New thinking on international economic integration in the documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam
TS. Trần Quốc Việt
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
(Quanlynhanuoc.vn) – Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng bổ sung nhiều nhận thức và định hướng mới về hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu diễn ra mạnh mẽ. Bài viết phân tích những điểm mới trong tư duy của Đại hội XIV về hội nhập kinh tế quốc tế, tập trung làm rõ yêu cầu gắn hội nhập với nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc. Qua đó, luận giải các định hướng, giải pháp về ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu.
Từ khóa: Hội nhập kinh tế quốc tế; Đại hội XIV của Đảng; tư duy mới; tự chủ chiến lược; ngoại giao kinh tế; chuyển đổi số.
Abstract: The 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam introduced new perspectives and orientations on international economic integration in the context of intensifying strategic competition among major powers, rapid digital transformation, and the restructuring of global supply chains. This article analyzes the new thinking of the 14th National Congress on international economic integration, focusing on the requirement to combine integration with enhancing the self-reliance of the economy, promoting science and technology, innovation, and safeguarding national interests. On that basis, the article clarifies orientations and solutions related to economic diplomacy, technology diplomacy, institutional reform, and improving the implementation of international commitments in order to enhance Vietnam’s position in the global economy.
Keywords: International economic integration; 14th National Congress; new thinking; strategic autonomy; economic diplomacy; digital transformation.
1. Đặt vấn đề
Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Qua gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã từng bước tham gia sâu rộng vào các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, thu hút nguồn lực bên ngoài và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến những biến động sâu sắc dưới tác động của cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, yêu cầu đặt ra đối với hội nhập kinh tế quốc tế về mở rộng hợp tác và nâng cao năng lực tự chủ, khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và dự báo xu thế phát triển mới của thế giới, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phải “khơi thông mọi nguồn lực, mọi động lực phát triển, phát huy sức mạnh Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”1 nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Những nội dung này thể hiện bước phát triển trong tư duy của Đảng về mối quan hệ giữa hội nhập và phát triển, giữa mở cửa và tự chủ, giữa tranh thủ nguồn lực bên ngoài với phát huy nội lực của đất nước.
2. Những nhân tố tác động đến sự hình thành tư duy mới về hội nhập kinh tế quốc tế trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
2.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo. Những thay đổi sâu sắc về địa chính trị, địa kinh tế, khoa học – công nghệ và mô hình phát triển toàn cầu đang tạo ra cả thời cơ và thách thức mới đối với các quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế đang phát triển có độ mở lớn như Việt Nam. Đây cũng là cơ sở thực tiễn quan trọng thúc đẩy sự bổ sung và phát triển tư duy của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Bối cảnh quốc tế hiện nay cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt và toàn diện. Cạnh tranh không chỉ diễn ra trên lĩnh vực quân sự, chính trị mà còn mở rộng sang kinh tế, thương mại, công nghệ, năng lượng, chuỗi cung ứng và không gian số. Xu hướng phân tách công nghệ, bảo hộ thương mại, kiểm soát chuỗi cung ứng và gia tăng các hàng rào kỹ thuật đang làm cho môi trường kinh tế quốc tế trở nên thiếu ổn định và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhận định: “Môi trường chính trị, kinh tế, an ninh thế giới liên tục bất ổn, diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo”2. Điều này đặt ra yêu cầu Việt Nam phải đổi mới tư duy hội nhập theo hướng chủ động thích ứng, nâng cao khả năng chống chịu và bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và mô hình tăng trưởng của các quốc gia. Sự phát triển bùng nổ của AI, dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ số, kinh tế số và chuyển đổi xanh đang mở ra không gian phát triển mới nhưng đồng thời cũng tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn đối với nền kinh tế có trình độ công nghệ còn hạn chế, do đó, “đặt ra yêu cầu cấp bách về xác lập mô hình tăng trưởng, mô hình phát triển mới, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản xuất mới và năng lực cạnh tranh quốc gia”3. Hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay mở rộng thương mại hay thu hút đầu tư, gắn chặt với yêu cầu đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Trong quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, nhiều quốc gia và tập đoàn đa quốc gia đang điều chỉnh chiến lược đầu tư, dịch chuyển sản xuất nhằm đa dạng hóa thị trường và giảm phụ thuộc vào một số trung tâm kinh tế lớn. Xu hướng này vừa tạo ra cơ hội để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, vừa đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực nội sinh, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao. Sự gia tăng của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các tiêu chuẩn cao về môi trường, lao động, chuyển đổi xanh và quản trị số cũng buộc Việt Nam phải tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ở trong nước, từ năm 1986 đổi mới đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Từ một nền kinh tế khép kín, trình độ phát triển thấp, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn trên thế giới, tham gia sâu rộng vào mạng lưới thương mại và đầu tư toàn cầu; “những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao”4. Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp cận công nghệ hiện đại và nâng cao đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, quá trình hội nhập cũng bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực đầu tư nước ngoài; năng suất lao động và năng lực cạnh tranh còn thấp; khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở các khâu có giá trị gia tăng cao còn hạn chế. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: “Năng suất lao động chưa cao, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế”5. Những vấn đề về an ninh kinh tế, an ninh mạng, phụ thuộc công nghệ, nguy cơ tụt hậu trong chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đang trở thành những thách thức lớn đối với quá trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Hội nhập đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ, nâng cao năng lực nội sinh và khả năng chống chịu của nền kinh tế. Đây chính là cơ sở thực tiễn quan trọng để Đại hội XIV của Đảng bổ sung nhiều nhận thức mới về hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng chủ động, toàn diện, hiệu quả và gắn với phát triển nhanh, bền vững đất nước.
2.2. Quá trình phát triển tư duy của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế qua các kỳ Đại hội
Tư duy của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế là kết quả của quá trình đổi mới nhận thức lý luận gắn liền với thực tiễn phát triển đất nước và xu thế vận động của thế giới. Từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng bắt đầu đổi mới tư duy phát triển với chủ trương mở cửa nền kinh tế, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước. Đến Đại hội VII và VIII, nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục được mở rộng gắn với quá trình bình thường hóa quan hệ đối ngoại, gia nhập ASEAN và tham gia các thể chế kinh tế khu vực, quốc tế. Đại hội IX đánh dấu bước phát triển quan trọng khi lần đầu tiên xác định chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, thể hiện sự chuyển biến từ tư duy “mở cửa” sang chủ động tham gia các liên kết kinh tế toàn cầu. Đại hội X và XI tiếp tục phát triển tư duy hội nhập theo hướng toàn diện hơn, đặc biệt Đại hội XI nhấn mạnh “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” trên nhiều lĩnh vực. Đến Đại hội XII và XIII, Đảng chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập gắn với giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm an ninh kinh tế và nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển những nhận thức trước đó, Đại hội XIV của Đảng đã bổ sung nhiều nội dung mới về hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp với bối cảnh phát triển mới của đất nước và thế giới. Hội nhập được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với tự chủ chiến lược, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, phản ánh yêu cầu vừa chủ động hội nhập sâu rộng, vừa bảo đảm khả năng thích ứng và chống chịu trước những biến động nhanh chóng của môi trường quốc tế.
3. Những điểm mới trong tư duy của Đại hội XIV của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế
3.1. Hội nhập kinh tế quốc tế gắn với củng cố nền tảng tự chủ của nền kinh tế
Điểm mới nổi bật trong tư duy của Đại hội XIV đặt yêu cầu nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Nếu ở những giai đoạn trước, hội nhập chủ yếu được nhìn nhận như một phương thức huy động nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển thì trong bối cảnh hiện nay, hội nhập được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với việc tăng cường năng lực nội sinh và khả năng thích ứng của nền kinh tế trước những biến động của môi trường quốc tế.
