Promoting the leadership role of the Thanh Hoa Provincial Party Committee in agricultural development in the current period
Thượng úy Trần Văn Huy
Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nông nghiệp luôn được Đảng xác định giữ vai trò nền tảng của nền kinh tế quốc dân, là yếu tố mang ý nghĩa chiến lược đối với sự ổn định chính trị và phát triển xã hội. Phát triển nông nghiệp bền vững là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, biến đổi khí hậu và yêu cầu chuyển đổi số, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với phát triển nông nghiệp càng trở nên quan trọng. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong lãnh đạo phát triển nông nghiệp hiện nay.
Từ khóa: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa; nông nghiệp; lãnh đạo; phát triển bền vững; kinh tế xanh.
Abstract: Throughout the course of leading the Vietnamese revolution, the Communist Party of Vietnam has consistently identified agriculture as the foundation of the national economy and a factor of strategic importance for political stability and social development. Sustainable agricultural development is a key task within the socio-economic development strategies of both Vietnam as a whole and Thanh Hoa Province specifically. Amidst deepening international integration, climate change, and the imperative of digital transformation, the leadership role of the Provincial Party Committee in agricultural development has become increasingly vital. This article outlines the basis for discussion, assesses the current situation, and proposes solutions to enhance the role of the Thanh Hoa Provincial Party Committee in leading agricultural development today.
Keywords: Thanh Hoa Provincial Party Committee; Agriculture; Leadership; Sustainable development; Green economy
1. Đặt vấn đề
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng đó, Đảng luôn đặc biệt chú trọng lãnh đạo phát triển nông nghiệp, coi đây là lợi thế quốc gia và trụ đỡ của nền kinh tế. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 đã khẳng định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là ba thành tố có quan hệ mật thiết, gắn bó, không thể tách rời; có vai trò, vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở, lực lượng to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội… đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế”1.
Đối với Thanh Hóa là tỉnh có diện tích lớn, dân số đông, khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ cao, phát triển nông nghiệp không chỉ bảo đảm an ninh lương thực mà còn là nền tảng ổn định chính trị – xã hội. Những năm qua, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết quan trọng lãnh đạo phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, cần tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn hiện nay.
2. Vai trò của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay
Đảng luôn xác định nông nghiệp là trụ đỡ của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng, dịch bệnh. Các nghị quyết của Trung ương, nhất là về cuộc “tam nông”, đã nhấn mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao. Nghị quyết Đại hội XIV Đảng khẳng định: “Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện”2. Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đối với phát triển nông nghiệp ngày càng có ý nghĩa quyết định.
Đảng bộ tỉnh giữ vai trò xác định phương hướng, mục tiêu và con đường phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Lãnh đạo xây dựng các nghị quyết, chương trình, đề án về phát triển nông nghiệp. Định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững. Xác định các ngành, lĩnh vực mũi nhọn (nông nghiệp công nghệ cao, sản phẩm chủ lực, kinh tế biển…). Đây là cơ sở để toàn bộ hệ thống chính trị triển khai thống nhất và hiệu quả. Đồng thời, lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, chỉ đạo cụ thể hóa chủ trương của Trung ương thành các cơ chế, chính sách phù hợp với đặc điểm từng vùng: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển. Ban hành chính sách thu hút đầu tư vào nông nghiệp; hỗ trợ tích tụ đất đai, phát triển kinh tế hợp tác, khuyến khích ứng dụng khoa học – công nghệ, tạo hành lang pháp lý và động lực thúc đẩy phát triển nông nghiệp.
Không chỉ dừng ở việc ban hành nghị quyết, Đảng bộ tỉnh còn trực tiếp lãnh đạo tổ chức phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các cấp, các ngành. Chỉ đạo triển khai các chương trình trọng điểm (xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu nông nghiệp…); kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Qua đó, bảo đảm chủ trương đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả thực tiễn, lãnh đạo phát triển khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trong nông nghiệp. Đảng bộ tỉnh định hướng và thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, xây dựng cơ sở dữ liệu số, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, phát triển thương mại điện tử nông sản. Qua đó, giúp nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Thanh Hóa.
