Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở cấp xã: nghiên cứu trường hợp phường Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (2021-2025)

State management for sustainable poverty reduction at the commune level: a case study of Binh Minh ward, Vinh Long province (2021-2025)

Trần Nguyễn Như Ngọc
Học viên cao học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Sau gần một thập kỷ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, phường Bình Minh (tỉnh Vĩnh Long) đã đưa tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 0,2% vào cuối năm 2025 – thấp hơn nhiều so với mức bình quân của tỉnh và cả nước. Tuy vậy, có một nghịch lý: kết quả “gần hết hộ nghèo” chưa đồng nghĩa với việc thoát nghèo bền vững. Bằng phương pháp phân tích động thái nghèo, theo dõi dọc 97 hộ thoát nghèo giai đoạn 2021-2023 đến hết năm 2025, chỉ 57,7% số hộ giữ vững được kết quả, trong khi 42,3% rơi trở lại cận nghèo hoặc tái nghèo. Cơ cấu nghèo còn lại dịch mạnh sang nhóm không có khả năng lao động (76,2%), còn nhóm cận nghèo chủ yếu do thiếu việc làm và thiếu vốn. Trên cơ sở dữ liệu tổng thể cấp phường kết hợp khảo sát tam giác hóa, bài viết đề xuất đổi mới quản lý nhà nước theo 2 tuyến: bảo trợ xã hội cho nhóm phi lao động và củng cố, phòng ngừa cận nghèo hóa cho nhóm còn khả năng lao động, gắn với chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026-2030.

Từ khóa: Giảm nghèo bền vững; tính bền vững của thoát nghèo; cận nghèo hóa và tái nghèo; quản lý nhà nước cấp cơ sở; chuẩn nghèo đa chiều 2026-2030.

Abstract: After nearly a decade of implementing the National Target Program on Sustainable Poverty Reduction, Binh Minh Ward (Vinh Long Province) had reduced its poverty rate to 0.2% by the end of 2025, significantly lower than the provincial and national averages. However, there is a paradox: achieving “nearly eliminating poverty” does not necessarily equate to sustainable poverty alleviation. Using a dynamic poverty analysis method that tracked 97 households that had escaped poverty between 2021 and 2023 through the end of 2025, only 57.7% maintained their status, while 42.3% slipped back into near-poverty or relapsed into poverty. The remaining poverty structure has shifted significantly toward the non-working population (76.2%), while a lack of employment and capital primarily characterizes the near-poor group. Based on comprehensive ward-level data combined with triangulated surveys, this article proposes reforms in public administration along two tracks: social assistance for the non-working population and strengthening measures to prevent the slide into near-poverty among the working-age population, in alignment with the multidimensional poverty standard for the 2026–2030 period.

Keywords: Sustainable poverty reduction; sustainability of poverty escape; near-poverty slippage and relapse; grassroots state management; multidimensional poverty line 2026-2030.

1. Đặt vấn đề

Giảm nghèo bền vững là một chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước, được cụ thể hóa thông qua hệ thống chính sách đồng bộ về tín dụng ưu đãi, an sinh xã hội, đào tạo nghề và tạo việc làm. Sau khi tổ chức lại đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã, phường trở thành cấp trực tiếp và gần dân nhất trong việc tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, nơi mọi chủ trương của Trung ương được chuyển hóa thành kết quả cụ thể đối với từng hộ dân. Vai trò quản lý nhà nước của chính quyền cấp cơ sở vì thế có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và tính bền vững của công cuộc giảm nghèo.

Giảm nghèo bền vững được xác lập thành Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 theo Nghị quyết số 24/2021/QH15 của Quốc hội và Quyết định số 90/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với chuẩn nghèo đa chiều được quy định tại Nghị định số 07/2021/NĐ-CP. Bước sang giai đoạn 2026-2030, chuẩn nghèo đa chiều mới theo Nghị định số 351/2025/NĐ-CP nâng cả tiêu chí thu nhập lẫn bộ chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác giảm nghèo ở cơ sở. Đây là bối cảnh đòi hỏi chính quyền cấp xã, phường phải bảo đảm tính bền vững của những kết quả đã đạt được.

