Giải phóng nguồn lực văn hóa cho phát triển công nghiệp văn hóa: tiếp cận kinh tế chính trị về nhân lực và thể chế

Liberating cultural resources for the development of the cultural industry: a political economy approach to human resources and institutions

Thái Hải Đăng
Viện Nhân học Văn hóa
Email: haidangajc@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích vấn đề giải phóng nguồn lực văn hóa cho phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn kinh tế chính trị, tập trung vào hai chiều then chốt là nhân lực và thể chế. Trên cơ sở làm rõ nguồn lực văn hóa như một dạng nguồn lực phát triển đặc thù, bài viết khẳng định: nhân lực sáng tạo là chủ thể chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu và sức mạnh mềm quốc gia; thể chế là điều kiện quyết định để khơi thông, bảo vệ, phân bổ và tái tạo nguồn lực văn hóa. Bài viết chỉ ra những kết quả bước đầu, các điểm nghẽn và mâu thuẫn trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam; từ đó, đề xuất các giải pháp về đổi mới nhận thức, hoàn thiện thể chế, phát triển nhân lực, xây dựng hệ sinh thái và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.

Từ khóa: Công nghiệp văn hóa; kinh tế chính trị; nguồn lực văn hóa; nhân lực sáng tạo; thể chế, sức mạnh mềm quốc gia.

Abstract: This article analyzes the liberation of cultural resources for the development of the cultural industry in contemporary Vietnam from a political economy perspective, focusing on two key dimensions: human resources and institutions. Based on clarifying cultural resources as a distinctive type of development resource, the article affirms that creative human resources are the agents that transform cultural values into products, services, brands, and national soft power; institutions are the decisive condition for unblocking, protecting, allocating, and regenerating cultural resources. The article identifies preliminary achievements, bottlenecks, and contradictions in the development process of Vietnam’s cultural industry. From this foundation, it proposes solutions concerning the renewal of awareness, institutional improvement, human resource development, ecosystem building, and ensuring a socialist orientation.

Keywords: Cultural industries; political economy; cultural resources; creative human capital; institutional framework; national soft power.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Xu hướng phát triển công nghiệp văn hóa đã trở thành lựa chọn chiến lược của nhiều quốc gia nhằm khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú với hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đa dạng, các ngành nghề thủ công truyền thống đặc sắc cùng tiềm năng sáng tạo to lớn của con người. Đây là những lợi thế quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nguồn lực văn hóa dù dồi dào vẫn chưa được chuyển hóa tương xứng thành giá trị kinh tế, sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh cao và nguồn lực phát triển quốc gia. Một trong những nguyên nhân cơ bản là sự hạn chế trong việc phát huy vai trò của nhân lực sáng tạo và những bất cập của hệ thống thể chế trong việc khơi thông, phân bổ, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực văn hóa.

Dưới góc độ kinh tế chính trị, nguồn lực văn hóa không tự động trở thành động lực phát triển mà chỉ được hiện thực hóa thông qua hoạt động sáng tạo của con người trong những điều kiện thể chế phù hợp. Do đó, việc giải phóng nguồn lực văn hóa thực chất là quá trình tháo gỡ các rào cản về nhận thức, cơ chế, chính sách và môi trường phát triển nhằm phát huy đầy đủ vai trò của nhân lực sáng tạo, đồng thời xây dựng hệ thống thể chế đủ khả năng tạo động lực cho các chủ thể tham gia sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích vấn đề giải phóng nguồn lực văn hóa cho phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam hiện nay từ cách tiếp cận kinh tế chính trị, tập trung vào hai chiều cạnh then chốt là nhân lực và thể chế.

