Gòn4016,67
Gò Vấp4016,67
Thủ Đức4016,67
Dĩ An4016,67
Thủ Dầu Một4016,67
Bình Thạnh4016,67
Độ tuổi18 – 257230,0
26 – 357832,5
36 – 455422,5
Trên 453615,0
Nghề nghiệpSinh viên8635,83
Nhân viên văn phòng4217,5
Kinh doanh/hộ gia đình5824,17
Công chức/viên chức5422,5
Thu nhập/thángDưới 7 triệu5221,67
7 – 15 triệu9640,0
15 – 25 triệu6225,83
Trên 25 triệu3012,5
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả

3.2. Mức độ nhận biết của nhóm người tham gia khảo sát về tiêu dùng xanh

Kết quả khảo sát tại Bảng 2 cho thấy, nhận biết ban đầu về tiêu dùng xanh của nhóm người được khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh ở mức tương đối tích cực. Cụ thể, có 188/240 người (chiếm 78,33%) đã từng nghe đến khái niệm tiêu dùng xanh. Xét theo từng nội hàm, tỷ lệ người nhận biết tiêu dùng xanh góp phần giảm rác thải và ô nhiễm đạt 74,58%; nhận biết việc sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường đạt 72,50%; và nhận biết lợi ích gắn với bảo vệ sức khỏe đạt 69,17%. Kết quả này cho thấy, nhóm người tham gia khảo sát bước đầu tiếp cận tiêu dùng xanh chủ yếu thông qua các lợi ích trực tiếp, dễ nhận diện trong đời sống đô thị như giảm ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe. Nhận định này phù hợp với bối cảnh TP. Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều hoạt động thúc đẩy tiêu dùng bền vững, trong đó Chiến dịch Tiêu dùng Xanh lần thứ 16 năm 2025 với chủ đề “Thương hiệu xanh – Đậm sắc Việt” hướng đến kết nối thương hiệu xanh với nhận thức và lựa chọn của người tiêu dùng2. Tuy nhiên, chỉ 46,67% người được khảo sát nhận biết tiêu dùng xanh còn bao gồm tái sử dụng, tiết kiệm tài nguyên và phân loại rác. Đây là điểm đáng lưu ý, bởi thực tiễn đô thị đòi hỏi tiêu dùng xanh không chỉ dừng ở quyết định mua hàng mà còn gắn với hành vi giảm thiểu, phân loại và xử lý chất thải tại nguồn.

Bảng 2. Mức độ nhận biết của người tham gia khảo sát về tiêu dùng xanh

Nội dung khảo sátSố người nhận biết (trả lời có)Tỷ lệ (%)
Đã từng nghe đến khái niệm tiêu dùng xanh18878,33
Nhận biết tiêu dùng xanh bao gồm sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường17472,50
Nhận biết tiêu dùng xanh gắn với bảo vệ sức khỏe16669,17
Nhận biết tiêu dùng xanh góp phần giảm rác thải và ô nhiễm17974,58
Nhận biết tiêu dùng xanh còn bao gồm tái sử dụng, tiết kiệm tài nguyên và phân loại rác11246,67
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả

3.3. Thái độ của nhóm người tham gia khảo sát đối với tiêu dùng xanh

Kết quả khảo sát cho thấy, thái độ của người tham gia khảo sát đối với tiêu dùng xanh nhìn chung ở mức tích cực (Bảng 3), với điểm trung bình chung đạt 4,17/5. Tiêu chí được đồng thuận cao nhất là yêu cầu giảm sử dụng nhựa dùng một lần, đạt 4,32 điểm, phản ánh sự quan tâm rõ nét của nhóm người tham gia khảo sát đối với vấn đề rác thải nhựa, một áp lực môi trường dễ nhận thấy trong sinh hoạt và tiêu dùng đô thị tại TP. Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, yêu cầu doanh nghiệp công khai thông tin môi trường của sản phẩm đạt 4,26 điểm, cho thấy người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến sản phẩm xanh mà còn kỳ vọng có thông tin minh bạch để nhận diện và lựa chọn sản phẩm phù hợp. Hai nhận định về vai trò của tiêu dùng xanh đối với phát triển bền vững và bảo vệ sức khỏe gia đình lần lượt đạt 4,21 điểm và 4,18 điểm, phản ánh sự nhìn nhận tiêu dùng xanh đồng thời dưới góc độ môi trường và lợi ích thiết thực đối với đời sống. Tuy nhiên, tiêu chí “Tôi sẵn sàng thay đổi thói quen để tiêu dùng xanh hơn” chỉ đạt 3,86 điểm, thấp nhất trong nhóm khảo sát, cho thấy thái độ ủng hộ tiêu dùng xanh đã tương đối rõ, nhưng mức độ sẵn sàng chuyển đổi thói quen thực tế còn thận trọng.