Thực tiễn ở nhiều địa bàn đô thị và ven đô đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, một xu hướng mới: tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống mức rất thấp, tiệm cận “không còn hộ nghèo”. Khi đó, bài toán quản lý nhà nước không còn nằm ở chỗ giảm thêm bao nhiêu hộ nghèo mà chuyển sang những câu hỏi khó hơn về chất lượng: kết quả thoát nghèo có thực sự vững chắc hay không; bao nhiêu hộ vừa ra khỏi danh sách nghèo lại rơi xuống cận nghèo hoặc tái nghèo; và nguồn lực quản lý nên tập trung vào đâu khi số hộ nghèo còn lại rất ít nhưng có đặc điểm khác hẳn trước đây. Đó chính là nội hàm của “tính bền vững”, đây là điều mà phần lớn báo cáo và nghiên cứu hiện nay còn dừng ở việc mô tả tỷ lệ hộ nghèo giảm qua các năm, chưa đo lường được một cách hệ thống.

Phường Bình Minh (tỉnh Vĩnh Long) là một trường hợp điển hình cho nghịch lý đó. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo của phường chỉ còn 0,2%, thấp hơn nhiều so với mức bình quân của tỉnh Vĩnh Long (0,88%) và cả nước (1,30%). Nhưng tỷ lệ hộ cận nghèo còn 1,7%, gấp 8,5 lần tỷ lệ hộ nghèo, trong khi tỷ số này của cả nước chỉ khoảng 1,3 lần. Nói cách khác, gánh nặng giảm nghèo ở Bình Minh đã dịch chuyển gần như trọn vẹn từ nhóm “nghèo” sang nhóm “cận nghèo”. Đây là nhóm chưa được thụ hưởng đầy đủ chính sách nhưng lại rất dễ trượt trở lại.

2. Cách tiếp cận và nguồn dữ liệu

Bài viết sử dụng khung phân tích quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở cấp cơ sở gồm năm nhóm nội dung gắn kết: (1) Thể chế hóa và kế hoạch hóa mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn. (2) Tổ chức bộ máy và bố trí nhân lực thực thi. (3) Tổ chức thực hiện hệ thống chính sách hợp phần (tín dụng chính sách, an sinh xã hội, hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề và giải quyết việc làm). (4) Tuyên truyền, vận động và huy động nguồn lực xã hội. (5) Kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả. So với cách tiếp cận truyền thống, bài viết bổ sung một chiều phân tích còn ít được chú ý: đo lường tính bền vững của kết quả, tức khả năng duy trì trạng thái thoát nghèo và ngăn chặn quá trình cận nghèo hóa, tái nghèo.

Để thao tác hóa khái niệm bền vững, bài viết định nghĩa: một hộ được coi là thoát nghèo bền vững nếu sau khi ra khỏi danh sách hộ nghèo, hộ đó duy trì được ít nhất 2 năm không tái nghèo và không rơi xuống nhóm cận nghèo. Trên cơ sở đó, vận dụng phương pháp phân tích động thái nghèo (phân tích chuyển dịch trạng thái nghèo trên dữ liệu mảng cấp hộ): lựa chọn một nhóm gồm 97 hộ đã thoát nghèo trong ba năm 2021-2023 và theo dõi dọc trạng thái của từng hộ đến hết năm 2025. Cách làm này cho phép nhìn kết quả giảm nghèo không phải như một “lát cắt” tại một thời điểm mà như một quá trình động, qua đó bóc tách phần thoát nghèo thật sự bền vững khỏi phần thoát nghèo trên danh nghĩa.

