Giải pháp phát triển logistics thương mại điện tử thông minh tại Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn 2050

Smart e-commerce logistics development in Vietnam: policy strategies toward 2035, with a vision to 2050

ThS. Dương Thị Phương Chi
Trường Đại học Thành Đô
Email: chiduongtkhh@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Năm 2025 kết thúc kế hoạch 5 năm 2021 – 2025 với nhiều dấu mốc đặc biệt quan trọng trong lộ trình phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, ngành logistics vốn được ví như “mạch máu” của nền kinh tế đã thể hiện vai trò là một ngành dịch vụ hỗ trợ và là động lực then chốt, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên bản đồ thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, ngành logistics đang phải đối mặt với những thách thức hệ thống từ sự phân hóa của quan hệ quốc tế, xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng và những tác động khốc liệt của biến đổi khí hậu. Do đó, phát triển logistics thương mại điện tử thông minh là hướng đi mới giúp doanh nghiệp logistics hoàn thành vai trò ngành dịch vụ hỗ trợ trong bối cảnh mới.

Từ khóa: Chiến lược phát triển; công nghệ; Logistics thương mại điện tử; thông minh, Việt Nam.

Abstract: The year 2025 marks the conclusion of the 2021–2025 Five-Year Plan, which includes many particularly significant milestones in Vietnam’s socioeconomic development trajectory; the logistics sector often likened to the “lifeblood” of the economy has demonstrated its role as a supporting service industry and a key driver, promoting structural transformation and enhancing the nation’s competitiveness on the global trade map. However, the logistics sector is facing systemic challenges stemming from the polarization of international relations, trends toward supply chain restructuring, and the severe impacts of climate change. Therefore, developing smart e-commerce logistics represents a new direction that will help logistics companies fulfill their role as a support service sector in this new context.

Keywords: Development strategy; technology; E-commerce logistics; smart; Vietnam

1. Đặt vấn đề

Tại Việt Nam, năm 2024 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Bộ Chính trị. 2024). Năm 2025, Chính phủ ban hành và triển khai Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 – 2035, tầm nhìn đến 2050 với định hướng tạo hành lang pháp lý thông thoáng và định hướng đầu tư trọng điểm để đưa Việt Nam trở thành trung tâm logistics của khu vực. Mục tiêu của Chiến lược là đạt mức tăng trưởng logistics bình quân 12-15%/năm, giảm chi phí logistics xuống 12 – 15% GDP, ít nhất 80% doanh nghiệp logistics ứng dụng chuyển đổi số và xây dựng ít nhất 5 trung tâm logistics quốc tế (VALOMA. 2024). Để thực thi Nghị quyết số 57 và Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2050; trong giai đoạn tới ngành vận tải Việt Nam được định hướng phát triển theo hướng hiện đại, xanh và số hóa, với trọng tâm là tăng tỷ lệ container hóa trong vận tải nội địa và xuất nhập khẩu, mở rộng mạng lưới vận tải đa phương thức kết nối các vùng kinh tế trọng điểm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ quản lý vận tải thông minh như ITS và TMS; đồng thời, thúc đẩy mô hình hợp tác công tư (PPP) trong đầu tư hạ tầng và trung tâm logistics; những chuyển dịch này góp phần giảm chi phí logistics, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng và tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Các xu hướng phát triển kho bãi, trung tâm logistics tại Việt Nam cũng có bước chuyển mạnh mẽ từ mô hình truyền thống sang các cơ sở tích hợp công nghệ cao và chuyên dụng với bốn xu hướng nổi bật: (1) Thương mại điện tử là động lực chính, yêu cầu giao hàng siêu tốc. (2) Phân khúc kho lạnh tăng trưởng mạnh nhờ yêu cầu xuất khẩu nông sản, thủy sản và ngành dược phẩm. (3) Việc ứng dụng công nghệ là giải pháp giảm chi phí và tăng tốc độ xử lý hàng hóa. (4) Bền vững là tiêu chí bắt buộc, với xu hướng xây dựng các kho đạt chứng nhận quốc tế như LEED hoặc LOTUS (Bộ Công Thương, 2025). Việt Nam đã có những bước khởi đầu đáng ghi nhận với sự tham gia của một số doanh nghiệp tiên phong, quá trình thông minh hóa lĩnh vực logistics vẫn đang ở giai đoạn sơ khai và chưa đồng đều giữa các doanh nghiệp, các địa phương. Để tận dụng hết tiềm năng của logistics thông minh, Việt Nam cần có các chính sách hỗ trợ và giải pháp tổng thể như đầu tư hạ tầng số, thúc đẩy hợp tác công – tư và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi số toàn diện ngành logistics trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

2. Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1. Tổng quan tài liệu Trong môi trường cạnh tranh cao độ hiện nay, nhiều công ty đang tham gia vào thị trường toàn cầu để giành thị phần và tận dụng hiệu quả sản xuất và tìm nguồn cung ứng cao hơn. Thương mại điện tử đã mang đến những thách thức cũng như cơ hội mới cho hoạt động quản lý logistics, chi phí logistics có tác động lớn đến lợi nhuận của công ty. Thị trường toàn cầu, hoạt động thuê ngoài và vận hành đặt ra áp lực rất lớn lên chức năng logistics trong việc giao hàng nhanh nhất có thể với chi phí thấp nhất (Gunasekaran, A. and Ngai, E.W.T., 2004a). Do đó, một yếu tố then chốt quyết định hiệu suất kinh doanh là vai trò của chức năng logistics trong việc đảm bảo dòng chảy thông suốt của nguyên vật liệu, sản phẩm và thông tin trong toàn bộ chuỗi cung ứng của công ty (Schary, P. B. and Coakley, J., 1991). Gần đây, logistics đã trở nên nổi bật hơn và được công nhận là một yếu tố quan trọng trong lợi thế cạnh tranh do bản chất của môi trường hoạt động phân tán về mặt vật lý và thị trường toàn cầu.

Logistics thương mại điện tử là một chuỗi giá trị logistics được hỗ trợ bởi Internet, được thiết kế để cung cấp các dịch vụ logistics cạnh tranh, bao gồm kho bãi công cộng, kho bãi theo hợp đồng, quản lý vận tải, quản lý phân phối, gom hàng. Logistics trong thương mại điện tử là quá trình lập kế hoạch, thiết kế và thực hiện tất cả các yếu tố cần thiết của hệ thống, quy trình, tổ chức và hậu cần để hiện thực hóa và hiện thực hóa các hoạt động thương mại điện tử (Gunasekaran, A. and Ngai, E.W.T. 2003); (Hesse, M., 2002). Logistics thương mại điện tử có thể hiểu là sự kết hợp của hệ thống logistics với hệ thống thương mại điện tử để hỗ trợ việc di chuyển hàng hóa từ nơi cung ứng đến nơi tiêu dùng một cách có hiệu quả nhất. Logistics thương mại điện tử được hiểu và sử dụng như là logistics điện tử, một loại hình logistics công nghệ chuyển đổi số để phục vụ ngành thương mại điện tử (Nguyễn Xuân Quyết và Trần Thị Ngọc Lan. 2019).

Dịch hậu cần điện tử có thể hiểu là sự kết hợp của hệ thống logistics với hệ thống thương mại điện tử, để tổ chức và hỗ trợ việc vận chuyển hàng hóa từ nơi cung ứng đến nơi tiêu dùng một cách có hiệu quả nhất. Mô hình hoạt động logistics thương mại điện tử gồm những nhân tố liên quan chính: phân phối, sản xuất, bán lẻ, chuyển phát nhanh, kho vận, bán hàng, dịch vụ khách hàng, ngân hàng, nhà cung cấp và những yếu tố liên quan đến công nghệ thông tin, như: hệ thống cung cấp dữ liệu nội bộ, báo cáo hiệu suất hoạt động, thông báo tương tác và sự truy xuất, theo dõi đơn hàng (Nguyễn Hoàng Tuấn. 2023). Trong những năm qua, logistics đã phát triển từ logistics đơn lẻ (tự quản lý) sang logistics bên thứ ba (3PL) sử dụng mạng lưới logistics. 3PL là logistics theo hợp đồng, tập trung vào các hoạt động khu vực. Mục tiêu chính của việc thuê ngoài dịch vụ logistics là: (a) giảm chi phí vận hành, (b) đáp ứng biến động nhu cầu, và (c) giảm đầu tư vốn (Gunasekaran, A. and Ngai, E.W.T., 2004b). Các vấn đề chung phát sinh trong logistics doanh nghiệp bao gồm thông tin bị trì hoãn và không chính xác, dịch vụ không đầy đủ, hoạt động chậm chạp và kém hiệu quả, và tỷ lệ hư hỏng sản phẩm cao. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc trao đổi thông tin chính xác giữa các bên khác nhau trong chuỗi giá trị logistics. Vai trò của công nghệ thông tin, bao gồm Internet, World Wide Web (WWW) và trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), trong việc cung cấp nền tảng thông tin chung để cải thiện hiệu suất logistics ngày càng quan trọng (Ngai, E. W. T. and Wat, F. K. T., 2002).