2. Cơ sở lý luận về nguồn lực văn hóa, nhân lực và thể chế dưới góc nhìn kinh tế chính trị

2.1. Nguồn lực văn hóa – một dạng nguồn lực phát triển đặc thù

Trong lý luận phát triển hiện đại, bên cạnh các nguồn lực truyền thống, như: vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên và khoa học, công nghệ, văn hóa ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển đặc thù có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, xã hội và sức mạnh mềm quốc gia. Nguồn lực văn hóa được hình thành từ toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy trong tiến trình lịch sử của cộng đồng, bao gồm: di sản văn hóa, tri thức bản địa, phong tục tập quán, ngôn ngữ, nghệ thuật, tín ngưỡng, lối sống, hệ giá trị, chuẩn mực xã hội và năng lực sáng tạo của con người. Đây là nguồn lực mang tính lịch sử – xã hội sâu sắc, được bồi đắp qua nhiều thế hệ và không ngừng được tái tạo trong quá trình phát triển.

Khác với các nguồn lực vật chất hữu hạn, như: đất đai, khoáng sản hay vốn tài chính, nguồn lực văn hóa có đặc điểm nổi bật là khả năng tích lũy lâu dài, tái sinh liên tục và lan tỏa rộng rãi. Giá trị của nguồn lực văn hóa không mất đi khi được khai thác mà trong nhiều trường hợp còn được gia tăng thông qua quá trình sáng tạo, phổ biến và tiếp nhận xã hội. Chính đặc tính này làm cho văn hóa trở thành nguồn lực có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức, chuyển đổi số và toàn cầu hóa hiện nay.

Từ góc độ kinh tế học văn hóa, Leandro Valiati (2025) đã đề cập: “Các ngành công nghiệp văn hóa sáng tạo (Creative and Cultural Industries – CCIs) không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần hình thành bản sắc văn hóa, thúc đẩy sự gắn kết xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống”. Nếu chỉ chạy theo lợi nhuận và yêu cầu thị trường, các giá trị văn hóa có thể bị tầm thường hóa, lai căng, đánh mất chiều sâu tinh thần. Ngược lại, nếu chỉ bảo tồn theo lối tĩnh tại, hành chính hóa và bao cấp hóa, thì nguồn lực văn hóa sẽ khó được khơi thông, khó đi vào đời sống kinh tế và khả năng tạo ra động lực phát triển sẽ bị mòn dần. Đây là điểm cốt lõi làm cho nguồn lực văn hóa trở thành nguồn lực phát triển đặc thù, một khi được nhận diện đúng, tổ chức tốt và lan toả rộng rãi thì nguồn lực này càng có khả năng gia tăng giá trị, củng cố sức mạnh nội sinh và đóng góp vào mục tiêu phát triển nhanh, phát triển bền vững của đất nước.

Quan điểm này cũng phù hợp với cách tiếp cận của UNESCO (2005) về công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Công ước năm 2005 về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa khẳng định các biểu đạt văn hóa bắt nguồn từ sự sáng tạo của cá nhân, cộng đồng và xã hội; đồng thời, các ngành công nghiệp văn hóa là lĩnh vực chuyển hóa những biểu đạt đó thành các hoạt động sản xuất, phân phối và lưu thông có giá trị kinh tế. Báo cáo toàn cầu ReShaping Policies for Creativity (2022), tiếp tục nhấn mạnh vai trò của các hệ sinh thái sáng tạo và các thiết chế quản trị văn hóa trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo

Dưới góc độ kinh tế chính trị, nguồn lực văn hóa không tồn tại như một nguồn lực phát triển hiện thực nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng. Các giá trị văn hóa chỉ có thể chuyển hóa thành nguồn lực phát triển khi được đưa vào quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng thông qua hoạt động sáng tạo của con người và sự vận hành của các thiết chế kinh tế – xã hội. Nói cách khác, bản thân các giá trị văn hóa chưa trực tiếp tạo ra tăng trưởng hay lợi thế cạnh tranh; điều quyết định là khả năng tổ chức, khai thác và chuyển hóa các giá trị đó thành sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu văn hóa có giá trị gia tăng cao.

Trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa, các yếu tố, như: di sản văn hóa, nghệ thuật truyền thống, tri thức bản địa, lễ hội, ngôn ngữ, biểu tượng văn hóa, ẩm thực, kiến trúc và các hình thức biểu đạt sáng tạo khác trở thành nguồn nguyên liệu đầu vào quan trọng để hình thành các sản phẩm và dịch vụ văn hóa. Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa này đòi hỏi sự tham gia của nhiều điều kiện bảo đảm, bao gồm: nguồn nhân lực sáng tạo chất lượng cao, hệ thống thể chế phù hợp, công nghệ hiện đại và môi trường thị trường thuận lợi. Thiếu các điều kiện đó, nguồn lực văn hóa có thể tồn tại dưới dạng tiềm năng nhưng khó trở thành động lực phát triển thực sự.

Đặc điểm nổi bật của nguồn lực văn hóa là sự thống nhất giữa giá trị kinh tế và giá trị xã hội, nhân văn. Không giống các loại hàng hóa thông thường, sản phẩm văn hóa vừa mang chức năng tạo ra lợi ích kinh tế vừa thực hiện chức năng lưu giữ bản sắc dân tộc, truyền tải hệ giá trị xã hội và củng cố sự gắn kết cộng đồng. Theo Leandro Valiati (2025), các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần hình thành bản sắc văn hóa, tăng cường sự gắn kết xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Chính vì vậy, phát triển công nghiệp văn hóa không thể được đồng nhất với quá trình thương mại hóa văn hóa một cách đơn thuần.

Thực tiễn cho thấy, nếu quá chú trọng mục tiêu lợi nhuận và chạy theo thị hiếu thị trường ngắn hạn, các giá trị văn hóa có nguy cơ bị thương mại hóa cực đoan, tầm thường hóa hoặc đánh mất bản sắc. Ngược lại, nếu chỉ tập trung bảo tồn theo hướng hành chính hóa, bao cấp hóa và tách rời các quy luật phát triển của thị trường thì nguồn lực văn hóa khó được khai thác hiệu quả, khả năng tái tạo và lan tỏa giá trị cũng bị hạn chế. Đây là một trong những mâu thuẫn cơ bản đặt ra đối với phát triển công nghiệp văn hóa ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Từ góc độ kinh tế chính trị, giải phóng nguồn lực văn hóa được hiểu là quá trình tháo gỡ các rào cản về nhận thức, cơ chế, chính sách và môi trường phát triển nhằm tạo điều kiện cho các giá trị văn hóa được bảo tồn, tái tạo và chuyển hóa thành các nguồn lực phát triển mới. Quá trình này không chỉ hướng tới mục tiêu gia tăng giá trị kinh tế mà còn bảo đảm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy giá trị nhân văn và củng cố sức mạnh nội sinh của quốc gia. Khi được nhận diện đúng, tổ chức hiệu quả và phát huy trong một môi trường thể chế phù hợp, nguồn lực văn hóa có khả năng tạo ra những giá trị gia tăng bền vững, trở thành động lực quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

2.2. Nhân lực sáng tạo – chủ thể chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành giá trị phát triển

Nếu nguồn lực văn hóa là nền tảng tạo nên lợi thế so sánh của công nghiệp văn hóa, thì nhân lực sáng tạo chính là chủ thể trực tiếp khai thác, tái tạo và chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu có giá trị kinh tế, xã hội và văn hóa. Bản thân các giá trị văn hóa, dù phong phú đến đâu, cũng không thể tự động trở thành nguồn lực phát triển. Mà chỉ có thể được hiện thực hóa thông qua hoạt động lao động sáng tạo của con người, từ khâu nhận diện, lựa chọn, diễn giải và tái cấu trúc các chất liệu văn hóa đến quá trình thiết kế, sản xuất, truyền thông, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Vì vậy, trong chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa, nhân lực sáng tạo giữ vai trò trung tâm, quyết định khả năng chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành động lực tăng trưởng và sức mạnh mềm quốc gia.