Bảng 3. Thái độ của người tham gia khảo sát đối với tiêu dùng xanh

Tiêu chíĐiểm trung bình
Tiêu dùng xanh là cần thiết đối với phát triển bền vững4,21
Tiêu dùng xanh giúp bảo vệ sức khỏe gia đình4,18
Người dân nên giảm sử dụng nhựa dùng một lần4,32
Doanh nghiệp cần công khai thông tin môi trường của sản phẩm4,26
Tôi sẵn sàng thay đổi thói quen để tiêu dùng xanh hơn3,86
Điểm trung bình4,17
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả

3.4. Hành vi tiêu dùng xanh trong đời sống hằng ngày

Kết quả tại Bảng 4 cho thấy, hành vi tiêu dùng xanh của những người được khảo sát chưa đồng đều giữa các hoạt động. Những hành vi gắn trực tiếp với lợi ích kinh tế và sức khỏe được thực hiện thường xuyên hơn. Cụ thể, tiết kiệm điện, nước trong sinh hoạt có tỷ lệ thực hiện thường xuyên hoặc luôn luôn cao nhất, đạt 74,58%; tiếp theo là ưu tiên mua thực phẩm an toàn, có nguồn gốc rõ ràng, đạt 61,67%. Kết quả này cho thấy, người dân có xu hướng duy trì hành vi xanh khi lợi ích cá nhân được nhận diện rõ và dễ thực hiện trong sinh hoạt hằng ngày. Trong khi đó, các hành vi đòi hỏi thay đổi thói quen tiêu dùng hoặc phụ thuộc vào điều kiện hỗ trợ bên ngoài còn hạn chế. Tỷ lệ thường xuyên hoặc luôn luôn mang túi cá nhân khi mua sắm chỉ đạt 32,92%; đối với phân loại rác tại nhà, tỷ lệ này chỉ đạt 25,42%, trong khi có tới 43,33% người trả lời không bao giờ hoặc hiếm khi thực hiện. Như vậy, mặc dù những người tham gia khảo sát có thái độ tích cực đối với tiêu dùng xanh, việc chuyển hóa thành hành vi thực tế vẫn còn khoảng cách, đặc biệt ở khâu giảm túi nhựa và phân loại chất thải tại nguồn. Kết quả này đặt ra yêu cầu TP. Hồ Chí Minh cần tập trung vào các giải pháp dễ thực hành như khuyến khích túi tái sử dụng, hướng dẫn phân loại rác thống nhất và tổ chức hệ thống thu gom phù hợp để hành vi xanh trở thành thói quen thường xuyên.

Bảng 4. Tần suất thực hiện hành vi tiêu dùng xanh tại TP. Hồ Chí Minh

Hành viKhông bao giờ, n (%)Hiếm khi, n (%)Thỉnh thoảng, n (%)Thường xuyên, n (%)Luôn luôn, n (%)Điểm trung bình
Mang túi cá nhân khi đi mua sắm27 (11,25)48 (20,00)86 (35,83)56 (23,33)23 (9,58)3,00
Hạn chế sử dụng ống hút, ly nhựa, hộp xốp18 (7,50)35 (14,58)79 (32,92)73 (30,42)35 (14,58)3,30
Ưu tiên mua thực phẩm an toàn, có nguồn gốc rõ ràng8 (3,33)18 (7,50)66 (27,50)87 (36,25)61 (25,42)3,73
Tiết kiệm điện, nước trong sinh hoạt4 (1,67)10 (4,17)47 (19,58)92 (38,33)87 (36,25)4,03
Phân loại rác tại nhà42 (17,50)62 (25,83)75 (31,25)45 (18,75)16 (6,67)2,71
Ưu tiên sản phẩm có bao bì tái chế/thân thiện với môi trường16 (6,67)34 (14,17)94 (39,17)69 (28,75)27 (11,25)3,24
Điểm trung bình3,34
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả

3.5. Rào cản đối với tiêu dùng xanh

Kết quả cho thấy, giá sản phẩm xanh cao hơn sản phẩm thông thường là rào cản được lựa chọn nhiều nhất, chiếm 67,50% số người tham gia khảo sát (Hình 1). Kết quả này cho thấy, mặc dù nhóm khảo sát có mức độ nhận biết và thái độ tương đối tích cực, khả năng chuyển sang các lựa chọn xanh vẫn chịu ảnh hưởng đáng kể bởi chi phí, đặc biệt đối với nhóm có thu nhập trung bình và thấp. Rào cản được lựa chọn nhiều thứ hai là hạ tầng phân loại rác và tái chế chưa đồng bộ, chiếm 61,67%, phù hợp với kết quả tại Bảng 4 khi phân loại rác tại nhà là hành vi có mức độ thực hiện thấp nhất. Vì vậy, việc thúc đẩy phân loại rác tại nguồn cần được hỗ trợ đồng bộ hơn về cơ sở vật chất, hướng dẫn thực hành và quy trình thu gom, xử lý sau phân loại. Bên cạnh đó, 58,33% người tham gia khảo sát cho rằng khó xác minh tính xác thực của thông tin môi trường trên sản phẩm và 52,08% cho biết thiếu thông tin đáng tin cậy. Như vậy, rào cản đối với tiêu dùng xanh không chỉ nằm ở giá cả và hạ tầng hỗ trợ mà còn liên quan đến tính minh bạch của thông tin và niềm tin của người tiêu dùng.

Hình 1. Các rào cản đối với tiêu dùng xanh tại TP. Hồ Chí Minh

Đơn vị tính: %

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả

4. Hàm ý chính sách thúc đẩy tiêu dùng xanh tại TP. Hồ Chí Minh

Thứ nhất, giảm rào cản chi phí khi lựa chọn sản phẩm xanh. Thành phố cần khuyến khích doanh nghiệp và hệ thống bán lẻ triển khai chương trình ưu đãi, tích điểm hoặc giảm giá đối với sản phẩm thân thiện với môi trường. Đồng thời, việc hỗ trợ doanh nghiệp cải tiến bao bì, tiết kiệm nguyên liệu và mở rộng phân phối sẽ góp phần đưa sản phẩm xanh đến gần hơn với khả năng chi trả của người tiêu dùng phổ thông.

Thứ hai, hoàn thiện hạ tầng hỗ trợ phân loại, thu gom và tái chế chất thải. Người dân khó duy trì phân loại rác nếu quy trình thu gom và xử lý sau phân loại chưa rõ ràng hoặc thiếu thuận tiện. Thành phố cần tổ chức hệ thống điểm thu gom, thùng phân loại và hướng dẫn thực hành thống nhất tại khu dân cư, trường học, cơ quan và điểm bán lẻ, phù hợp với yêu cầu phân loại chất thải rắn sinh hoạt theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và hướng dẫn kỹ thuật của cơ quan quản lý nhà nước.

Thứ ba, nâng cao tính minh bạch của thông tin và củng cố niềm tin đối với sản phẩm xanh. Doanh nghiệp cần cung cấp thông tin rõ ràng về nguồn gốc, nguyên liệu, bao bì, khả năng tái chế và tiêu chuẩn môi trường của sản phẩm. Cơ quan quản lý cần tăng cường hướng dẫn nhận diện, kiểm tra các thông điệp môi trường thiếu căn cứ và hạn chế tình trạng quảng bá “xanh” không đi kèm bằng chứng đáng tin cậy.

Thứ tư, mở rộng khả năng tiếp cận sản phẩm và lựa chọn xanh trong sinh hoạt hằng ngày. Sản phẩm xanh, sản phẩm ít bao bì nhựa và sản phẩm tái sử dụng cần được bố trí dễ nhận diện tại siêu thị, cửa hàng tiện lợi, chợ và kênh mua sắm trực tuyến. Các điểm bán nên gắn lựa chọn xanh với hành vi cụ thể như mang túi cá nhân, hoàn trả bao bì hoặc giảm sử dụng nhựa dùng một lần.