Nguồn dữ liệu chính của bài viết là dữ liệu tổng thể (không phải mẫu) do chính quyền phường quản lý, gồm: báo cáo tổng kết công tác giảm nghèo giai đoạn 2021-2025 và kế hoạch giảm nghèo năm 2026 của phường; báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng chính sách năm 2025 của Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội; kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo cuối năm 2024. Việc dựa trên dữ liệu tổng thể giúp các nhận định về diễn biến hộ nghèo, cơ cấu nguyên nhân và chất lượng tín dụng có độ tin cậy cao hơn so với khảo sát mẫu nhỏ.

Bên cạnh đó, để bổ sung chiều cảm nhận và đánh giá của người trong cuộc, tác giả thực hiện một khảo sát quy mô nhỏ vào tháng 5/2026 với 45 hộ dân và 18 cán bộ có liên quan. Kết quả khảo sát chỉ được dùng để tam giác hóa: đối chiếu, làm rõ thêm các phát hiện từ dữ liệu tổng thể, chứ không đóng vai trò là trục phân tích chính; đây cũng là hạn chế cần lưu ý khi suy rộng phạm vi khảo sát. Các số liệu so sánh với tỉnh Vĩnh Long, thành phố Cần Thơ và cả nước được lấy từ kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 do cơ quan có thẩm quyền công bố.

3. Thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở phường Bình Minh giai đoạn 2021-2025

3.1. Kết quả giảm nghèo về “diện”: tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo giảm sâu

Giai đoạn 2021-2025, phường Bình Minh đạt kết quả giảm nghèo rất ấn tượng về mặt “diện”. Số hộ nghèo giảm mạnh và gần như liên tục: từ 112 hộ năm 2021 xuống 70 hộ (2022), 41 hộ (2023) và chạm đáy 15 hộ vào năm 2024, trước khi nhích lên 21 hộ vào cuối năm 2025 (tương đương 0,2%, với 55 nhân khẩu). Số hộ cận nghèo cũng giảm sâu, từ 339 hộ (2021) xuống còn 139 hộ (1,7%) vào cuối năm 2025, dù có giai đoạn tăng lên 430 hộ năm 2022 do rà soát lại theo chuẩn nghèo đa chiều (Biểu đồ 1) (Đảng ủy phường Bình Minh, Báo cáo số 260-BC/ĐU ngày 25/5/2026).

Đặt trong tương quan so sánh, kết quả của Bình Minh nổi bật. Năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo 0,2% và hộ cận nghèo 1,7% của phường đều thấp hơn mức của tỉnh Vĩnh Long (0,88% và 1,94%), thành phố Cần Thơ (0,59% và 2,61%) và cả nước (1,30% và 1,65%) (Quyết định số 806/QĐ-BNNMT). So với phường Đông Thành cùng tỉnh – địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số – khoảng cách còn rõ hơn: Đông Thành còn 0,48% hộ nghèo và tới 4,44% hộ cận nghèo (Ủy ban nhân dân phường Đông Thành, 2025).

Cùng với giảm nghèo về thu nhập, các chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản cũng được cải thiện gần như trọn vẹn: 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế, sử dụng nước sạch và tiếp cận dịch vụ viễn thông; trên địa bàn không còn hộ nghèo gặp khó khăn về nhà ở; trong giai đoạn có 54 hộ vươn lên mức sống trung bình. Những con số này phản ánh nỗ lực bao phủ chính sách rất đáng ghi nhận của chính quyền phường.

3.2. Tính bền vững của kết quả nhìn từ động thái nhóm hộ thoát nghèo

Khi chuyển từ câu hỏi “còn bao nhiêu hộ nghèo” sang “kết quả thoát nghèo có vững không”, bức tranh trở nên kém lạc quan hơn. Theo dõi dọc nhóm 97 hộ đã thoát nghèo trong giai đoạn 2021-2023 đến hết năm 2025 cho thấy, chỉ 56 hộ (57,7%) thực sự giữ vững được kết quả; 35 hộ (36,1%) rơi xuống nhóm cận nghèo và 6 hộ (6,2%) tái nghèo (Biểu đồ 2). Nói cách khác, cứ 10 hộ thoát nghèo thì có hơn 4 hộ (42,3%) không duy trì được thành quả bền vững.