3. Thực trạng phát huy vai trò của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong phát triển nông nghiệp
Thanh Hóa là tỉnh có vị trí chiến lược, diện tích rộng, dân số đông, địa hình đa dạng hội tụ đủ các vùng sinh thái từ trung du, miền núi đến đồng bằng, ven biển. Với đặc thù nông nghiệp là lĩnh vực chủ đạo, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa luôn quán triệt sâu sắc các chủ trương của Trung ương, vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn địa phương, xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVIII xác định: “Coi phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới là nền tảng”3.
Trong thời gian qua, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra chủ trương phát triển nông nghiệp phù hợp với tình hình thực tiễn, chỉ đạo phát triển nông nghiệp toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, lãnh đạo phát triển nông nghiệp đạt nhiều kết quả tích cực. Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng; hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh quy mô lớn; ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo từng bước được đẩy mạnh; chương trình xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả tích cực; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp ngày càng tăng. Phát triển khá toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao gắn với bảo vệ môi trường; hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ; chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) được đẩy mạnh, vươn lên đứng thứ 3 cả nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tiễn quá trình lãnh đạo phát triển nông nghiệp của tỉnh vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Việc quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển nông nghiệp của tỉnh Thanh Hóa có lúc chưa chủ động, linh hoạt. Chỉ đạo phát triển nông nghiệp còn chưa kịp thời. Kết quả phát triển nông nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh, có thời điểm chưa đạt được mục tiêu đề ra. Sản xuất nông nghiệp còn manh mún, nhỏ lẻ. Ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế. Liên kết chuỗi giá trị chưa chặt chẽ. Nguồn nhân lực chất lượng cao trong nông nghiệp còn thiếu. Sản xuất nông nghiệp quy mô lớn và công nghệ cao theo chuỗi giá trị chưa phổ biến; việc ứng dụng khoa học công nghệ chưa đồng bộ; sản xuất còn chịu tác động lớn của thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu. Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch còn hạn chế; tỷ lệ tích tụ, tập trung đất đai chưa cao dẫn đến tình trạng sản xuất ở nhiều nơi còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán. Sự phát triển của ngành nông nghiệp nhìn chung chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và kỳ vọng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh.
4. Một số giải pháp
Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng về vai trò của phát triển nông nghiệp hiện nay.
Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, quyết định trực tiếp đến chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa. Nhận thức đúng sẽ dẫn đến hành động đúng, trách nhiệm cao sẽ tạo ra hiệu quả thực tiễn rõ rệt. Trước hết, cần nâng cao nhận thức toàn diện về vị trí, vai trò của nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Do đó, các cấp ủy đảng cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về “tam nông”, xác định nông nghiệp không chỉ là ngành sản xuất truyền thống mà còn là trụ đỡ của nền kinh tế trong bối cảnh biến động, lĩnh vực có tiềm năng lớn trong xuất khẩu và hội nhập quốc tế. Đồng thời, là nền tảng bảo đảm ổn định chính trị – xã hội và an sinh. Đặc biệt, trong điều kiện chuyển đổi số và biến đổi khí hậu, nông nghiệp phải được nhìn nhận theo hướng nông nghiệp sinh thái, công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, thay vì tư duy sản xuất nhỏ lẻ, manh mún.
Bên canh đó, cần nâng cao trách nhiệm chính trị của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu coi phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả lãnh đạo phát triển nông nghiệp tại địa phương, đơn vị. Gắn kết quả phát triển nông nghiệp với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng và cán bộ. Tránh tình trạng khoán trắng cho chính quyền hoặc ngành chuyên môn, thiếu kiểm tra, đôn đốc, dẫn đến chủ trương đúng nhưng thực hiện kém hiệu quả.
Đồng thời, đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức. Cần đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền như thông qua học tập nghị quyết, sinh hoạt chi bộ. Tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông, hệ thống chính trị cơ sở. Xây dựng các mô hình điểm, điển hình tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp. Nội dung tuyên truyền cần tập trung và vai trò của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp, lợi ích của sản xuất hàng hóa lớn, liên kết chuỗi. Tư duy kinh tế nông nghiệp thay cho tư duy sản xuất thuần túy. Gắn nâng cao nhận thức với xây dựng quyết tâm chính trị và hành động cụ thể. Phân công rõ trách nhiệm từng cấp, từng ngành. Đẩy mạnh sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, kịp thời điều chỉnh chủ trương cho phù hợp thực tiễn.
Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp phù hợp với từng khu vực, địa bàn.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách là điều kiện quan trọng để cụ thể hóa chủ trương của Đảng thành động lực phát triển thực tiễn. Đối với tỉnh Thanh Hóa – địa phương có đặc điểm đa dạng về địa hình (miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển), việc xây dựng chính sách cần bảo đảm tính đặc thù, linh hoạt, phù hợp với từng vùng sinh thái. Trước hết, xây dựng cơ chế, chính sách theo hướng phân vùng phát triển nông nghiệp. Cần căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội để định hướng chính sách riêng cho từng khu vực. Đối với khu vực miền núi, ưu tiên phát triển nông – lâm kết hợp, cây dược liệu, chăn nuôi đại gia súc; có chính sách hỗ trợ giống, vốn, hạ tầng và tiêu thụ sản phẩm. Khu vực trung du, tập trung phát triển cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, chăn nuôi tập trung; khuyến khích hình thành vùng sản xuất hàng hóa. Khu vực đồng bằng, đẩy mạnh thâm canh lúa chất lượng cao, rau màu, nông nghiệp công nghệ cao; phát triển các mô hình liên kết chuỗi giá trị. Khu vực ven biển, ưu tiên nuôi trồng thủy sản, kinh tế biển, phát triển mô hình nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đồng thời, hoàn thiện chính sách đất đai phục vụ phát triển nông nghiệp quy mô lớn; đẩy mạnh tích tụ, tập trung ruộng đất thông qua cơ chế chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất; khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư sản xuất lớn; có chính sách bảo đảm quyền lợi của nông dân khi tham gia tích tụ đất đai. Bên cạnh đó, cần tháo gỡ các rào cản về pháp lý để tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp hiện đại. Ban hành chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp. Tỉnh cần xây dựng các chính sách ưu đãi cụ thể như hỗ trợ tín dụng, giảm thuế cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp; khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến, bảo quản nông sản. Đặc biệt, cần ưu tiên các dự án có khả năng tạo chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ.
Chú trọng phát triển kinh tế hợp tác và liên kết sản xuất. Tập trung củng cố, phát triển hợp tác xã kiểu mới. Hỗ trợ xây dựng mô hình liên kết “4 nhà” (Nhà nước – nhà nông – nhà khoa học – doanh nghiệp). Khuyến khích ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Qua đó, nâng cao năng lực tổ chức sản xuất và giảm rủi ro thị trường cho nông dân. Chú trọng, hoàn thiện chính sách khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trong nông nghiệp. Hỗ trợ ứng dụng công nghệ sinh học, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo. Xây dựng cơ sở dữ liệu số về nông nghiệp. Phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử nông sản. Chính sách cần hướng đến tăng năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản. Đồng thới, tăng cường chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực và an sinh nông thôn, gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống người dân.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Nguồn nhân lực là yếu tố trung tâm, giữ vai trò quyết định trong quá trình phát triển nông nghiệp hiện đại. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số, việc xây dựng đội ngũ lao động nông nghiệp có trình độ, kỹ năng và tư duy mới là yêu cầu cấp thiết đối với tỉnh Thanh Hóa. Do đó, cần nâng cao nhận thức về vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển nông nghiệp. Các cấp ủy đảng cần xác định nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Phát triển nhân lực nông nghiệp phải gắn với yêu cầu tái cơ cấu ngành và chuyển đổi số. Chuyển từ “lao động nông nghiệp truyền thống” sang “lao động nông nghiệp tri thức”. Trên cơ sở đó, đưa nội dung phát triển nguồn nhân lực vào nghị quyết, chương trình hành động của cấp ủy.
Tích cực, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho lao động nông nghiệp. Tập trung đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng thực hành, gắn với nhu cầu thị trường. Tổ chức tập huấn kỹ thuật sản xuất tiên tiến, công nghệ mới. Bồi dưỡng kiến thức về quản lý kinh tế, kinh doanh nông nghiệp. Đặc biệt, chú trọng đào tạo kỹ năng ứng dụng công nghệ số, kiến thức về sản xuất theo tiêu chuẩn (VietGAP, GlobalGAP…). Đồng thời, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nông nghiệp có năng lực hoạch định chính sách, tổ chức sản xuất. Nâng cao chất lượng cán bộ khuyến nông, thú y, bảo vệ thực vật. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ có trình độ chuyên môn cao. Đây là lực lượng nòng cốt trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học – công nghệ vào thực tiễn sản xuất.