Thứ năm, chuyển trọng tâm truyền thông từ nâng cao nhận biết sang hỗ trợ hình thành thói quen thực hành. Truyền thông cần hướng dẫn rõ những việc người dân có thể thực hiện hằng ngày như tiết kiệm điện nước, phân loại rác, tái sử dụng vật dụng, lựa chọn bao bì phù hợp và hạn chế nhựa dùng một lần. Các chương trình cộng đồng và hoạt động khuyến khích tại khu dân cư, trường học, điểm bán lẻ cần được thiết kế đơn giản, dễ tham gia và có lợi ích nhận thấy được để hỗ trợ duy trì hành vi xanh.

5. Kết luận

Nghiên cứu cho thấy, nhóm người tham gia khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh có mức độ nhận biết tương đối tích cực và thái độ ủng hộ khá cao đối với tiêu dùng xanh. Tuy nhiên, mức độ thực hành còn chưa tương xứng, đặc biệt ở các hành vi như phân loại rác tại nhà và mang túi cá nhân khi mua sắm. Khoảng cách giữa thái độ và hành vi này gắn với các rào cản chủ yếu về chi phí sản phẩm xanh, hạ tầng phân loại và tái chế chất thải chưa đồng bộ, khó xác minh tính xác thực của các thông tin môi trường trên sản phẩm, cũng như sự chưa thuận tiện trong tiếp cận các lựa chọn xanh.

Kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ tham khảo thực tiễn cho TP. Hồ Chí Minh trong việc xây dựng và triển khai chính sách thúc đẩy tiêu dùng xanh theo hướng: giảm rào cản chi phí đối với sản phẩm thân thiện với môi trường; hoàn thiện hạ tầng phân loại, thu gom và tái chế chất thải; nâng cao tính minh bạch của thông tin sản phẩm và củng cố niềm tin của người tiêu dùng; mở rộng khả năng tiếp cận các lựa chọn xanh tại hệ thống phân phối và điểm bán; đồng thời đổi mới truyền thông theo hướng gắn với hướng dẫn thực hành và hình thành thói quen tiêu dùng bền vững.

Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này không chỉ góp phần thu hẹp khoảng cách giữa thái độ và hành vi tiêu dùng xanh, mà còn tạo điều kiện để những lựa chọn thân thiện với môi trường trở thành thói quen thường xuyên trong đời sống đô thị, qua đó hỗ trợ mục tiêu phát triển bền vững của TP. Hồ Chí Minh.

Chú thích:
1. Ajzen, Icek (1991). The theory of planned behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50(2), pp.179-211.
2.Phát động chiến dịch tiêu dùng xanh lần thứ 16 – 2025 https://hochiminhcity.gov.vn/web/ct-phan-van-mai/chi-tiet/-/asset_publisher/CMza76FA1jTp/content/phat-ong-chien-dich-tieu-dung-xanh-lan-thu-16-2025/39403.
Tài liệu tham khảo:
1. Thủ tướng Chính phủ (2012). Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.
2. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050.
3. United Nations Environment Program (2010). ABC of CSP. Clarifying Concepts on Sustainable Consumption and Production. United Nations Environment Program: Paris, France.
4. United Nations Environment Program (2011). Towards a green economy: Pathways to sustainable development and poverty eradication. Nairobi, Kenya: UNEP.
5. OECD (2011). Towards Green Growth. Paris, France: OECD Publishing.
6. K. Peattie (2010). Green consumption: behavior and norms. Annual review of environment and resources, vol.35, pp.195-228.
7. Dangelico, Rosa Maria, and Pierpaolo Pontrandolfo (2010). From green product definitions and classifications to the Green Option Matrix. Journal of Cleaner Production, vol.18, pp.1608-1628.
8. Vermeir, Iris, and Wim Verbeke (2006). Impact of values, involvement and perceptions on consumer attitudes and intentions towards sustainable consumption. Journal of Agricultural and Environmental Ethics 19 (2).
9. ElHaffar, Ghina, Fabien Durif, and Laurette Dubé (2020). Towards closing the attitude-intention-behavior gap in green consumption: A narrative review of the literature and an overview of future research directions. Journal of cleaner production. Vol.275.