Factors affecting economic interest relations in agricultural land acquisition in Bac Ninh province at present
ThS. Lưu Ngọc Được
Trường Sĩ quan Chính trị
(Quanlynhanuoc.vn) – Với quy hoạch tổng thể và nguồn lực đầu tư ngày càng được tăng cường, Bắc Ninh đặt mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị thông minh, hiện đại, trở thành một cực tăng trưởng kinh tế quan trọng ở vùng Đồng bằng sông Hồng. Điều đó đặt ra nhiều vấn đề trong thu hồi đất nông nghiệp phục vụ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. Bài viết tập trung làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
Từ khóa: Quan hệ lợi ích kinh tế; thu hồi đất nông nghiệp; công nghiệp hóa; Bắc Ninh.
Abstract: With increasingly strengthened master planning and investment resources, Bac Ninh aims to become a centrally governed city and a modern smart city, serving as an important economic growth pole in the Red River Delta region. This development poses numerous challenges regarding the acquisition of agricultural land to support the processes of industrialization and urbanization. This article focuses on clarifying the factors affecting economic interest relations in agricultural land acquisition in Bac Ninh Province at present.
Keywords: Economic interest relations; agricultural land acquisition; industrialization; Bac Ninh
1. Đặt vấn đề
Sau khi thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Bắc Ninh có quy mô diện tích, dân số và tiềm lực kinh tế lớn. Năm 2025, “GRDP của tỉnh tăng 10,27%, đứng thứ 5 cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế”1; khu vực công nghiệp – xây dựng tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Quá trình phát triển nhanh các khu công nghiệp, khu đô thị và các công trình hạ tầng chiến lược làm cho nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đặc biệt là đất nông nghiệp, ngày càng gia tăng. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực, việc thu hồi đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua vẫn còn phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết trong quan hệ lợi ích kinh tế của các chủ thể. Vì vậy, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay góp phần giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích của các chủ thể.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
Một là, trình độ phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tỉnh Bắc Ninh
Đây là một nhân tố quan trọng, tác động mạnh mẽ đến sự hình thành, vận động quan hệ lợi ích kinh tế nói chung và đến quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất nông nghiệp. Bắc Ninh hiện nay là một trong những cực tăng trưởng năng động của vùng Đồng bằng sông Hồng với tốc độ phát triển kinh tế tương đối nhanh. Năm 2025, GRDP của tỉnh tăng 10,27% (đứng thứ 5 cả nước); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,51%, đóng góp 8,52 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung, khẳng định vị thế cực tăng trưởng năng động với công nghiệp công nghệ cao (điện tử, bán dẫn) phát triển mạnh mẽ2. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Sau khi hợp nhất Bắc Ninh và Bắc Giang, không gian phát triển của Tỉnh mới được mở rộng đáng kể. Nhiều dự án lớn mang tính động lực như: sân bay Gia Bình, trung tâm logistics quốc tế Bắc Giang, các khu công nghiệp công nghệ cao, các khu đô thị mới và hệ thống giao thông liên vùng (đường Vành đai 4, Vành đai 5) được triển khai mạnh mẽ. Đây là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất công nghiệp, đô thị và hạ tầng kinh tế – xã hội, đặt ra yêu cầu giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh.
Ngoài ra, sự phát triển của công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tỉnh Bắc Ninh làm gia tăng giá trị đất đai sau chuyển đổi và tạo sự chênh lệch lợi ích giữa các chủ thể. Đối với doanh nghiệp, đất đai sau khi chuyển đổi trở thành nguồn lực quan trọng để tạo ra lợi nhuận và tích lũy vốn, nhất là đối với những doanh nghiệp kinh doanh đất đô thị hoặc dịch vụ. Đối với tỉnh Bắc Ninh, việc thu hồi đất tạo điều kiện phát triển kết cấu hạ tầng, tăng thu ngân sách và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đến nay tỉnh Bắc Ninh 21 khu công nghiệp tập trung được phê duyệt và đi vào hoạt động với tổng diện tích khoảng hơn 8.200 ha3, ngoài ra còn hàng nghìn hecta đất phục vụ cho các cụm công nghiệp trên địa bàn. Trong khi đó, đối với người nông dân, lợi ích chủ yếu lại tập trung vào khoản bồi thường một lần. Sự khác biệt về khả năng hưởng lợi từ giá trị gia tăng của đất đai làm xuất hiện khoảng cách lợi ích giữa các chủ thể. Khoảng cách này càng lớn khi tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra nhanh, khiến mâu thuẫn lợi ích giữa người dân, doanh nghiệp và Nhà nước có xu hướng gia tăng.