Dưới góc độ kinh tế chính trị, nhân lực sáng tạo là một bộ phận đặc biệt của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế tri thức. Nếu trong nền kinh tế công nghiệp truyền thống, nguồn gốc chủ yếu của giá trị gia tăng đến từ tư liệu sản xuất và lao động vật chất, thì trong công nghiệp văn hóa, tri thức, tài năng, ý tưởng sáng tạo và khả năng đổi mới trở thành những yếu tố quyết định tạo nên giá trị của sản phẩm. Theo quan điểm của Karl Marx, con người là yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất; sự phát triển của xã hội xét đến cùng phụ thuộc vào khả năng giải phóng và phát huy năng lực sáng tạo của con người. Trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, luận điểm này càng trở nên rõ nét khi giá trị của sản phẩm phần lớn được tạo ra từ hàm lượng sáng tạo, tri thức và bản sắc văn hóa được kết tinh trong quá trình lao động sáng tạo.

Đặc điểm nổi bật của nhân lực sáng tạo là khả năng kết hợp giữa tri thức chuyên môn, năng lực thẩm mỹ, tư duy đổi mới, năng lực công nghệ và khả năng thích ứng với thị trường. Đây là lực lượng lao động có tính liên ngành cao, bao gồm: văn nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà thiết kế, nhà sản xuất nội dung, biên kịch, đạo diễn, diễn viên, chuyên gia truyền thông, chuyên gia marketing văn hóa, kỹ sư công nghệ số, nhà quản trị sáng tạo, doanh nhân văn hóa và đội ngũ hoạch định chính sách văn hóa. Mỗi chủ thể tham gia vào một công đoạn khác nhau của chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, song đều có chung chức năng là chuyển hóa vốn văn hóa thành các sản phẩm và dịch vụ có khả năng lưu thông trên thị trường.

Từ góc độ vốn con người, nhân lực sáng tạo không chỉ là nguồn lao động mà còn là tài sản chiến lược của nền kinh tế sáng tạo. Richard Florida (2002) cho rằng, sự phát triển của các ngành công nghiệp sáng tạo phụ thuộc ngày càng lớn vào “giai cấp sáng tạo” – lực lượng lao động tạo ra các ý tưởng, tri thức và đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, John Howkins (2001) khẳng định giá trị cốt lõi của nền kinh tế sáng tạo nằm ở khả năng chuyển hóa ý tưởng thành tài sản kinh tế. Những quan điểm này cho thấy, nguồn lực quyết định sức cạnh tranh của công nghiệp văn hóa  không chỉ là tài nguyên văn hóa mà còn là chất lượng và năng lực sáng tạo của đội ngũ nhân lực tham gia vào quá trình sản xuất văn hóa.

Tuy nhiên, năng lực sáng tạo của con người không thể phát huy đầy đủ nếu thiếu các điều kiện thể chế phù hợp. Lao động sáng tạo mang tính rủi ro cao, phụ thuộc nhiều vào môi trường tự do sáng tạo, cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính, công nghệ và thị trường. Trong trường hợp thiếu các điều kiện hỗ trợ cần thiết, tài năng sáng tạo có thể bị lãng phí, phân tán hoặc dịch chuyển sang các lĩnh vực khác có khả năng tạo thu nhập và cơ hội phát triển tốt hơn. Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng khai thác nguồn lực văn hóa ở nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Do đó, phát triển nhân lực sáng tạo cần được xem là khâu đột phá trong quá trình giải phóng nguồn lực văn hóa. Điều này không chỉ đòi hỏi đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo theo hướng liên ngành, gắn kết giữa văn hóa, nghệ thuật, công nghệ và kinh doanh mà còn yêu cầu xây dựng môi trường thể chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tạo điều kiện cho các chủ thể sáng tạo tham gia bình đẳng vào thị trường. Khi nhân lực sáng tạo được bồi dưỡng, bảo vệ và kết nối hiệu quả với công nghệ, thị trường và hệ thống thể chế, nguồn lực văn hóa mới có thể được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển thực sự, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao sức mạnh mềm và củng cố nền tảng văn hóa của quốc gia.