Yếu tố then chốt trong việc thiết lập hệ thống logistics thương mại điện tử là phát triển một mạng lưới cộng đồng logistics với các công nghệ Internet phù hợp. Leung và cộng sự (2000) đã trình bày một khuôn khổ cho mạng lưới này, mở rộng thương mại điện tử doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) truyền thống sang thương mại điện tử ở cấp độ ngành. Khuôn khổ này cung cấp một thị trường ảo cho các đại lý của ngành vận tải hàng không, cho phép họ phát triển và tham gia tích hợp các hoạt động logistics của mình (Leung, L. C., Cheung, W. M. and Van Hui, Y., 2000).

Logistics thương mại điện tử là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của quản lý chuỗi cung ứng hiện đại, với vai trò được xác định là tăng hiệu quả hoạt động, giúp giảm thiểu chi phí, đồng thời cải thiện sự hài lòng của khách hàng. Theo dõi và hiển thị hàng hóa theo thời gian thực trên toàn bộ chuỗi cung ứng là một trong những lợi ích đáng kể của logistics thương mại điện tử. Bằng cách sử dụng công nghệ này, các công ty có thể truy cập thông tin cập nhật về các lô hàng của họ từ khâu sản xuất đến giao hàng. Nhờ có dữ liệu chính xác, quy trình ra quyết định của doanh nghiệp được cải thiện, từ đó nâng cao quy trình chuỗi cung ứng. Wang and Pettit đánh giá logistics thương mại điện tử qua tiêu chí giảm chi phí và tối ưu hóa năng suất bằng cách tự động hóa nhiều tác vụ quản trị thủ công liên quan đến hoạt động logistics. Cụ thể: hệ thống kho tự động có thể nâng cao việc quản lý hàng tồn kho và giảm sự phụ thuộc vào lao động thủ công. Ngoài ra, phân tích dự đoán là một công cụ hữu ích có thể giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa tuyến đường vận chuyển và giảm chi phí vận chuyển (VLA. 2024).

Logistics thông minh được hình thành như một hệ thống tích hợp và hợp tác cao thông qua sự phát triển công nghệ phối hợp. So với các mô hình truyền thống, logistics thông minh nâng cao mức độ tự động hóa và ra quyết định nhờ các hệ thống hiện đại. Ngoài ra, ứng dụng các công nghệ hiện đại như IoT, Big Data và AI trong hệ thống logistics thông minh đã tạo ra những chuyển biến rõ rệt so với các phương pháp tiếp cận truyền thống. Các công nghệ này không chỉ đơn thuần cải thiện hiệu quả hoạt động mà còn giúp tái cấu trúc toàn diện cách thức quản lý, điều hành và phối hợp trong chuỗi cung ứng (Wang, Y. and Pettit, S. 2021).

Các nghiên cứu đều có quan điểm chung về lợi ích của logistics thương mại điện tử trong môi trường kinh doanh hiện đại, như: khả năng tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường, giảm chi phí, nâng cao dịch vụ khách hàng và đóng góp vào hoạt động bền vững. Điều này là nhờ khả năng theo dõi theo thời gian thực, các tính năng cắt giảm chi phí, đặc tính tăng cường hiệu quả, khả năng tiếp cận toàn cầu và tập trung vào trách nhiệm môi trường. Các công ty có thể triển khai hệ thống này để cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng đồng thời cắt giảm chi phí tự vận hành – mở đường cho một tương lai thân thiện hơn với môi trường.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Về thu thập dữ liệu: Nghiên cứu dữ liệu thứ cấp về phát triển logistics thương mại điện tử thông minh thu thập từ các nguồn chính thống, tin cậy và mang tính thời sự như Báo cáo logistics Việt Nam 2025 (Bộ Công thương); báo cáo đánh giá năng lực doanh nghiệp và xu hướng công nghệ kho bãi, vận tải của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) và các Nghị định, Nghị quyết, Chiến lược phát trienren logistics Việt Nam.

