Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Quảng Ninh tiếp cận từ đổi mới mô hình tăng trưởng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số

Improving the quality of Quang Ninh’s economic growth from the perspective of growth model innovation to realize the double-digit growth target

PGS.TS. Bùi Văn Huyền
ThS. Nguyễn Thị Lan Anh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
TS. Đặng Thị Thu Hoài
ThS. Đinh Thị Hảo
Ban Chính sách, chiến lược Trung ương

(Quanlynhanuoc.vn) – Bước vào giai đoạn mới, 2026 – 2030, với mục tiêu phát triển đầy tham vọng, Quảng Ninh không chỉ đối mặt với áp lực tạo ra kỳ tích với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt mức “hai con số” trong vòng khoảng 15 năm kể từ năm 2016 mà còn đứng trước yêu cầu phải có sự cải thiện vượt bậc về chất lượng tăng trưởng, khả năng chống chịu và tính bao trùm của nền kinh tế, tức là yêu cầu mới không chỉ là “tăng trưởng cao” mà còn phải “tăng trưởng có chất lượng” gắn với hiệu quả sử dụng nguồn lực, năng lực chống chịu trước cú sốc và khả năng tạo ra các động lực dài hạn. Trên cơ sở tiếp cận chất lượng tăng trưởng từ góc độ mô hình tăng trưởng, bài viết phân tích thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh. Từ đó, đề xuất định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng của Quảng Ninh gắn với 4 chuyển đổi lớn, đồng thời nhấn mạnh các nhóm giải pháp căn cơ, đột phá về hạ tầng chiến lược, thể chế phát triển, nguồn nhân lực chất lượng cao, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều sâu nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng “hai con số” bền vững trong giai đoạn tới.

Từ khóa: Quảng Ninh; tăng trưởng “hai con số”; chất lượng tăng trưởng; mô hình tăng trưởng; giải pháp trọng tâm.

Abstract: Entering the new development period of 2026–2030 with ambitious development goals, Quang Ninh faces not only the pressure to sustain an exceptional growth performance by maintaining an average “double-digit” growth rate over a period of approximately 15 years since 2016, but also the requirement for a substantial improvement in the quality of growth, the resilience, and the inclusiveness of its economy. In other words, the new requirement is not only “high growth” but also “quality growth”, associated with resource-use efficiency, resilience to shocks, and the capacity to generate long-term growth drivers. Based on an approach to growth quality from the perspective of the growth model, this article analyzes the current state of economic growth quality in Quang Ninh province. It then proposes orientations for renewing Quang Ninh’s growth model in association with four major transformations, while emphasizing fundamental and breakthrough groups of solutions related to strategic infrastructure, development institutions, high-quality human resources, the innovation ecosystem, and in-depth economic restructuring, with a view to realizing the goal of sustainable “double-digit” growth in the coming period.

Keywords: Quang Ninh; “double-digit” growth; growth quality; growth model; key solutions.

1. Đặt vấn đề

Trong một thập kỷ qua, Quảng Ninh nổi lên là một trong những địa phương bứt phá phát triển mạnh mẽ nhất cả nước. Tăng trưởng kinh tế ở mức cao, vị thế kinh tế của tỉnh tăng nhanh, chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Phương thức tăng trưởng kinh tế có sự dịch chuyển tích cực theo hướng gia tăng năng suất và hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực. Mô hình tăng trưởng đang dịch chuyển từ việc phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư của nhà nước và khai thác tài nguyên, sang dựa nhiều hơn vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại hơn, thu hút đầu tư nước ngoài tăng mạnh. Hạ tầng chiến lược được cải thiện rõ rệt theo hướng đồng bộ, hiện đại; môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng; và chất lượng quản trị địa phương liên tục được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi để tỉnh khẳng định vai trò là một cực tăng trưởng quan trọng ở phía Bắc. Dù vậy, trong bối cảnh mới, yêu cầu đặt ra đối với Quảng Ninh không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà còn phải xây dựng nền tảng tăng trưởng vững chắc, bảo đảm tăng trưởng chất lượng.

Từ thực tế đó, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ việc dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, lợi thế sẵn có và việc gia tăng quy mô các yếu tố đầu vào sang mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và phát triển bền vững về môi trường trở thành nhiệm vụ trọng yếu, cần phải thực hiện ngay đối với Quảng Ninh. Điều này đồng nghĩa với việc Quảng Ninh phải có những giải pháp căn cơ, đột phá, mang tính cấu trúc để nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, khẳng định vị thế là một cực tăng trưởng năng động, hiện đại và bền vững của cả nước.