Kết quả này lý giải vì sao tỷ lệ hộ nghèo có thể giảm rất thấp nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro. Một chỉ báo đáng chú ý là tỷ số giữa hộ cận nghèo và hộ nghèo: ở Bình Minh là 8,5 lần, trong khi ở tỉnh Vĩnh Long khoảng 2,2 lần và cả nước chỉ khoảng 1,3 lần. Tỷ số cao bất thường cho thấy, gánh nặng giảm nghèo đã dồn về nhóm cận nghèo – nhóm nằm ngay sát ngưỡng và rất nhạy cảm trước các cú sốc về việc làm, sức khỏe hay giá cả. Việc số hộ nghèo nhích từ 15 hộ (2024) lên 21 hộ (2025) cũng cho thấy quá trình giảm nghèo ở giai đoạn “về đích” không còn tuyến tính, mà có thể đảo chiều cục bộ.

3.3. Sự dịch chuyển cơ cấu: nghèo “bảo trợ” và cận nghèo “kinh tế”

Không chỉ thay đổi về lượng, cơ cấu nghèo của phường còn dịch chuyển sâu sắc về chất. Phân tích nguyên nhân của 21 hộ nghèo còn lại cuối năm 2025 cho thấy nhóm này mang đậm tính “bảo trợ”: có tới 16 hộ (76,2%) không có khả năng lao động do già yếu, khuyết tật, ốm đau, bệnh tật và 8 hộ thuộc diện bảo trợ xã hội. Với nhóm này, các biện pháp hỗ trợ sinh kế, vay vốn hay đào tạo nghề gần như không còn tác dụng; điều họ cần là chính sách bảo trợ xã hội ổn định, lâu dài.

Ngược lại, 139 hộ cận nghèo chủ yếu là bài toán “kinh tế – việc làm – vốn”. Chỉ 8 hộ cận nghèo (5,8%) không có khả năng lao động; nguyên nhân phổ biến nhất là đông người phụ thuộc và thiếu việc làm (mỗi loại 80 lượt hộ), tiếp đến là thiếu vốn sản xuất (51 lượt hộ). Đây là nhóm còn khả năng lao động, còn dư địa cải thiện thu nhập nếu được hỗ trợ đúng cách về việc làm, vốn và kỹ năng (Bảng 1). Sự tương phản giữa hai nhóm đặt ra yêu cầu phân loại đối tượng rõ ràng trong quản lý nhà nước – điều mà cách làm “một gói chính sách cho mọi đối tượng” khó đáp ứng.

Bảng 1. Cơ cấu nguyên nhân nghèo, cận nghèo cuối năm 2025 (đơn vị: lượt hộ)

Nhóm nguyên nhânHộ nghèo (21 hộ)Hộ cận nghèo (139 hộ)
Không có khả năng lao động118
Ốm đau, bệnh tật, khuyết tật52
Đông người phụ thuộc1180
Thiếu việc làm680
Thiếu vốn sản xuất551
Thiếu đất sản xuất5
Thiếu kỹ năng, tay nghề22
Nguyên nhân khác5
Ghi chú: câu hỏi nhiều lựa chọn nên tổng số lượt lớn hơn số hộ; “-”: không ghi nhận. Nguồn: Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo cuối năm 2024.

3.4. Tổ chức thực hiện chính sách: tín dụng, an sinh và sinh kế

Tín dụng chính sách xã hội là trụ cột được triển khai mạnh mẽ nhất. Giai đoạn 2021-2025, doanh số cho vay trên địa bàn đạt 1.903 lượt với hơn 96,2 tỷ đồng, trong đó cho vay hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo chiếm tỷ trọng lớn. Đến cuối năm 2025, tổng dư nợ đạt 145.287 triệu đồng, với 3.299 khách hàng còn dư nợ, sinh hoạt tại 67 tổ tiết kiệm và vay vốn, bình quân 44 triệu đồng/khách hàng, trải rộng trên 12 chương trình tín dụng. Chất lượng tín dụng được kiểm soát tốt: nợ quá hạn chỉ 0,19% và nợ khoanh 0,49%, tổng cộng dưới 0,7% dư nợ.