Về xử lý dữ liệu: Sau khi tổng hợp được bộ dữ liệu từ các nguồn trên, tác giả áp dụng các phương pháp thống kê mô tả như sử dụng biểu đồ, bảng biểu để tổng hợp và so sánh sự biến động của chi phí logistics, tốc độ giao hàng, hoặc tỷ lệ ứng dụng công nghệ số giữa các năm.

3. Thực trạng thị trường logistics Việt Nam

Năm 2025, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam tiếp tục tăng, Việt Nam hiện có khoảng 34.000 – 35.000 doanh nghiệp tham gia hoạt động logistics và các dịch vụ liên quan, bao gồm vận tải, kho bãi, giao nhận và dịch vụ hỗ trợ chuỗi cung ứng, trong đó số doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 95%. Số doanh nghiệp vận tải kho bãi chiếm 5,73% tổng số doanh nghiệp cả nước (Thủ tướng Chính phủ. 2025).

Bảng 1: Doanh nghiệp lĩnh vực vận tải, kho bãi đăng ký thành lập mới, tổng số vốn,
nguồn lao động trong 10 tháng năm 2025

Doanh nghiệp thành lập mới10 tháng năm 202510 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm 2024
Số doanh nghiệp (nghìn)Vốn đăng ký (tỷ đồng)Số laođộng (người)Số doanh nghiệp (%)Vốn đăng ký (%)Số lao động (%)
Tổng số doanh nghiệp cả nước162,9351,592,708967,557119,7121,4118,6
Doanh nghiệp vận tải kho bãi9,34391,46645,208127,7215,7138,0
Tỷ trọng của doanh nghiệp vận tải kho bãi / Tổng số doanh nghiệp cả nước %  5,73%5,74%4,67% 
Nguồn: Cục Thống kê, 10/2025

Năm 2025, dịch vụ kho bãi tại Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất, thương mại điện tử và xuất nhập khẩu hàng hóa. Theo tổng hợp từ Bộ Công Thương và Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), đến năm 2025, cả nước có khoảng 1.200 – 1.300 kho bãi logistics hiện đại, với tổng diện tích đạt khoảng 5,8 – 6,0 triệu mét vuông, tăng khoảng 15% so với năm 2024. Tỷ lệ lấp đầy trung bình đạt 85 – 90%, phản ánh nhu cầu lưu trữ hàng hoá cao. Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng dịch vụ thuê kho ngoài tiếp tục tăng, ước đạt khoảng 65 – 70% tổng nhu cầu lưu kho, cụ thể: kho hàng thông thường vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất, khoảng 60%. Tuy nhiên, nhu cầu đối với kho chuyên dụng tăng nhanh: kho lạnh chiếm khoảng 15%, kho ngoại quan khoảng 10%, và kho phục vụ thương mại điện tử khoảng 15% tổng diện tích khai thác (Bộ Công Thương, 2022 – 2024).

4. Thực trạng “thông minh hóa” logistics thương mại điện tử tại Việt

Xu hướng đầu tư kho bãi năm 2025 tập trung vào công nghệ thông minh và tự động hóa. Các doanh nghiệp logistics lớn, như: SLP Việt Nam, BW Industrial, Mapletree Logistics, Transimex và Tân Cảng Logistics đã mở rộng hệ thống kho áp dụng quản lý kho tự động (WMS), robot vận chuyển (AGV), và cảm biến IoT để giám sát hàng hóa theo thời gian thực. Theo đánh giá của Savills Việt Nam và VLA, các kho thông minh giúp giảm chi phí vận hành trung bình khoảng 15-20% và tăng hiệu suất xử lý đơn hàng lên 25-30% (Sum, C. C. and Teo, C. B. and Ng., K. K., 2001).

Tại Việt Nam, logistics thông minh vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi số. Bảng 2 tóm tắt những công nghệ thông minh mà một số doanh nghiệp logistics đã và đang triển khai với mục đích năng cao hiệu quả vận hành.