2. Thực trạng chất lượng tăng trưởng tiếp cận từ góc độ mô hình tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh

Hiện nay, Quảng Ninh đã đạt được tốc độ tăng trưởng ở mức cao, liên tục trong thời gian dài và sức chống chịu của nền kinh tế tương đối tốt. Từ năm 2016, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh liên tục đạt hoặc tiệm cận mức tăng trưởng hai con số. Chỉ trong giai đoạn 2020-2024, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với giai đoạn trước nhưng vẫn ở mức rất cao so với cả nước. Năm 2025, tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 11,98%/năm – cao nhất cả nước. Bình quân giai đoạn 2016 – 2025 đạt 10,11%/năm, chỉ thấp hơn Hải Phòng và Thanh Hóa1.

Tốc độ tăng trưởng cao đã thúc đẩy vị thế kinh tế của tỉnh Quảng Ninh tăng nhanh (Hình 1). Theo đó, đến năm 2025, quy mô GRDP của Quảng Ninh đạt 368,445 nghìn tỷ đồng theo giá hiện hành, tăng 3,23 lần so với năm 2015, xếp thứ 7/34 địa phương trong cả nước và đạt 203,51 nghìn tỷ đồng theo giá so sánh, thương số vị trí quy mô kinh tế đạt 2,88, xếp thứ 7/34 địa phương, tăng 7 bậc so với năm 2016 (vượt qua Đà Nẵng, Tây Ninh, An Giang, Lâm Đồng, Cần Thơ, Đồng Tháp, Ninh Bình), trở thành một trong số ít địa phương tiên phong, phát triển bứt phá của cả nước2.

Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế đã giảm dần sự phụ thuộc vào tài nguyên khoáng sản và năng lực sản xuất của các ngành chế biến, chế tạo và dịch vụ, những thế mạnh của tỉnh. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng mạnh, đạt tốc độ bình quân 10,02%/năm trong giai đoạn 2011 – 2015, tăng lên 16,02%/năm trong giai đoạn 2016-2020 và 19,75%/năm trong giai đoạn 2021 – 2025. Đóng góp của công nghiệp chế biến, chế tạo trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh tăng nhanh tương ứng từ 10,07% lên 13,49% và 25,71%.

Tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ cũng ở mức cao, từ 11,36%/năm trong giai đoạn 2016 – 2020, tăng lên 12,9%/năm trong giai đoạn 2021 – 2025. Đóng góp của các ngành dịch vụ gia tăng tương ứng từ 32,61% lên 35,82% và 41,92%. Một số ngành dịch vụ thế mạnh đang tăng tốc đáng kể, đặc biệt là lĩnh vực vận tải và kho bãi. Tăng trưởng của ngành từ mức 6,63%/năm giai đoạn 2011-2015, tăng vượt trội lên 14,19%/năm giai đoạn 2016-2020 và 17,64%/năm giai đoạn 2021-2025. Đóng góp của lĩnh vực vận tải và kho bãi trong tăng trưởng kinh tế Quảng Ninh tăng từ 5,53% lên 8,1% và từ 13,97%. Nông nghiệp tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Ninh nhưng tốc độ tăng trưởng khá cao, ổn định so với bình quân cả nước, với nhiều sản phẩm OCOP có giá trị kinh tế cao. Tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì ở mức 4,5%/năm trong giai đoạn 2011 – 2020 và khoảng 3,79%/năm trong giai đoạn 2021 – 2025.

Thu hút đầu tư tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt bước phát triển đột phá.Trong 10 năm, thu hút FDI của tỉnh tăng mạnh. Năm 2024, tỉnh đã thu hút khoảng 2,88 tỷ USD vốn FDI, đứng thứ 4 cả nước. Tính lũy kế đến tháng 4 năm 2026, toàn tỉnh có khoảng 237 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 16 tỷ USD, đến từ hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ5. Các nhà đầu tư lớn chủ yếu đến từ Hồng Kông (Trung Quốc), Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Singapore.

Trong giai đoạn 2021 – 2025, các khu công nghiệp và khu kinh tế của tỉnh thu hút khoảng 150 dự án mới và 90 dự án tăng vốn, với tổng vốn đầu tư gần 324 nghìn tỷ đồng, cao gấp 4,4 lần so với giai đoạn 2016–2020. Xu hướng này cho thấy Quảng Ninh đang nổi lên như một trong những cực hút đầu tư mới của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước, đặc biệt trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển theo chiến lược “China+1”.

Đối với dòng vốn đầu tư tư nhân trong nước, tính đến năm 2025, tỉnh có 226 dự án đầu tư tư nhân đang hoạt động, với tổng vốn đăng ký khoảng 222.418 tỷ đồng. Đáng chú ý, riêng năm 2025, tổng vốn đầu tư ngoài ngân sách đăng ký tại Quảng Ninh đạt khoảng 503 nghìn tỷ đồng, cao gấp 16,7 lần so với năm 2024, cho thấy sự bùng nổ mạnh mẽ của dòng vốn tư nhân trong nước trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và hạ tầng7.