Hệ thống an sinh xã hội được bảo đảm khá toàn diện. Trong giai đoạn này, phường thực hiện trợ giúp xã hội cho 864 lượt đối tượng với kinh phí 4,907,52 triệu đồng/năm; hỗ trợ xây dựng, sửa chữa 98 căn nhà đại đoàn kết trị giá 3,430 tỷ đồng; hỗ trợ tiền điện 146,076 triệu đồng cho 259 lượt hộ; trao 3.612 suất quà trị giá hơn 1,1 tỷ đồng cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ khó khăn.

Về hỗ trợ sinh kế và tạo việc làm, phường triển khai mô hình nuôi dê cho 5 hộ với kinh phí 136,5 triệu đồng và 5 mô hình sinh kế do Mặt trận Tổ quốc hỗ trợ (41 triệu đồng). Công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm đạt kết quả khá: mở 10 lớp đào tạo nghề cho 330 người, trong đó 227 người có việc làm sau đào tạo (68,8%); giới thiệu, tạo việc làm cho 427 lao động. Tuy vậy, quy mô các mô hình sinh kế còn nhỏ so với nhu cầu của 139 hộ cận nghèo, phần lớn trong số họ vẫn có khả năng lao động.

3.5. Bộ máy, tuyên truyền và kiểm tra, giám sát

Bộ máy chỉ đạo, điều hành công tác giảm nghèo được kiện toàn với Ban Chỉ đạo gồm 28 thành viên, song lực lượng chuyên trách rất mỏng: chỉ 1 cán bộ chuyên trách và 1 cán bộ kiêm nhiệm (trình độ đại học) phụ trách lĩnh vực giảm nghèo cho toàn phường; lực lượng rà soát gồm 15 điều tra viên; trong giai đoạn đã tổ chức 124 lượt tập huấn nâng cao năng lực. Công tác tuyên truyền, vận động được đẩy mạnh với 1.008 cuộc tuyên truyền, thu hút 29.850 lượt người tham dự và 128 tin, bài đăng trên các phương tiện thông tin.

Hoạt động kiểm tra, giám sát được duy trì thường xuyên: cấp ủy tổ chức 149 cuộc kiểm tra và Hội đồng nhân dân giám sát 24 cuộc trong giai đoạn này. Đây là những điều kiện quan trọng bảo đảm chính sách giảm nghèo được thực hiện công khai, minh bạch, đúng đối tượng – yếu tố nền tảng để duy trì niềm tin và sự đồng thuận của người dân đối với công tác giảm nghèo.

3.6. Kết quả khảo sát và tam giác hóa

Kết quả khảo sát tháng 5/2026 củng cố thêm bức tranh nêu trên. Về phía người dân, 77,8% số hộ được hỏi hài lòng chung với công tác giảm nghèo trên địa bàn; 82,2% đánh giá tốt hoạt động tuyên truyền và 86,7% cho rằng việc bình xét hộ nghèo được thực hiện công khai. Đây là chỉ dấu tích cực về niềm tin và sự đồng thuận xã hội.

Về phía cán bộ, khi được hỏi về các yếu tố ảnh hưởng lớn hoặc rất lớn đến hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo, nhóm được đánh giá cao nhất là nguồn lực tài chính (88,9%) và năng lực đội ngũ cán bộ (83,3%), tiếp đến là nhận thức của chính người nghèo (77,8%), ứng dụng công nghệ thông tin (72,2%), phối hợp liên ngành (66,7%) và tổ chức bộ máy (61,1%). Nhìn tổng thể, chính đội ngũ thực thi cũng nhận diện nguồn lực và năng lực là hai điểm nghẽn lớn nhất – trùng khớp với thực tế bộ máy chuyên trách rất mỏng đã nêu.