Hai là, hệ thống chính sách, pháp luật về đất đai của Nhà nước và chính quyền địa phương
Chính sách và pháp luật đất đai của Nhà nước là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp nhất đến quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất nông nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Nhà nước giữ vai trò định hướng và điều tiết các quan hệ lợi ích thông qua hệ thống pháp luật. Luật Đất đai (sửa đổi, bổ sung năm 2024)4 được thông qua với nhiều nội dung mới, mang tính đột phá quan trọng, góp phần vào mục tiêu hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất. Các quy định mới về giá đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đào tạo nghề và giải quyết việc làm chính là những công cụ quan trọng nhằm điều hòa lợi ích giữa các chủ thể trong thu hồi đất, đặc biệt là đất nông nghiệp của người dân. Hoạt động quản lý của chính quyền tỉnh Bắc Ninh cũng có ảnh hưởng lớn đến quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trong thu hồi đất nông nghiệp. Trước hết, Tỉnh thực hiện quản lý và giám sát thực thi pháp luật đất đai của các địa phương thông qua kiểm tra việc thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các công trình, dự án, đồng thời chỉ đạo nhanh chóng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, tạo sự đồng thuận của người dân có đất bị thu hồi.
Ba là, thị trường quyền sử dụng đất và biến động giá đất ở tỉnh Bắc Ninh
Trong điều kiện kinh tế thị trường, giá đất trở thành hình thức biểu hiện trực tiếp của lợi ích kinh tế gắn với quyền sử dụng đất. Khi quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh, giá đất tại các khu vực dự kiến phát triển công nghiệp, đô thị thường tăng mạnh. Điều này làm cho người dân có xu hướng so sánh giá bồi thường với giá giao dịch trên thị trường hoặc giá đất sau khi dự án hoàn thành. Thực tiễn ở tỉnh Bắc Ninh cho thấy, cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp Yên Phong, Quế Võ, Tiên Sơn, VSIP, Quang Châu và nhiều khu đô thị mới, giá trị đất đai ở nhiều khu vực tăng lên nhiều lần so với trước đây. Trong khi đó, giá bồi thường thường được xác định tại thời điểm thu hồi đất nên chưa phản ánh đầy đủ giá trị gia tăng của đất sau chuyển đổi mục đích sử dụng. Theo bảng giá đất nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh (cũ) tăng từ khoảng 55.000 đồng/ m² năm 20145 lên 70.000 đồng/m² năm 20206 và duy trì đến năm 2025, tăng khoảng 27,3%. Còn ở tỉnh Bắc Giang (cũ) có mức giá thấp hơn, dao động từ 50.000 đồng/m² năm 2014 lên 60.000-70.000 đồng/m² năm 20257. Như vậy, trong khi giá đất nông nghiệp chỉ tăng khoảng 20-40%, thì giá đất ở và đất thương mại tại nhiều khu vực quanh các khu công nghiệp, khu đô thị lớn lại tăng gấp nhiều lần, thậm chí hàng chục lần. Điều này làm gia tăng khoảng cách giữa giá trị đất trước thu hồi và giá trị đất sau chuyển đổi, trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng làm phát sinh mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp. Sự chênh lệch này nếu không được điều tiết hợp lý sẽ làm xuất hiện tâm lý thiệt thòi của người dân có đất bị thu hồi, từ đó làm gia tăng xung đột lợi ích.
Bốn là, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng chuyển đổi sinh kế của người dân
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất nông nghiệp. Khi đất nông nghiệp bị thu hồi, lợi ích của người dân không chỉ phụ thuộc vào khoản tiền bồi thường trước mắt mà còn phụ thuộc vào khả năng tạo lập việc làm, nguồn thu nhập và sinh kế mới sau khi mất tư liệu sản xuất chủ yếu. Bắc Ninh là địa phương có tốc độ công nghiệp hóa nhanh, nhu cầu lao động trong khu vực công nghiệp rất lớn. Năm 2025, toàn Tỉnh tạo việc làm mới cho 50.162 lao động, trong đó có 3.216 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng. Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn tỉnh năm 2025 ước đạt trên 71 triệu/người/năm, tăng 9,6% so với cùng kỳ8. Cùng với sự phát triển công nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực của Tỉnh từng bước được nâng lên. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo của Bắc Ninh đạt khoảng 80%, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35,9%; năng suất lao động tăng khoảng 9%, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị ở mức 2,05%9.
Những điều kiện trên tạo thuận lợi cho một bộ phận người dân bị thu hồi đất chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, qua đó hình thành những lợi ích kinh tế mới thay thế cho lợi ích từ sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, khả năng chuyển đổi sinh kế giữa các nhóm dân cư không đồng đều. Phần lớn lao động nông nghiệp bị thu hồi đất thuộc nhóm trung niên, trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế, trong khi nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp tại Bắc Ninh lại tập trung vào lao động trẻ, có tay nghề và khả năng thích ứng với môi trường sản xuất công nghiệp hiện đại. Do đó, mặc dù Bắc Ninh có nhu cầu tuyển dụng lớn (riêng năm 2025 các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tuyển mới khoảng 25 nghìn lao động) nhưng không phải người dân mất đất nào cũng có khả năng tiếp cận được các cơ hội việc làm này.