Theo đó, vai trò của khu vực FDI và tư nhân trong nước trong cơ cấu kinh tế của tỉnh tăng nhanh. Tỷ trọng giá trị gia tăng từ khu vực FDI đã tăng gấp hơn 3 lần trong giai đoạn 2010 – 2022, trong khi khu vực tư nhân trong nước tăng nhanh và dần trở thành khu vực đóng góp lớn nhất vào GRDP của tỉnh8. Điều này phản ánh quá trình chuyển dịch mô hình tăng trưởng của Quảng Ninh từ nền kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên sang nền kinh tế dựa vào công nghiệp chế biến, dịch vụ hiện đại và dòng vốn đầu tư tư nhân.

Ở góc độ hiệu quả, tăng trưởng kinh tế có sự đóng góp đáng kể từ năng suất lao động và hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực vốn đầu tư. Số liệu của Cục Thống kê cho thấy, trong giai đoạn 2016 – 2025, Quảng Ninh thuộc nhóm 20% địa phương có năng suất lao động cao hơn mức bình quân của cả nước. Năng suất lao động của tỉnh năm 2024 đạt 512,24 triệu đồng, dẫn đầu cả nước. Năm 2025, năng suất lao động của Quảng Ninh tăng lên 537 triệu đồng, gấp hơn 6 lần so với năm 2010, cao hơn đáng kể so với bình quân cả nước (240 triệu đồng năm 2025)9.

Theo giá so sánh, năng suất lao động của Quảng Ninh tăng liên tục từ 85,6 triệu đồng năm 2010 lên khoảng 292 triệu đồng năm 2025, phản ánh quá trình cải thiện thực chất về hiệu quả sản xuất. Tốc độ tăng năng suất lao động rất ấn tượng, đưa Quảng Ninh nằm trong nhóm 12% số địa phương đạt tốc độ tăng năng suất lao động bình quân ở mức hai con số trong giai đoạn 2016 – 2025, với mức tăng trưởng năng suất lao động đạt 10,22%/năm (so với mức bình quân của cả nước là khoảng 5,2%/năm), xếp thứ 4/34 tỉnh thành, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế tỉnh giai đoạn vừa qua10.

Hiệu quả sử dụng vốn của tỉnh đã cải thiện rõ rệt. Hệ số ICOR giảm nhanh từ mức 8,03 trong giai đoạn 2011-2015 xuống 5,17 trong giai đoạn 2016-2020 và tiếp tục giảm còn 4,61 trong giai đoạn 2021-202512. Sự cải thiện này phản ánh tác động tích cực của đầu tư hạ tầng chiến lược, cải thiện môi trường đầu tư và chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng hiệu quả hơn. Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, do mô hình tăng trưởng của tỉnh hiện nay vẫn dựa nhiều vào vốn.

Cùng với đó, động lực tăng trưởng mới dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được thúc đẩy. Quảng Ninh nằm trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước về đổi mới sáng tạo. Năm 2025, Quảng Ninh có điểm số chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (Provincial Innovation Index – PII) tổng thể đạt 58,41 điểm, xếp thứ 3/34 tỉnh, thành phố, tăng 3 bậc so với năm 202413. Đáng chú ý, cả 7/7 trụ cột trong chỉ số PII của tỉnh đều nằm trong nhóm 10 địa phương dẫn đầu, phản ánh sự phát triển tương đối đồng đều và có chiều sâu, là kết quả của sự quyết liệt triển khai Kế hoạch Chuyên đề nâng cao điểm số PII – là một trong bốn địa phương có mức đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cao nhất cả nước (đạt mức 3% tổng chi ngân sách địa phương), là một trong số ít địa phương đã hình thành Khu công nghệ số và triển khai thử nghiệm Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh (IOC) và Trung tâm An ninh mạng (SOC) cấp tỉnh. Đặc biệt, Quảng Ninh nằm trong Top 3 địa phương dẫn đầu ở 4 trụ cột quan trọng gồm thể chế, cơ sở hạ tầng, trình độ phát triển của thị trường và tác động. Những thành tựu vượt trội này đã giúp tỉnh dần chuyển đổi phương thức tăng trưởng theo hướng gia tăng đóng góp của đổi mới sáng tạo.

Nhờ vậy, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) được cải thiện rõ rệt. Kết quả tính toán cho thấy trong giai đoạn 2011 – 2015, TFP mới đóng góp khoảng 23,76% vào tăng trưởng kinh tế. Trong giai đoạn 2016 – 2020, cấu trúc đóng góp bắt đầu thay đổi theo hướng tích cực hơn; tỷ trọng đóng góp của TFP tăng lên 41,23%. Xu hướng này phản ánh hiệu quả của quá trình tái cơ cấu kinh tế, hiệu quả trong sử dụng nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư, phát triển hạ tầng và chuyển dịch sang các ngành dịch vụ – công nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn. Tới giai đoạn 2021–2025, đóng góp của TFP tiếp tục tăng lên khoảng 48,12%14.