2.3. Thể chế – điều kiện then chốt để khơi thông và phân bổ nguồn lực văn hóa

Nếu nguồn lực văn hóa là nền tảng tạo nên lợi thế phát triển và nhân lực sáng tạo là chủ thể trực tiếp chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu văn hóa, thì thể chế chính là điều kiện quyết định để khơi thông, tổ chức, phân bổ và tái tạo các nguồn lực đó trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa. Dưới góc độ kinh tế chính trị, thể chế không chỉ được hiểu là hệ thống pháp luật, cơ chế quản lý hay chính sách hỗ trợ của Nhà nước mà còn là tổng thể các quy tắc chính thức và phi chính thức điều chỉnh hành vi của các chủ thể xã hội, xác lập quyền sở hữu, quyền khai thác, quyền hưởng lợi và trách nhiệm trong quá trình sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa.

Theo Douglass North (1990), thể chế là “các luật chơi của xã hội” (the rules of the game) có chức năng định hình các động cơ hành vi và làm giảm tính bất định trong các hoạt động kinh tế – xã hội. Từ cách tiếp cận này có thể thấy, nguồn lực văn hóa dù phong phú đến đâu cũng khó trở thành động lực phát triển nếu thiếu những thiết chế phù hợp để nhận diện, bảo vệ, định giá, huy động đầu tư, phân bổ lợi ích và bảo đảm khả năng tái tạo nguồn lực trong dài hạn. Nói cách khác, thể chế chính là môi trường quyết định việc các giá trị văn hóa được giải phóng hay bị kìm hãm trong quá trình phát triển.

Đối với công nghiệp văn hóa, vai trò của thể chế trước hết thể hiện ở việc chuyển các giá trị văn hóa từ trạng thái tiềm năng thành các nguồn lực có thể tham gia vào thị trường. Các di sản văn hóa, tri thức bản địa, kỹ nghệ truyền thống, sản phẩm sáng tạo và tài sản trí tuệ chỉ có thể trở thành nguồn lực phát triển khi được pháp luật bảo hộ, được xác lập chủ thể quyền rõ ràng và được tạo điều kiện tham gia vào các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và lưu thông. Trong bối cảnh kinh tế số, chức năng này càng trở nên quan trọng khi các sản phẩm văn hóa ngày càng gắn với tài sản trí tuệ, dữ liệu số và các hình thức sáng tạo mới.

Từ góc độ kinh tế chính trị, thể chế còn là cơ chế điều hòa và phân phối lợi ích giữa các chủ thể tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Quá trình khai thác nguồn lực văn hóa thường liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau, bao gồm: Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng sở hữu di sản, nghệ nhân, văn nghệ sĩ và người tiêu dùng. Nếu thiếu cơ chế phân phối lợi ích công bằng và minh bạch, các chủ thể sáng tạo có thể không được hưởng thành quả tương xứng với đóng góp của mình, trong khi cộng đồng nắm giữ di sản có nguy cơ bị gạt ra ngoài quá trình khai thác các giá trị văn hóa. Do đó, một thể chế phát triển công nghiệp văn hóa hiệu quả không chỉ bảo đảm tự do sáng tạo và cạnh tranh lành mạnh mà còn phải tạo dựng cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa giữa các chủ thể liên quan.

Đặc điểm riêng của nguồn lực văn hóa đòi hỏi thể chế phát triển công nghiệp văn hóa  phải có sự khác biệt so với thể chế phát triển các ngành sản xuất vật chất thông thường. Nhiều giá trị văn hóa mang tính độc bản, được tích lũy qua nhiều thế hệ và gắn liền với bản sắc của cộng đồng, dân tộc. Đây là những nguồn lực không thể tái tạo nhanh chóng bằng vốn tài chính hay công nghệ. Vì vậy, nếu chỉ vận dụng các cơ chế thị trường thuần túy nhằm tối đa hóa lợi nhuận hoặc thúc đẩy thương mại hóa trong ngắn hạn, các giá trị văn hóa có thể bị khai thác quá mức, bị biến dạng hoặc đánh mất tính xác thực. Điều này không chỉ làm suy giảm giá trị văn hóa mà còn làm xói mòn chính nền tảng tạo nên lợi thế cạnh tranh của công nghiệp văn hóa.