Bối cảnh thế giới với nhiều thay đổi sâu sắc với sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xu hướng bảo hộ thương mại, phân tách công nghệ và những rủi ro từ đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu. Những yếu tố này đặt ra yêu cầu phải nâng cao khả năng tự chủ trong phát triển, hạn chế các nguy cơ phụ thuộc quá mức vào thị trường, công nghệ hoặc nguồn lực bên ngoài. Trên cơ sở đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “giữ vững độc lập, tự chủ, nâng cao năng lực nội sinh và khả năng thích ứng của nền kinh tế”⁶.
Nhận thức mới của Đại hội XIV thể hiện ở việc coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở phát huy nội lực, củng cố năng lực tự chủ và khả năng thích ứng của nền kinh tế. Hội nhập kinh tế quốc tế cần trở thành động lực thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, phát triển doanh nghiệp trong nước và tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài. Điều đó cho thấy tư duy hội nhập của Đại hội XIV đã có bước phát triển từ mở rộng liên kết kinh tế quốc tế sang chủ động kiến tạo các điều kiện để phát huy nội lực, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh mới.
3.2. Mở rộng nội hàm hội nhập gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Đại hội XIV của Đảng thể hiện cách tiếp cận toàn diện hơn đối với hội nhập kinh tế quốc tế khi đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực của phát triển. Trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, kinh doanh và quản trị, lợi thế cạnh tranh của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào năng lực sáng tạo và trình độ công nghệ.
Từ góc độ đó, hội nhập kinh tế quốc tế làm gia tăng kim ngạch thương mại hay thu hút đầu tư nước ngoài và hướng tới tiếp cận tri thức, công nghệ hiện đại và các nguồn lực chất lượng cao phục vụ phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định yêu cầu xây dựng mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số⁷. Đây là sự chuyển dịch quan trọng từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào các yếu tố truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên tri thức và công nghệ.
Điểm mới nổi bật trong Văn kiện Đại hội Đảng XIV mở rộng nội hàm của hội nhập sang các lĩnh vực công nghệ số, kinh tế số, đổi mới sáng tạo và hợp tác khoa học – công nghệ. Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng quyết liệt, việc chủ động tham gia các mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu và tiếp cận các thành tựu khoa học tiên tiến trở thành yêu cầu có ý nghĩa chiến lược đối với quá trình phát triển đất nước.
3.3. Khẳng định vai trò của ngoại giao kinh tế trong nâng cao vị thế quốc gia
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế là bộ phận quan trọng của đường lối đối ngoại, nhấn mạnh hơn vai trò của ngoại giao kinh tế trong phục vụ phát triển đất nước. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, ngoại giao kinh tế không chỉ dừng lại ở việc thúc đẩy thương mại và đầu tư mà còn trở thành công cụ quan trọng để mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế quốc gia.
Theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, việc phát huy hiệu quả các hoạt động đối ngoại cần hướng tới mục tiêu tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, mở rộng thị trường, tiếp cận công nghệ hiện đại và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước⁸. Điều đó cho thấy tư duy hội nhập đã được mở rộng từ mục tiêu phát triển kinh tế sang mục tiêu gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Điểm mới đáng chú ý là hội nhập được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với việc tham gia chủ động vào các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu. Việt Nam ngày càng chủ động hơn trong việc tham gia các cơ chế hợp tác kinh tế quốc tế, đồng thời từng bước nâng cao khả năng đóng góp vào quá trình định hình các chương trình nghị sự và khuôn khổ hợp tác khu vực, toàn cầu. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao vị thế quốc gia, đồng thời tạo thêm nguồn lực phục vụ phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
4. Giải pháp thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hoàn thiện thể chế tiếp tục là yêu cầu nền tảng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế. Theo định hướng của Đại hội XIV của Đảng, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phù hợp với các cam kết quốc tế và tiêu chuẩn của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thực sự minh bạch, ổn định và thuận lợi cho doanh nghiệp.