Nhìn chung, Quảng Ninh đã tận dụng có hiệu quả lợi thế nổi trội, sẵn có với tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái tự nhiên phong phú, địa hình đa dạng vừa có biển, vừa có rừng, núi, với nhiều di sản thiên nhiên nổi tiếng thế giới. Bên cạnh đó, các cơ chế, chính sách “đột phá, tiên phong” là cách Quảng Ninh gia tăng các lợi thế bổ sung, trong đó, việc thúc đẩy hoàn thiện và phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng kết nối, hạ tầng công nghiệp – dịch vụ và những nỗ lực cải cách thể chế, hành chính, hiệu quả quản trị, hiệu quả đổi mới sáng tạo với các chỉ số năng lực cạnh cấp tính (PCI), chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số Cải cách hành chính (PAR index),… luôn ở Top đầu cả nước đã tạo điều kiện thuận lợi để Quảng Ninh thu hút đầu tư nước ngoài và đầu tư chất lượng cao.

Mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực, mô hình tăng trưởng của Quảng Ninh vẫn bộc lộ một số hạn chế có thể ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng và khả năng duy trì tăng trưởng “hai con số” trong dài hạn.

Một là, mô hình tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào vốn đầu tư. Dù tỷ trọng đóng góp của vốn đầu tư vào tăng trưởng đã giảm so với giai đoạn trước, từ 56,49% trong giai đoạn 2011 – 2025, giảm xuống còn 49,6% trong giai đoạn 2016 – 2020 và khoảng 44,86% trong giai đoạn 2021 – 2025, vốn vẫn là động lực lớn của tăng trưởng tỉnh15. Điều này đồng nghĩa với việc nếu sức hút đầu tư suy giảm hoặc dòng vốn tiếp tục chảy vào các lĩnh vực kém bền vững (như kinh doanh bất động sản và khai khoáng), tăng trưởng cao sẽ khó duy trì trong dài hạn.

Hai là, tăng trưởng năng suất lao động giai đoạn 2021 – 2025 của tỉnh có xu hướng chậm lại, bình quân chỉ đạt 6,90%/năm, giảm 3,79 điểm phần trăm so với giai đoạn 2016 – 2020. Các ngành khai thác tài nguyên có năng suất lao động rất cao nhưng không hoàn toàn phản ánh năng lực công nghệ hoặc năng lực đổi mới sáng tạo của nền kinh tế địa phương. Điều này hàm ý rằng, Quảng Ninh cần dịch chuyển mạnh hơn sang các ngành công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn và các mô hình kinh doanh mới dựa trên đổi mới sáng tạo.

Ba là, kinh tế Quảng Ninh vẫn phụ thuộc tương đối lớn vào 3 trụ cột: du lịch, khai khoáng và năng lượng. Trong ba lĩnh vực này, chỉ có du lịch có tiềm năng lan tỏa cao, trong khi khai khoáng và năng lượng chủ yếu thâm dụng vốn, có khả năng lan tỏa hạn chế và tạo áp lực lớn lên môi trường. Trong công nghiệp, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh còn ở mức khá thấp so với các địa phương lân cận. Các ngành chế biến, chế tạo công nghệ thấp vẫn chiếm tỷ trọng lớn.

Kết quả tính toán từ số liệu thống kê tỉnh Quảng Ninh cho thấy, tỷ trọng các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có công nghệ thấp trong tổng giá trị gia tăng ngành công nghiệp mặc dù có xu hướng giảm nhanh từ năm 2019 cùng với sự gia tăng của đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ, điện tử, vật liệu mới nhưng đến năm 2023 vẫn chiếm tới 49,5%17. Tương tự, đối với khu vực dịch vụ, tỷ trọng các ngành có giá trị gia tăng cao và các ngành dịch vụ thế mạnh của tỉnh có tốc độ tăng trưởng khiêm tốn, trong khi tỷ trọng các ngành dịch vụ giá trị gia tăng thấp vẫn còn rất cao, đạt trên 84% (năm 2024) và có xu hướng gia tăng (Hình 4)18.

Kinh tế số chưa thể hiện được vai trò động lực thúc đẩy tăng trưởng GRDP của tỉnh và vẫn còn thấp so với mục tiêu đã đặt ra. Theo số liệu của Cục Thống kê, năm 2025, tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của tỉnh đạt khoảng 12% – vẫn còn khá xa so với yêu cầu của một địa phương định hướng đi đầu về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cũng như mục tiêu đến năm 2030 chiếm 30% GRDP19.