Bảng 2. Tổng hợp công nghệ logistics thông minh đã và đang dự kiến được triển khai tại Việt Nam

Nhóm công nghệỨng dụng chính
AIE-port tích hợp trợ lý ảo AI hỗ trợ khách hàng, Dự báo tuyến đường, tối ưu lịch trình, chatbot, routing động, phân tích dữ liệu, dự đoán nhu cầu, quản lý rủi ro
BlockchainTheo dõi hàng hóa, hợp đồng, thanh toán, chứng từ
IoTTheo dõi realtime. Thực hiện tác nghiệp kết hợp với thanh toán online
CloudNền tảng mạng lưới, tự động hóa
Digital TwinMô phỏng kho bãi, mạng lưới, cảng biển, container, hệ thống
Nguồn: Bộ Công Thương

Năng lực cung cấp dịch vụ của các doanh nghiệp logistics Việt Nam tiếp tục được cải thiện, đặc biệt nhờ quá trình chuyển đổi số và mở rộng mô hình cung ứng tích hợp. Theo tổng hợp từ các khảo sát doanh nghiệp của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) và báo cáo ngành của Bộ Công Thương, khoảng 25 – 30% doanh nghiệp logistics trong nước hiện có khả năng cung cấp dịch vụ ở cấp độ 3PL, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp phát triển đến cấp độ 4PL vẫn còn khiêm tốn, ước khoảng 3 – 5%. Điều này cho thấy năng lực điều phối chuỗi cung ứng đang từng bước được nâng cao, song logistics tích hợp quy mô lớn vẫn chủ yếu do nhóm doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI đảm nhiệm (Sum, C. C. and Teo, C. B. and Ng., K. K., 2001).

Theo báo cáo từ VLR, tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng AI trong phân tích dữ liệu vận tải và tối ưu tuyến đường đã tăng 38% so với năm 2024, giúp giảm thời gian giao hàng trung bình tới 12% và tiết kiệm chi phí vận hành lên đến 15%. Các hệ thống tự động hóa kho như AMR và AS/RS quay trở lại mạnh mẽ sau giai đoạn chững lại năm 2024, với tỷ suất hoàn vốn (ROI) đạt từ 18 – 22% trong các dự án triển khai quy mô vừa (Sum, C. C. and Teo, C. B. and Ng., K. K., 2001). Việc tích hợp IoT vào quản lý container, giám sát nhiệt độ và định vị GPS đã giúp nâng cao độ tin cậy và minh bạch trong chuỗi cung ứng, đặc biệt trong các ngành hàng nhạy cảm như thực phẩm, dược phẩm và điện tử. Chuyển đổi số không chỉ là nâng cấp công nghệ, mà còn là quá trình tái định hình tư duy vận hành, hướng đến một hệ sinh thái logistics thông minh, nơi dữ liệu, tốc độ và khả năng dự báo trở thành lợi thế cạnh tranh chiến lược.

Năng lực công nghệ của doanh nghiệp logistics cũng được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng hệ thống quản lý vận tải (TMS) và quản lý kho (WMS) đạt khoảng 55 – 60%, trong khi khoảng 30 – 35% doanh nghiệp đã triển khai phần mềm quản lý đơn hàng (OMS) và nền tảng kết nối khách hàng trực tuyến (Sum, C. C. and Teo, C. B. and Ng., K. K., 2001). Việc áp dụng các giải pháp số giúp rút ngắn thời gian xử lý đơn hàng trung bình từ 1 – 2 ngày xuống còn vài giờ, đồng thời, nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện và lao động.

Trong lĩnh vực nhân lực, tỷ lệ lao động có trình độ đại học trở lên trong ngành logistics ước khoảng 40 – 45%, tăng nhẹ so với năm 2024. Tuy nhiên, nguồn nhân lực có kỹ năng số, am hiểu logistics hiện đại và quản trị chuỗi cung ứng tích hợp vẫn còn thiếu, gây khó khăn cho việc triển khai các dự án logistics quy mô lớn và dịch vụ 4PL (Alshawi, S. 2001).

5. Thảo luận kết quả nghiên cứu và hàm ý quản trị

5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

Từ các báo cáo về thị trường logistics Việt Nam trong những năm qua, có thể thấy số lượng các doanh nghiệp dịch vụ logistics ngày càng tăng nhanh cả về số lượng, năng lực kinh doanh và chất lượng dịch vụ cũng dần được cải thiện. Thị trường dịch vụ logistics Việt Nam cũng ngày càng được mở rộng, tận dụng được lợi ích từ các hiệp định thương mại tự do đem lại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trình độ lao động trong các doanh nghiệp logistics được cải thiện, số lao động được đào tạo trình độ đại học chiếm tỷ lệ khá cao, nhiều giải pháp công nghệ và ứng dụng được sử dụng trong các hoạt động logistics.