Năm là, năng lực quản lý nhà nước và trách nhiệm của các chủ thể tham gia thu hồi đất ở tỉnh Bắc Ninh
Đây là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành, thực hiện và điều hòa quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong thu hồi đất nông nghiệp. Thực tiễn ở Bắc Ninh cho thấy, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quy mô các dự án đầu tư, nhu cầu sử dụng đất và khối lượng công việc liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng ngày càng gia tăng. Tính đến đầu năm 2026, toàn tỉnh thu hút thêm 78 dự án đầu tư mới và điều chỉnh vốn với tổng vốn đăng ký hơn 2,29 tỷ USD10, tạo áp lực lớn đối với công tác quản lý đất đai, giải quyết hài hòa lợi ích giữa các chủ thể và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thu hồi đất. Trong bối cảnh đó, chất lượng xây dựng quy hoạch, tính công khai, minh bạch trong xác định giá đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải quyết khiếu nại có ảnh hưởng trực tiếp đến sự đồng thuận của người dân và hiệu quả thực hiện các dự án. Những hạn chế trong công tác quản lý, sự chậm trễ trong giải quyết kiến nghị hoặc tình trạng thiếu minh bạch trong thực thi chính sách đều có thể làm gia tăng mâu thuẫn lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người có đất bị thu hồi. Đồng thời, Bắc Ninh đã đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Năm 2025, Bắc Ninh đứng đầu cả nước về Chỉ số phục vụ người dân và doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính, phản ánh những chuyển biến tích cực trong hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nói chung và vấn đề đất đai nói riêng.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân phối lợi ích từ đất đai theo hướng công bằng và minh bạch. Tỉnh Bắc Ninh cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách theo Luật Đất đai, xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm giá bồi thường sát với giá trị thực tế tại thời điểm thu hồi. Đồng thời, làm tốt chính sách hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất thông qua các hình thức như hỗ trợ tái định cư, tạo việc làm… Bên cạnh đó, cần công khai, minh bạch toàn bộ quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng phương án bồi thường tạo sự đồng thuận xã hội và bảo đảm ổn định quan hệ lợi ích giữa các chủ thể.
Thứ hai, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý đất đai. Bắc Ninh cần đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống quy hoạch sử dụng đất theo hướng đồng bộ, thống nhất với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch đến năm 2035 – 2050, tầm nhìn 100 năm. Quá trình lập, điều chỉnh và thực hiện quy hoạch phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, có sự tham gia và giám sát của cộng đồng dân cư. Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng công nghệ số, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai hiện đại, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đất đai, bảo đảm việc thu hồi đất được thực hiện đúng quy hoạch, đúng pháp luật, nhất là đối với các dự án lớn.
Thứ ba, tiếp tục đổi mới chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo sinh kế bền vững. Các cơ sở giáo dục trên địa bàn Tỉnh cần đào tạo nghề theo nhu cầu thực tế của thị trường lao động và yêu cầu tuyển dụng của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đồng thời, Bắc Ninh cần đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ vay vốn, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển kinh tế hộ gia đình và kinh tế dịch vụ. Bên cạnh đó, cần ưu tiên bố trí việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất, hình thành cơ chế liên kết giữa chính quyền địa phương, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nhằm nâng cao khả năng chuyển đổi nghề nghiệp, bảo đảm người dân có thu nhập ổn định.
Thứ tư, nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cần thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội đối với người dân có đất bị thu hồi. Không chỉ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, doanh nghiệp cần chủ động tham gia các chương trình đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động địa phương bị thu hồi đất, nhất là những lao động tuổi trung niên, hỗ trợ phát triển hạ tầng, bảo vệ môi trường và thực hiện các hoạt động an sinh xã hội khác. Việc nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp góp phần giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình triển khai dự án, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phát triển bền vững.
4. Kết luận
Những nhân tố về trình độ phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa; hệ thống chính sách, pháp luật về đất đai của Nhà nước và chính quyền địa phương; thị trường quyền sử dụng đất và biến động giá đất; chất lượng nguồn nhân lực và khả năng chuyển đổi sinh kế của người dân; năng lực quản lý nhà nước và trách nhiệm của các chủ thể tham gia thu hồi đất ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh. Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Tỉnh, cần thấy rõ những nhân tố trên để bảo đảm hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh thời gian tới.
Chú thích:
1, 2, 8, 9, Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2026). Báo cáo số 03/BC-CTK ngày 05/01/2026, tình hình kinh tế – xã hội tháng 12 và cả năm 2025.
3. UBND tỉnh Bắc Ninh (2025). Báo cáo số 50/BC-UBND ngày 08/12/2025, tình hình kinh tế – xã hội năm 2025; mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026.
4. Quốc hội (2024). Luật Đất đai năm 2024.
5. UBND tỉnh Bắc Ninh (2013). Quyết định số 570/2013/QĐ-UBND ngày 25/12/2013, quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2014.
6. UBND tỉnh Bắc Ninh (2019). Quyết định số 31/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 ban hành bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh áp dụng từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2024.
7. UBND tỉnh Bắc Giang (2024). Quyết định số 40/2024/QĐ-UBND ngày 27/11/2024 sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Quyết định số 72/2021/QĐ-UBND ngày 21/12/2021 của UBND tỉnh Bắc Giang ban hành quy định bảng giá đất giai đoạn 2022 – 2024 tỉnh Bắc Giang.
10. UBND tỉnh Bắc Ninh (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tháng 01/2026 và nhiệm vụ tháng 02/2026.