Du lịch, mặc dù là ngành kinh tế mũi nhọn và có lợi thế, nhưng chưa khai thác hết lợi thế và thiếu các dịch vụ du lịch chất lượng cao, đẳng cấp quốc tế và khu vực. Tương tự như vậy đối với các ngành dịch vụ logistics và kinh tế biển. Điều này tác động không nhỏ đến nỗ lực nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế tỉnh. Tháo gỡ được các điểm nghẽn, nút thắt này là yếu tố quan trọng giúp tỉnh đẩy mạnh thu hút các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư chiến lược, tạo điều kiện giải phóng các tiềm năng phát triển to lớn của tỉnh.

Bốn là, quy mô và năng lực cạnh tranh của lực lượng doanh nghiệp tư nhân địa phương còn hạn chế, chưa hình thành được một lớp doanh nghiệp quy mô lớn dẫn dắt chuỗi giá trị và hệ sinh thái công nghiệp của tỉnh hoặc tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, dẫn đến kết nối giữa khu vực FDI với doanh nghiệp địa phương còn yếu. Hệ quả là khả năng lan tỏa công nghệ và giá trị gia tăng nội địa từ khu vực FDI còn hạn chế.

Năm là, các mô hình, không gian kinh tế mới chưa có đóng góp rõ nét, đột phá, đặc biệt. Các khu kinh tế hiện hữu đang tiệm cận giới hạn phát triển dựa trên lợi thế vị trí và công nghiệp truyền thống, thiếu không gian cho nghiên cứu và phát triển (R&D) cũng như kinh tế số chuyên sâu. Quảng Ninh đã hình thành nhiều khu kinh tế và khu công nghiệp ven biển như Vân Đồn, Quảng Yên, Hải Hà, song cơ chế, chính sách cho các khu vực này vẫn chưa thực sự khác biệt so với các khu kinh tế khác trong cả nước. Mặc dù Quảng Ninh là địa phương có môi trường kinh doanh và cải cách hành chính thuộc nhóm dẫn đầu cả nước, song khung thể chế hiện hành vẫn chưa theo kịp các mô hình phát triển mới mà tỉnh đang hướng tới, đặc biệt trong các lĩnh vực như kinh tế số, trung tâm tài chính, kinh tế biển công nghệ cao hay các khu kinh tế đổi mới sáng tạo. Các quy định pháp luật hiện nay còn mang tính thống nhất trên phạm vi cả nước, khiến địa phương khó triển khai các cơ chế thử nghiệm (sandbox), các mô hình quản lý linh hoạt hoặc các chính sách ưu đãi vượt trội để thu hút các ngành kinh tế mới có giá trị gia tăng cao.

Sáu là, các mâu thuẫn, nghịch lý phát triển ngày càng bộc lộ rõ.(1) Tăng trưởng cao đi kèm với áp lực môi trường gia tăng, nhất là khi cơ cấu kinh tế vẫn dựa khá nhiều vào khai khoáng, năng lượng và các ngành công nghệ thấp. (2) Bất bình đẳng mức cao và có xu hướng ngày càng tăng; tăng trưởng kinh tế chưa thực sự làm gia tăng chất lượng cuộc sống. Dù quy mô GRDP lớn, tốc độ tăng trưởng cao, nhưng thu nhập bình quân đầu người/tháng của Quảng Ninh chỉ xếp thứ 7/11 ở vùng Đồng bằng sông Hồng, trong khi chi phí sinh hoạt thuộc nhóm đắt đỏ so với cả nước và các tỉnh lân cận (xếp thứ 3/11, năm 2025)20. Đây là một trong những nghịch lý và bất lợi lớn trong việc thu hút dân cư và lao động, đặc biệt là lao động chất lượng cao.

Bảy là, một số điểm nghẽn lớn cần tập trung tháo gỡ, đó là:

(1) Điểm nghẽn trong phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh xuất cư ròng đang diễn ra âm ỉ, đã và đang tạo ra nút thắt, cản trở lớn đối với việc thu hút đầu tư của tỉnh. Xét về dài hạn, Quảng Ninh có thể gặp khó khăn nếu thúc đẩy các ngành sử dụng nhiều lao động; khó khăn hơn nữa là các ngành yêu cầu lao động chất lượng cao.

(2) Điểm nghẽn trong việc kết nối đồng bộ vào các tuyến, hành lang phát triển, chuỗi giá trị nhất là về logistic mặc dù tỉnh đã có hệ thống hạ tầng kỹ thuật tương đối tốt, song, sự phát triển đang nghiêng về hệ thống đường cao tốc mà chưa chú trọng kết nối cảng biển, kết nối đồng bộ hệ thống dịch vụ logistic và một hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại cho phát triển công nghiệp, dịch vụ chất lượng cao.