Bên cạnh đó, cần có chính sách thu hút và đãi ngộ nguồn nhân lực chất lượng cao. Tích cực thực hiện các chính sách thu hút trí thức trẻ, kỹ sư, chuyên gia về làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Hỗ trợ tài chính, điều kiện làm việc, môi trường nghiên cứu. Khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động có trình độ cao. Đồng thời, tạo điều kiện để người lao động phát huy năng lực, gắn bó lâu dài với nông nghiệp, nông thôn. Chủ động thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn hợp lý, giảm dần lao động thuần nông, tăng lao động trong lĩnh vực chế biến và dịch vụ nông nghiệp. Hỗ trợ chuyển đổi nghề cho lao động dư thừa, đào tạo nghề nhằm giải quyết việc làm. Qua đó, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động và thu nhập cho người dân. Đồng thời, quan tâm xây dựng đội ngũ “nông dân mới” có kiến thức khoa học – kỹ thuật, có tư duy kinh tế, khả năng tiếp cận thị trường. Biết ứng dụng công nghệ số trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để đáp ứng yêu cầu phát triển hiện đại. Việc xây dựng “nông dân số”, “nông dân chuyên nghiệp” là xu hướng tất yếu để phát triển nông nghiệp bền vững.
Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trong phát triển nông nghiệp.
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số đang trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại. Đối với tỉnh Thanh Hóa, việc đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ và chuyển đổi số không chỉ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất mà còn tạo bước đột phá trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng bền vững. Theo đó, cần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Các cấp ủy đảng cần xác định rõ ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số là khâu đột phá chiến lược trong phát triển nông nghiệp. Ban hành nghị quyết chuyên đề về nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh. Đưa các chỉ tiêu ứng dụng công nghệ vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Qua đó, tạo cơ sở chính trị vững chắc để triển khai đồng bộ các giải pháp trong thực tiễn.
Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ sinh học: tạo giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao, chống chịu tốt với biến đổi khí hậu; công nghệ tự động hóa, hệ thống tưới tiêu thông minh, nhà kính, nhà màng; công nghệ bảo quản, chế biến kéo dài thời gian bảo quản, nâng cao giá trị gia tăng nông sản. Đồng thời, cần tăng cường liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp để thúc đẩy chuyển giao công nghệ vào sản xuất. Quan tâm thúc đẩy chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp. Chuyển đổi số cần được triển khai toàn diện trong sản xuất, quản lý và tiêu thụ. Qua đó, hình thành nền nông nghiệp thông minh, minh bạch, hiệu quả cao.
Quan tâm phát triển hạ tầng số phục vụ nông nghiệp. Đầu tư hạ tầng viễn thông, internet đến khu vực nông thôn, miền núi. Xây dựng nền tảng số phục vụ quản lý và sản xuất nông nghiệp. Phát triển các ứng dụng số hỗ trợ nông dân (dự báo thời tiết, giá cả thị trường, kỹ thuật canh tác…). Đây là điều kiện tiên quyết để triển khai thành công chuyển đổi số trong nông nghiệp. Chú trọng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp số. Tổ chức đào tạo, tập huấn cho nông dân về kỹ năng số. Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý nông nghiệp có trình độ công nghệ. Đồng thời, xây dựng và nhân rộng các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh góp phần lan tỏa, thúc đẩy chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp.
5. Kết luận
Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đối với phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế, chính trị, xã hội và quốc phòng – an ninh. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu và xu thế chuyển đổi số, nông nghiệp không chỉ giữ vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế mà còn là lĩnh vực cần được đổi mới mạnh mẽ về tư duy và phương thức phát triển. Thực tiễn, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nông nghiệp Thanh Hóa đã đạt được nhiều kết quả quan trọng; tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng, đồng thời đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, hiệu quả, sát thực tiễn. Theo đó, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, từ nâng cao nhận thức, hoàn thiện chính sách đến ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Qua đó, góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, bền vững, nâng cao đời sống nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh hiện nay.
Chú thích:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 34.
3. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2015). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII. NXB Thanh Hóa, tr. 12.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2019). Kết luận số 54-KL/TW ngày 07/8/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025.
4. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2022). Kế hoạch số 82/KH-UBND ngày 24/3/2022 thực hiện Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2022 – 2030.
5. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2022). Kế hoạch số 260/KH-UBND ngày 07/11/2022 phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2022 – 2030.