Hoàn thiện thể chế cần gắn với yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ và an ninh kinh tế quốc gia. Chú trọng xây dựng các cơ chế quản lý hiệu quả đối với những vấn đề mới phát sinh từ hội nhập như an ninh dữ liệu, an ninh mạng, phòng vệ thương mại và kiểm soát chuyển giao công nghệ nhằm bảo đảm hài hòa giữa mở cửa hội nhập với bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.
Thứ hai, nâng cao năng lực nội sinh và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đại hội XIV của Đảng xác định hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn chặt với nâng cao năng lực nội sinh và khả năng tự chủ của nền kinh tế. Tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tập trung phát triển doanh nghiệp Việt Nam có năng lực cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và các ngành công nghiệp nền tảng. Việc nâng cao năng lực công nghệ, quản trị và khả năng tận dụng các hiệp định thương mại tự do sẽ góp phần giảm phụ thuộc vào khu vực đầu tư nước ngoài và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập trong kỷ nguyên số.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng gắn với yêu cầu của thị trường lao động và xu thế phát triển của kinh tế số. Nâng cao trình độ chuyên môn, cần chú trọng phát triển kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo, ngoại ngữ và khả năng thích ứng với môi trường làm việc quốc tế cho người lao động. Đồng thời, tăng cường thu hút, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
Thứ tư, phát huy vai trò của ngoại giao kinh tế và doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế
Trong điều kiện hội nhập sâu rộng hiện nay, ngoại giao kinh tế cần tiếp tục được phát huy như một công cụ quan trọng phục vụ phát triển đất nước. Theo đó, chủ động mở rộng thị trường, thu hút đầu tư chất lượng cao, tiếp cận công nghệ tiên tiến và tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu. Doanh nghiệp cần được xác định là chủ thể trung tâm của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, chuyển đổi số và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề nhằm nâng cao hiệu quả tận dụng cơ hội từ hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.
5. Kết luận
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng bổ sung và phát triển nhiều nhận thức mới về hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp với bối cảnh thế giới đang biến đổi nhanh chóng và sâu sắc. Điểm nổi bật trong tư duy hội nhập của Đại hội XIV của Đảng là sự gắn kết chặt chẽ giữa mở rộng hội nhập với nâng cao năng lực nội sinh, bảo đảm tính tự chủ và khả năng thích ứng của nền kinh tế. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và ngoại giao kinh tế được xác định là những động lực quan trọng để nâng cao chất lượng hội nhập và năng lực cạnh tranh quốc gia. Những định hướng này thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về mối quan hệ giữa hội nhập và phát triển, giữa tranh thủ nguồn lực bên ngoài với phát huy nội lực của đất nước. Trong thời gian tới, việc triển khai hiệu quả các chủ trương của Đại hội XIV của Đảng sẽ góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Chú thích:
1, 3, 4, 5, 6, 7, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 10, 9, 9, 9, 10, 9, 11.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 12.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Thị Thanh Tâm, Trần Thanh Tùng (2025). Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mới. Tạp chí Quản lý nhà nước số 354 (7/2025), tr. 8-12. https://doi.org/10.59394/qlnn.354.2025.1216.
2. Ngoại giao kinh tế chuyển mình mạnh mẽ vì sự phát triển hùng cường của dân tộc. https://baochinhphu.vn/ngoai-giao-kinh-te-chuyen-minh-manh-me-vi-su-phat-trien-hung-cuong-cua-dan-toc-102260118130951908.htm
3. Ngoại giao Việt Nam – 80 năm xây dựng, trưởng thành cùng đất nước. https://www.tapchicongsan.org.vn/mediastory//asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ngoai-giao-viet-nam-80-nam-xay-dung-truong-thanh-cung-dat-nuoc
4. Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 12 và năm2025. https://www.customs.gov.vn/index.jsp?pageId=442&tkId=9328&group=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch&category=undefined
5. Vươn mình trong hội nhập quốc tế. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/vuon-minh-trong-hoi-nhap-quoc-te