(3) Nền kinh tế có đối mặt với nguy cơ tốc độ tăng trưởng giảm dần theo quy mô do những nền tảng của tăng trưởng nội sinh chưa thực sự vững chắc, nhất là khi hàm lượng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua đầu tư vào con người mới chỉ được chú trọng trong những năm gần đây; và, mặc dù tỉnh có những đột phá về cải thiện hạ tầng giúp thu hút đầu tư và giảm chi phí giao dịch, những cải cách về giáo dục và đầu tư vào nguồn nhân lực nhìn chung vẫn bị ràng buộc bởi những hạn chế trong thể chế, chính sách chung của quốc gia.

3. Định hướng và một số giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng từ góc độ đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ninh

Đổi mới mô hình tăng trưởng là yêu cầu tất yếu. Mô hình tăng trưởng mới của Quảng Ninh phải là mô hình tăng trưởng tích hợp các yếu tố xanh, số, đổi mới sáng tạo, dựa trên công nghiệp chế biến chế tạo công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, kinh tế biển – cửa khẩu – logistics, với tổ chức không gian phát triển theo các cực động lực và được dẫn dắt bởi thể chế vượt trội, khu vực tư nhân năng động và nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó, tích hợp đồng bộ, hài hòa, hiệu quả bốn chuyển dịch lớn, gồm:

(1) Chuyển từ tăng trưởng dựa vào khai thác lợi thế sẵn có sang tăng trưởng dựa vào kiến tạo lợi thế mới, trong đó lợi thế mới phải đến từ thể chế cạnh tranh, không gian phát triển mới, chất lượng nguồn nhân lực, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, công nghệ số, đặc biệt là logistics hiện đại và khả năng gắn kết vào chuỗi giá trị toàn cầu.

(2) Chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, dựa nhiều hơn vào TFP, đổi mới công nghệ và hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực.

(3) Chuyển dịch từ cấu trúc kinh tế tương đối phân tán sang cấu trúc tăng trưởng theo các cực động lực, hành lang kinh tế và cụm liên kết ngành. Tức là tăng trưởng được tổ chức lại trên cơ sở các hạt nhân phát triển, các ngành động lực, các trung tâm trung chuyển, các đầu mối logistics và các hành lang liên kết vùng – liên quốc gia.

(4) Chuyển từ tiếp cận tăng trưởng chủ yếu theo ngành, lĩnh vực sang tiếp cận tích hợp giữa ngành – không gian – thể chế – công nghệ. Theo đó, thúc đẩy phát triển nền kinh tế như một hệ sinh thái phát triển tổng hợp, với thể chế mở đường, hạ tầng kết nối, doanh nghiệp dẫn dắt, công nghệ và không gian kinh tế tạo sức lan tỏa.

Để Quảng Ninh thực sự bứt phá trong kỷ nguyên mới, cần tập trung vào các giải pháp đồng bộ, mang tính căn cơ nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế. 

Thứ nhất, nâng cấp, phát triển hệ thống hạ tầng kết nối chiến lược, hiện đại, theo hướng đồng bộ, đa phương thức.

Hạ tầng chiến lược và kết nối đa phương thức phải được coi là một trong những nền tảng quan trọng của mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh cạnh tranh phát triển giữa các địa phương ngày càng mạnh mẽ, định hướng phát triển hạ tầng trong giai đoạn tới cần tập trung vào việc xây dựng hệ thống hạ tầng hiện đại, đồng bộ, kết nối đa phương thức, gắn với các cực tăng trưởng và các không gian phát triển mới; bảo đảm khả năng kết nối hiệu quả giữa Quảng Ninh với Hà Nội, Hải Phòng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và các thị trường quốc tế.

Bên cạnh hạ tầng giao thông, cần chú trọng phát triển hạ tầng năng lượng, hạ tầng số và hạ tầng đô thị hiện đại, tạo điều kiện cho phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, chất lượng cao và kinh tế số. Theo đó, cần tiếp tục khơi thông những điểm nghẽn còn lại trong hệ thống cơ sở hạ tầng, nhất là việc kết nối đồng bộ hệ thống logistics (kho bãi, điểm tập kết và trạm trung chuyển hàng hóa,… và các điều kiện khác) của sân bay và cảng biển. Thúc đẩy mạnh mẽ hơn kết nối các trục, tuyến hành lang giao thông Lạng Sơn – Bắc Giang (cũ) – Hải Phòng – Quảng Ninh; từ kết nối về giao thông, tăng cường kết nối về logistics, lao động, du lịch và vận chuyển hàng hóa.

Tăng cường huy động đầu tư để cải thiện kết cấu hạ tầng tại các khu cửa khẩu, đặc biệt là cửa khẩu quốc tế Móng Cái. Ưu tiên đầu tư sớm xây dựng các trung tâm logistics tại Khu kinh tế ven biển Quảng Yên, Móng Cái, sân bay Vân Đồn theo quy hoạch đã được phê duyệt. Trọng tâm là xây dựng Quảng Ninh trở thành trung tâm logistics.