Tuy đã đạt được nhiều thành tựu nhưng thị trường logistics Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế, như:

(1) Hạ tầng logistics còn chưa đồng bộ, chênh lệch phát triển giữa các vùng và thiếu tính kết nối (đặc biệt là hạ tầng thương mại, hạ tầng giao thông và hạ tầng công nghệ thông tin), hạn chế sự phát triển và dẫn đến chi phí logistics còn cao, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp logistics.

(2) Doanh nghiệp dịch vụ logistics nội địa chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hạn chế cả về vốn, công nghệ, nhân lực trình độ cao cũng như kinh nghiệm hoạt động quốc tế.

(3) Nguồn nhân lực còn thiếu, yếu về kỹ năng, chưa được đào tạo chuyên nghiệp về hoạt động logistics.

Bảng 3: Các loại hình chương trình đào tạo bậc đại học về LSCM tại Việt Nam (2024)

Loại hình chương trình đào tạoTỷ lệGhi chú
Chương trình chuẩn62% 
Chương trình chất lượng cao  21%Chương trình tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế, giảng dạy bằng tiếng Anh, có thể có tích hợp chứng chỉ quốc tế
Chương trình liên kết quốc tế   17%Liên kết 2+2, 3+1 với trường nước ngoài, cấp bằng nước ngoài hoặc song bằng (1 bằng trong nước, 1 bằng nước ngoài)
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo Đào tạo Logistics và quản lý chuỗi cung ứng Việt Nam năm 2024

Sự thiếu hụt nhân lực logistics không chỉ là vấn đề số lượng mà còn là thách thức về chất lượng đào tạo và khả năng hội nhập quốc tế. Mặc dù thời gian gần đây hoạt động đào tạo chính quy được đẩy mạnh nhưng vẫn cần thời gian để lượng nhân lực này có thể phục vụ cho ngành.

Bảng 4: Dự báo nhu cầu nhân lực logistics Việt Nam đến năm 2030

Kịch bản    Tăng trưởng ngành logistics (%)Tăng trưởng nhân lực bình quân (%)  Thiếu hụt nhân lực đến năm 2027 (người)  Thiếu hụt nhân lực đến năm 2030 (người)
Thấp178,5894.0391.028.257
Trung bình2211899.3321.046.261
Cao2512,5902.6301.057.930
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo Đào tạo Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng Việt Nam năm 2024

4.2. Hàm ý quản trị

Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ 4.0 hiện đang trở thành xu hướng tất yếu, được ứng dụng vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức cho ngành logistics. Thị trường logistics Việt Nam có quy mô lớn, số lượng doanh nghiệp đông nhưng cũng rất phân tán với 95% số lượng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các khó khăn và rào cản tác động đến quá trình chuyển đổi số của ngành logistics tại Việt Nam khá đa dạng, tuy nhiên, khó khăn lớn nhất được xác định là nguồn vốn và nhân sự có năng lực triển khai các dự án chuyển đổi số. Để phát triển logistics thương mại điện tử theo hướng thông minh hóa trong thời gian tới, Việt Nam cần thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất: Giải pháp từ cơ quan quản lý nhà nước

Để giải quyết bài toán cơ sở hạ tầng cho logistics, cần có sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc phát triển kết nối đa phương thức. Nhà nước cần ưu tiên phát triển mạnh các tuyến đường sắt kết nối cảng biển, các trung tâm logistics nội địa (ICD), giảm áp lực cho đường bộ. Quy hoạch và xây dựng các Trung tâm Logistics Vùng (Logistics Hub) thông minh như ứng dụng công nghệ tự động hóa (AGV, Robot) và Internet of Things (IoT) tại các cửa ngõ kinh tế trọng điểm

Môi trường kinh doanh hiện nay chủ yếu tạo điều kiện cho sự mở rộng quy mô thị trường (số lượng dịch vụ, sự gia nhập ngành) nhưng lại không đủ sức thúc đẩy các yếu tố chất lượng và hiệu suất cốt lõi. Điều này cảnh báo về nguy cơ một thị trường logistics “phát triển rộng nhưng không sâu”, nơi sự cạnh tranh có thể chủ yếu dựa trên giá cả thay vì giá trị gia tăng và sự khác biệt hóa về chất lượng. Do đó, cần có biện pháp thúc đẩy năng lực động và đổi mới sáng tạo cho các doanh nghiệp logistics như thúc đẩy liên kết và sáp nhập (M&A) để hình thành Tập đoàn Logistics “Kỳ lân” Việt Nam bằng cơ chế ưu đãi về thuế và tín dụng. Thiết lập “Quỹ Đổi mới Sáng tạo Logistics” (Logistics Innovation Fund) như cung cấp vốn mạo hiểm, hỗ trợ R&D cho các doanh nghiệp, cá nhân có ý tưởng đột phá về mô hình kinh doanh và công nghệ để hình thành các tập đoàn, doanh nghiệp quy mô lớn về logistics.