4. Một số đánh giá

Từ thực trạng trên, có thể rút ra 3 phát hiện chính về quản lý nhà nước trong công tác giảm nghèo bền vững ở phường Bình Minh.

Thứ nhất, chính quyền phường đã rất thành công trong việc thu hẹp “diện” nghèo và bao phủ các dịch vụ xã hội cơ bản. Tỷ lệ hộ nghèo 0,2% cùng mức độ bao phủ gần như tuyệt đối về bảo hiểm y tế, nước sạch, nhà ở, viễn thông cho thấy năng lực tổ chức thực hiện chính sách ở mức tốt, đồng thời huy động được cả hệ thống chính trị và nguồn lực xã hội. Đây là nền tảng vững chắc để chuyển sang giai đoạn quản lý theo chiều sâu.

Thứ hai, kết quả giảm nghèo vẫn còn mong manh về chất lượng. Việc 42,3% số hộ thoát nghèo trong nhóm theo dõi không duy trì được thành quả, cùng tỷ số cận nghèo trên hộ nghèo cao bất thường (8,5 lần), cho thấy nguy cơ cận nghèo hóa và tái nghèo là có thật. Nếu chỉ nhìn vào tỷ lệ hộ nghèo, quản lý nhà nước dễ rơi vào tâm lý “đã hoàn thành”, trong khi phần việc khó nhất – giữ cho hộ đã thoát nghèo không trượt lầi – mới đang bắt đầu.

Thứ ba, cơ cấu nghèo đã dịch chuyển căn bản, đòi hỏi thay đổi tư duy quản lý. Nhóm hộ nghèo còn lại chủ yếu là đối tượng không còn khả năng lao động, cần chính sách bảo trợ; trong khi nhóm cận nghèo lại là bài toán về việc làm – vốn – kỹ năng, cần chính sách phát triển kinh tế. Cách quản lý đồng nhất, chạy theo chỉ tiêu “giảm số hộ nghèo” không còn phù hợp, thậm chí có thể tạo áp lực đưa nhóm bảo trợ ra khỏi danh sách nghèo một cách cơ học.

5. Giải pháp đổi mới quản lý nhà nước nhằm bảo đảm tính bền vững của kết quả giảm nghèo

Bối cảnh mới đặt ra yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước về giảm nghèo ở cấp cơ sở theo hướng chuyển trọng tâm từ “giảm số lượng hộ nghèo” sang “bảo đảm tính bền vững của kết quả”. Với chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 theo Nghị định số 351/2025/NĐ-CP, mức chuẩn thu nhập và bộ chỉ số dịch vụ xã hội được nâng cao, nhiều hộ hiện đang ở nhóm cận nghèo có thể trở lại nhóm nghèo nếu không được củng cố kịp thời. Trên cơ sở đặc điểm của 2 nhóm đối tượng đã phân tích, bài viết đề xuất tổ chức quản lý nhà nước theo 2 tuyến song song.

Một là, bảo trợ cho nhóm không còn khả năng lao động. Đối với nhóm hộ nghèo mang tính bảo trợ, cần chuyển hẳn sang quản lý theo trục an sinh xã hội thay vì theo trục giảm nghèo. Cụ thể: rà soát để đưa đầy đủ nhóm này vào diện hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên và các chính sách chăm sóc y tế, nhà ở phù hợp; không đặt chỉ tiêu “thoát nghèo” một cách cơ học đối với họ, bởi đây là nhóm mà Nhà nước cần bảo đảm mức sống tối thiểu lâu dài. Việc tách nhóm bảo trợ khỏi áp lực chỉ tiêu giảm nghèo vừa nhân văn, vừa giúp số liệu phản ánh trung thực hơn bản chất của phần nghèo còn lại.