Thứ hai, đổi mới tư duy từ Nhà nước quản lý sang Nhà nước kiến tạo và phục vụ, xây dựng thể chế vượt trội, tạo dựng môi trường hấp dẫn đầu tư chất lượng cao.

Chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; từ phát triển dựa vào tài nguyên sang phát triển dựa vào thể chế, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và kinh tế số; từ phát triển theo địa giới hành chính sang phát triển theo không gian kinh tế mở, liên kết vùng và chuỗi giá trị. Nghiên cứu xây dựng, thí điểm thể chế vượt trội tại Quảng Ninh. Xây dựng các gói ưu đãi đầu tư đặc thù, có tính cạnh tranh cao, dành riêng cho các lĩnh vực “đột phá”. Các ưu đãi này không chỉ giới hạn ở việc miễn giảm thuế mà còn cần được mở rộng để hỗ trợ R&D, phát triển nhân tài và tiếp cận hạ tầng thiết yếu…

Thu hút đầu tư chọn lọc, ưu tiên các dự án đầu tư xanh, công nghệ cao, thân thiện với môi trường, tạo ra nhiều việc làm chất lượng và có khả năng lan tỏa công nghệ, kỹ năng cho các doanh nghiệp địa phương. Triển khai cơ chế xúc tiến đầu tư chuyên biệt, linh hoạt và chủ động thu hút đầu tư công nghệ cao, chú trọng chuẩn bị các yếu tố đặc thù thu hút loại hình đầu tư này như bảo vệ sở hữu trí tuệ, quản trị dữ liệu, tiếp cận nhân tài và hạ tầng chuyên dụng, ưu đãi R&D, cơ chế sandbox để thử nghiệm. Đảm bảo quỹ đất sạch, có pháp lý rõ ràng, sẵn sàng cho các dự án chiến lược, đặc biệt là các dự án công nghiệp và năng lượng quy mô lớn. Công tác quy hoạch sử dụng đất cần chủ động, đi trước một bước và phù hợp với các ưu tiên đột phá.

Thứ ba, thúc đẩy mạnh mẽ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tăng đầu tư từ ngân sách và huy động các nguồn lực xã hội cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực mà Quảng Ninh có lợi thế hoặc định hướng phát triển (kinh tế biển, du lịch thông minh, công nghệ môi trường, năng lượng mới…).  Tạo dựng một môi trường khuyến khích sự sáng tạo, chấp nhận thử nghiệm và thất bại trong doanh nghiệp và trong cộng đồng. Xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ theo chủ đề, phù hợp với các lĩnh vực “đột phá” của tỉnh như vườn ươm công nghệ xanh, trung tâm du lịch thông minh, trung tâm công nghệ biển… Đầu tư vào cơ sở hạ tầng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hạ tầng dữ liệu và hỗ trợ xây dựng năng lực phân tích và quản trị số.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng các yêu cầu mới. Xây dựng các chương trình đào tạo và thu hút nhân tài cho các ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh (du lịch thông minh, chất lượng cao, công nghiệp công nghệ cao, năng lượng xanh, logistics, kinh tế biển…).  Đầu tư nâng cấp các cơ sở giáo dục, đào tạo (ví dụ: Trường Đại học Hạ Long, các trường cao đẳng nghề); chương trình đào tạo cần được cập nhật, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của các ngành kinh tế ưu tiên phát triển của tỉnh. Có chính sách thúc đẩy hợp tác, liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình, tổ chức thực tập và tuyển dụng.

Xây dựng chính sách hấp dẫn để thu hút nhân lực chất lượng cao từ các địa phương khác và cả từ các chuyên gia nước ngoài về làm việc tại các cơ sở nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và doanh nghiệp của tỉnh, đặc biệt trong các lĩnh vực mới và có hàm lượng công nghệ cao.  Triển khai các chương trình đào tạo lại phục vụ cho chuyển đổi ngành nghề hướng đến các ngành và các kỹ năng theo nhu cầu của thị trường lao động như kỹ năng số, kỹ năng xanh, kỹ năng dịch vụ du lịch thông minh và các kỹ năng kỹ thuật cho các ngành mới. Xây dựng các điều kiện thúc đẩy cơ hội học tập suốt đời và nâng cao kỹ năng.

Phát triển các “Trung tâm nghiên cứu và đào tạo xuất sắc” cho các ngành trọng điểm của tỉnh như (ví dụ, Học viện Logistics Hàng hải, Viện Nghiên cứu và Đào tạo Nuôi trồng Thủy sản Bền vững) hợp tác với các tổ chức quốc tế hàng đầu có thể nhanh chóng nâng cấp kỹ năng và thu hút nhân tài, định vị Quảng Ninh là một trung tâm tri thức về các ngành trọng tâm, đặc biệt là kinh tế biển.