Xây dựng nền tảng Dữ liệu Logistics Quốc gia (National Logistics Data Hub): Tập trung hóa và mở cửa các dữ liệu then chốt (lưu lượng container, tỷ lệ sử dụng phương tiện, giá cước) để doanh nghiệp tiếp cận và phân tích.

Trong giai đoạn hiện nay, bài toán mở rộng thị trường và phát triển các dịch vụ mới phụ thuộc sâu sắc vào chất lượng con người. Sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao có thể là “nút thắt cổ chai” vô hình ngăn cản các doanh nghiệp khai thác hết tiềm năng thị trường. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Hiệp hội Phát triển nhân lực logistics Việt Nam (VALOMA) và Hiệp Hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) xây dựng và công nhận Khung năng lực nghề nghiệp quốc gia cho ngành logistics. Bộ Tài chính chủ trì xem xét ưu đãi đặc biệt cho các dự án đầu tư vào đào tạo nhân lực logistics chất lượng cao.

Nhà nước hỗ trợ liên kết chuỗi cung ứng qua các mô hình liên kết như mô hình Vendor Managed Inventory (VMI), Collaborative Planning, Forecasting and Replenishment (CPFR) để chia sẻ dữ liệu giữa doanh nghiệp sản xuất – nhà cung cấp – khách hàng. Nhờ đó, giảm tồn kho, tránh đứt gãy chuỗi cung ứng và tăng tính linh hoạt.

Trong năm 2025, Việt Nam đã tích cực mở rộng quan hệ với các tổ chức logistics quốc tế, bao gồm FIATA, WCA và AFFA. Các hiệp hội này đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp Việt Nam và cộng đồng logistics toàn cầu, giúp trao đổi thông tin, đào tạo chuyên môn và thúc đẩy chuẩn hóa dịch vụ. Thông qua việc nối đối tác toàn cầu, Việt Nam đuọcc chia sẻ mã đặt chỗ, và thực hiện hợp đồng xuyên biên giới với sự hỗ trợ về bảo hiểm tín dụng và rủi ro. Sự tham gia vào các mạng lưới này đặc biệt hữu ích cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu mạng lưới trực tiếp ở nước ngoài; vì vậy, Việt Nam nên tăng cường đầu tư và tích cực hơn nữa trong việc mở rộng quan hệ với các tổ chức logistics quốc tế.

Thứ hai, giải pháp từ phía doanh nghiệp logistics.

Doanh nghiệp cần chủ động ứng dụng các công nghệ nền tảng như IoT, AI, Big Data và Blockchain cần được đẩy mạnh nhằm nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của hệ thống logistics. Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược đào tạo nội bộ, hợp tác với các cơ sở đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và có chính sách đặc biệt cho nhân sự logistics chất lượng cao. Doanh nghiệp chủ động tham gia liên kết trong chuỗi cung ứng để nâng cao khả năng chia sẻ thông tin, tối ưu hóa nguồn lực và tạo ra giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng.

Logistics thương mại điện tử thông minh đòi hỏi sự thay đổi toàn diện về công nghệ và mô hình vận hành, nhà quản lý là nhân tố thúc đẩy quá trình đổi mới toàn diện này. Để có thể quản lý và đưa ra các quyết định hiệu quả, nhà quản lý cần chủ động cập nhật kiến thức về công nghệ và nâng cao năng lực quản trị số; có chính sách khuyến khích sáng tạo, thúc đẩy tinh thần thích ứng với thay đổi cho người lao động.