Hai là, củng cố và phòng ngừa cận nghèo hóa cho nhóm còn có khả năng lao động. Đối với nhóm cận nghèo và hộ mới thoát nghèo, giải pháp then chốt là thiết lập cơ chế theo dõi hộ sau thoát nghèo: lập và cập nhật danh sách “hộ thoát nghèo cần theo dõi” trong 24-36 tháng, gắn với các chỉ báo cảnh báo sớm như mất việc làm, ốm đau, biến động thu nhập để can thiệp kịp thời trước khi hộ trượt trở lại nghèo. Đây chính là khâu quản lý nhà nước còn thiếu hiện nay – khi hệ thống mới chủ yếu ghi nhận trạng thái tại thời điểm rà soát mà chưa theo dõi liên tục quá trình.

Cùng với đó, cần nâng chất các chính sách hợp phần theo hướng gắn kết: tín dụng chính sách đi liền với hỗ trợ sinh kế và tư vấn sử dụng vốn; mở rộng quy mô những mô hình sinh kế đã chứng minh hiệu quả; đào tạo nghề bám sát nhu cầu thực của doanh nghiệp và thị trường lao động địa phương thay vì chạy theo số lượng; ưu tiên giải quyết việc làm cho lao động thuộc hộ đông người phụ thuộc – nhóm nguyên nhân cận nghèo phổ biến nhất trên địa bàn.

Tăng cường tập huấn kỹ năng quản lý trường hợp; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa trong quản lý hộ nghèo, hộ cận nghèo để theo dõi kịp thời và cảnh báo sớm; tăng cường phối hợp liên ngành và huy động nguồn lực xã hội. Việc đầu tư cho “hạ tầng quản lý” này tuy không trực tiếp tạo ra con số giảm nghèo tức thời nhưng là điều kiện để duy trì kết quả dài hạn.

Các giải pháp cần được lồng ghép vào mục tiêu Nghị quyết của Đảng ủy phường về giảm nghèo bền vững đến năm 2030 – với các chỉ tiêu cụ thể như nâng thu nhập bình quân, giảm tỷ lệ hộ cận nghèo bình quân mỗi năm và duy trì tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế ở mức cao – đồng thời chủ động chuẩn bị chuyển đổi theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026-2030. Sự chủ động này giúp phường không bị động khi chuẩn mới được nâng lên, đồng thời giữ được thành quả đã đạt được trong suốt giai đoạn 2021-2025.

6. Kết luận

Trường hợp phường Bình Minh cho thấy, một quy luật về giảm nghèo ở giai đoạn “về đích”. Khi tỷ lệ hộ nghèo tiệm cận không, thước đo thành công của quản lý nhà nước không còn là số hộ nghèo giảm được, mà là mức độ bền vững của kết quả và khả năng ngăn chặn cận nghèo hóa và tái nghèo. Dữ liệu động thái nghèo cho thấy rằng gần một nửa số hộ thoát nghèo chưa thật sự vững, trong khi cơ cấu nghèo còn lại đã phân hóa thành hai nhóm với nhu cầu chính sách khác nhau. Đổi mới quản lý nhà nước theo hai tuyến – bảo trợ cho nhóm phi lao động và củng cố, phòng ngừa cho nhóm còn khả năng lao động – cùng với đầu tư cho năng lực bộ máy và dữ liệu quản lý, là hướng đi để chuyển từ “giảm nghèo” sang “giảm nghèo bền vững” một cách thực chất. Đây cũng là gợi ý chính sách có giá trị tham khảo cho nhiều địa bàn đô thị, ven đô ở đồng bằng sông Cửu Long đang bước vào giai đoạn tương tự.

Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2021). Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025.
2. Chính phủ (2025). Nghị định số 351/2025/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030.
3. Đảng ủy phường Bình Minh (2026). Nghị quyết số 06-NQ/ĐU ngày 08/5/2026 về lãnh đạo công tác giảm nghèo bền vững đến năm 2030.
4. Quốc hội (2021). Nghị quyết số 24/2021/QH15 ngày 28/7/2021 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025.
5. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025.
6. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1687/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Vĩnh Long.