Thứ năm, hoàn thiện không gian phát triển theo 3 cực động lực chủ yếu: Quảng Yên thiên về công nghiệp – cảng biển – R&D; Vân Đồn thiên về kinh tế biển – du lịch cao cấp – logistics – đặc khu; Móng Cái thiên về thương mại biên giới – logistics – hợp tác kinh tế xuyên biên giới.

Thứ sáu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại: (1) Phát triển công nghiệp công nghệ cao và “xanh”.Phát triển công nghiệp hiện đại, thúc đẩy các ngành có giá trị gia tăng cao, bền vững, giảm phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên hữu hạn và tạo ra các động lực tăng trưởng mới. (2) Phát triển du lịch chất lượng cao, độc đáo, thông minh. Xây dựng Quảng Ninh trở thành điểm đến du lịch tầm quốc tế.

4. Kết luận

Quảng Ninh có nhiều điều kiện thuận lợi để trở thành một trong những địa phương đi đầu cả nước trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng “hai con số” trong giai đoạn 2026-2030. Tuy nhiên, điều kiện cần để đạt mục tiêu đó không chỉ là khai thác các lợi thế sẵn có, mà quan trọng hơn là phải tạo dựng các lợi thế mới, nâng cao chất lượng tăng trưởng và đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh và tổ chức lại không gian phát triển.

Những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua là nền tảng quan trọng, nhưng chưa đủ để bảo đảm tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới. Những hạn chế về cơ cấu ngành, công nghệ, kinh tế số, liên kết doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực, logistics và môi trường cho thấy Quảng Ninh đang đứng trước yêu cầu phải thực hiện những chuyển đổi sâu hơn, mang tính chất cấu trúc. Nếu giải quyết tốt các điểm nghẽn này và triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp nêu trên, Quảng Ninh có cơ sở để không chỉ duy trì đà tăng trưởng cao mà còn xây dựng được một mô hình phát triển hiện đại, xanh, bao trùm và có sức cạnh tranh dài hạn.

Chú thích:
1, 2. Tính toán của các tác giả từ số liệu của Cục Thống kê. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-ket-qua-tang-truong-tong-san-pham-tren-dia-ban-grdp-cua-34-tinh-thanh-pho-nam-2025/
3, 4. Tính toán của các tác giả từ số liệu GRDP các địa phương cung cấp bởi Cục Thống kê phục vụ xây dựng “Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030” (năm 2021) và số liệu phục vụ xây dựng Đề án “Sơ kết tình hình thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XII về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế – xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (năm 2026).
5. Điểm báo ngày 29/5. https://quangninh.gov.vn/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=165854    
6, 7. UBND tỉnh Quảng Ninh (2025). Đề án Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030.
8. Quang Ninh province targets $3 bln in FDI attraction in 2026. https://en.vneconomy.vn/quang-ninh-province-targets-3-bln-in-fdi-attraction-in-2026.htm
9, 19. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2030.
10. Số liệu cung cấp bởi Cục Thống kê phục vụ xây dựng Đề án “Các giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “2 con số” trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam gắn với Tổng kết Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII” (năm 2026).
11, 12, 14, 15, 16, 18. Tính toán của các tác giả dựa trên số liệu do Cục Thống kê cung cấp năm 2026.
13. Quảng Ninh bứt phá trên bảng xếp hạng PII. https://mst.gov.vn/quang-ninh-but-pha-tren-bang-xep-hang-pii-197260225090147169.htm?
17. OECD (1999). OECD’s Science, Technology and Industry Scoreboard, Benchmarking Knowledge-Based Economies. OECD, Paris, p.106.
20. Xếp hạng Chỉ số giá sinh hoạt theo không gian (SCOLI – Spatial Cost of Living Index) do Cục Thống kê công bố.
Tài liệu tham khảo:
1. Bùi Văn Huyền (2026). Giải pháp đột phá nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh. Dự thảo đề tài nghiên cứu khoa học tỉnh Quảng Ninh, 5/2026.
2. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2025). Báo cáo tổng kết sâu về kết quả thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
3. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2025). Các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số” giai đoạn 2026-2030 của tỉnh Quảng Ninh.
4. UBND tỉnh Quảng Ninh (2026). Nghị quyết số 334/NQ-HĐND ngày 05/02/2026 về “Điều chỉnh chỉ tiêu và bổ sung nhiệm vụ, giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt 13% trở lên trong năm 2026”.
5. Tỉnh Quảng Ninh thúc đẩy mô hình tăng trưởng đa trục, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chi-tiet-tim-kiem/-/2018/1195302/tinh-quang-ninh-thuc-day-mo-hinh-tang-truong-da-truc%2C-gop-phan-dat-muc-tieu-tang-truong-hai-con-so.aspx