5. Kết luận

Công nghệ logistics được định hình lại một cách cơ bản bởi việc tối ưu hóa tuyến đường bằng trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng logistics đám mây hoạt động song song để mang lại hiệu quả, sự linh hoạt và tính minh bạch chưa từng có trên toàn bộ chuỗi cung ứng toàn cầu. Những đổi mới này mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp logistics điều chỉnh hoạt động một cách linh hoạt trong thời gian thực, giảm chi phí và chủ động ứng phó với những biến động của thị trường nhưng cũng tạo ra nhiều rào cản mới. Tại Việt Nam ngành logistics cũng chuyển dịch theo hướng thông minh hóa; tuy đã đạt nhiều thành tựu nhưng mức độ thông minh hóa ngành vẫn đang ở giai đoạn đầu; Chính phủ và doanh nghiệp cần nhanh chóng triển khai các biện pháp vĩ mô và vi mô để quá trình này diễn ra nhanh chóng, toàn diện hơn để khai thác các tiềm năng logistics Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu quốc tế.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Công Thương. (2022 – 2024).  Báo cáo Logistics Việt Nam các năm 2022, 2023, 2024.    
2. Bộ Công Thương. (2025). Báo cáo Logistics Việt Nam 2025. Logistics thông minh. H. NXB Công Thương.
3. Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam. (VLA). Vietnam Logistics Report và các báo cáo ngành.  
4. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
5. Nguyễn Hoàng Tuấn. (2023). Phát triển dịch vụ e-logistics trong thương mại điện tử ở Việt Nam. Cơ hội và thách thức. http://vaa.net.vn/phat-trien-dich-vu-e-logistics-trong-thuong-mai-dien-tu-o-viet-nam-co-hoi-va-thach-thuc/.   
6. Nguyễn Xuân Quyết và Trần Thị Ngọc Lan. (2019). Nghiên cứu thực trạng dịch vụ hậu cần điện tử (e-logistics) tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học và công nghệ thực phẩm, 19 (2), 147-159.  
7. Thủ tướng Chính phủ. (2025). Quyết định số 2229/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 – 2035, tầm nhìn đến 2050.  
8. VALOMA. (2024). Báo cáo Đào tạo Logistics và Quản lý Chuỗi cung ứng Việt Nam 2024. Hiệp hội Phát triển Nhân lực Logistics Việt Nam.
9. Alshawi, S. 2001. “Logistics in the Internet age: towards a holistic information and processes picture”. Logistics Information Management, Vol. 14, No. 4, pp. 235-241.
10. Gunasekaran, A. and Ngai, E.W.T., 2003. “The successful management of a small logistics company”. International Journal of Physical Distribution & Logistics Management, Vol. 33, Nos. 9/10, pp. 825-837.  
11. Gunasekaran, A. and Ngai, E.W.T., 2004a. “Virtual supply chain management”. Production Planning and Control, Vol. 15, No. 6, pp. 582-596. 
12. Gunasekaran, A. and Ngai, E.W.T., 2004b. “3PL: Experiences from China Resources Logistics (Hong Kong)”. International Journal of Logistics Systems and Management, Vol. 1, No. 1, pp. 81-111.   
13. Hesse, M., 2002. “Shipping news: the implications of electronic commerce for logistics and freight transport”. Resources, Conservation and Recycling, Vol. 36, pp. 211-240.  
14. Leung, L. C., Cheung, W. M. and Van Hui, Y., 2000. “A framework for a logistics e-commerce community network: The Hong Kong air cargo industry”. IEEE Transactions on Systems Man and Cybernetics Part – A Systems and Humans, Vol. 30, No. 4, pp. 446-455.  
15. Ngai, E. W. T. and Wat, F. K. T., 2002. “A literature review and classification of electronic commerce research”. Information and Management, Vol. 39, No. 5, pp. 415-429.  
16. Schary, P. B. and Coakley, J., 1991. “Logistics organization and the information system”. The International Journal of Logistics Management, Vol.2, No. 2, pp.22-29. 
17. Sum, C. C. and Teo, C. B. and Ng., K. K., 2001. “Strategic logistics management in Singapore”. International Journal of Operations and Production Management, Vol. 21, No. 9, pp. 1239-1260.   
18. VLA (2024). Annual Review on Vietnam Logistics Cooperation.  
19. Wang, Y. and Pettit, S. (2021). E-Logistics. 2nd edn. Kogan Page. https://www.perlego.com/book/2842058/elogistics-managing-digital-supply-chainsforcompetitive-advantage-pdf (Accessed: 15 October 2022).    
20. Zemlyak, S., Nozdreva, I., & Sivakova, S. (2024). Implementation of AI in Smart Logistics Based on Mobile Technologies. International Journal of Interactive Mobile  Technologies, 18(17), 88-100.