Quan điểm này phù hợp với cách tiếp cận của UNESCO (2005) về công nghiệp văn hóa và sáng tạo. Công ước năm 2005 về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa khẳng định rằng các chính sách văn hóa cần đồng thời thúc đẩy sáng tạo, bảo vệ sự đa dạng văn hóa và bảo đảm quyền tiếp cận văn hóa của mọi công dân. Báo cáo ReShaping Policies for Creativity (2022) tiếp tục nhấn mạnh, vai trò của các hệ sinh thái thể chế trong việc tạo lập môi trường thuận lợi cho sáng tạo, đổi mới và phát triển bền vững các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo.

Như vậy, dưới góc độ kinh tế chính trị, giải phóng nguồn lực văn hóa không chỉ là vấn đề phát huy tiềm năng sáng tạo của con người mà còn là quá trình hoàn thiện thể chế nhằm tháo gỡ các rào cản trong việc tiếp cận nguồn lực, bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể sáng tạo, mở rộng không gian sáng tạo và xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh. Thể chế vì thế vừa là điều kiện khơi thông nguồn lực văn hóa, vừa là cơ chế bảo vệ và tái tạo nguồn lực đó trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa  theo hướng bền vững và giàu bản sắc dân tộc.

3. Thực trạng giải phóng nguồn lực văn hóa cho phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam hiện nay

3.1. Một số kết quả bước đầu

Những năm gần đây, quá trình giải phóng nguồn lực văn hóa cho phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam đã đạt được một số kết quả quan trọng, trước hết thể hiện ở chuyển biến nhận thức và định hướng chính sách. Sự thay đổi này mở rộng cách tiếp cận văn hóa từ quản lý, bảo tồn tĩnh sang lĩnh vực có khả năng sáng tạo giá trị gia tăng, tạo việc làm, tăng thu nhập, thương hiệu và năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế hiện đại.

Ở phương diện thể chế, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm tạo hành lang cho phát triển công nghiệp văn hóa. Các định hướng về xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện; xây dựng văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy chuyển đổi số; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa  đã từng bước hình thành khung chính sách tương đối toàn diện. Đặc biệt, việc xác định công nghiệp văn hóa  là một ngành kinh tế quan trọng cho thấy, tư duy phát triển đã chuyển từ việc nhìn nhận văn hóa như đối tượng thụ hưởng ngân sách sang xem văn hóa là nguồn lực cần được đầu tư, khai thác và tái tạo để phục vụ phát triển bền vững.

Về thực tiễn, các địa phương đã bắt đầu khai thác các giá trị văn hóa để phát triển du lịch, tạo lập hệ sinh thái làng nghề, thủ công mỹ nghệ, thiết kế sáng tạo và truyền thông số. Có thể kể đến Chương trình hành động số 26-CTr/TU ngày 24/4/2026 của tỉnh Đồng Tháp; Kế hoạch hội nhập quốc tế về văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; Chương trình hành động số 18-CTrHĐ/TU ngày 07/1/2026 của TP. Hồ Chí Minh… Một số di sản, lễ hội, không gian văn hóa và sản phẩm thủ công bản địa đã được kết nối với hoạt động du lịch, thương mại, truyền thông và kinh tế số. Từ đó, góp phần tạo thêm sinh kế cho cộng đồng, nâng cao giá trị thương hiệu địa phương và lan tỏa hình ảnh Việt Nam.

Nguồn nhân lực trẻ cũng đang phát triển năng động thông qua việc tham gia vào lĩnh vực sáng tạo, thiết kế nội dung số, khởi nghiệp sáng tạo và đặc biệt là đi sâu nghiên cứu các vấn đề văn hóa. Sự tham gia của doanh nghiệp, nghệ nhân, nhà sáng tạo nội dung, cơ sở đào tạo, truyền thông và thể chế của Nhà nước đã góp phần mở rộng không gian sáng tạo văn hóa. Những kết quả này cho thấy, nguồn lực văn hóa Việt Nam đang từng bước được đánh thức, song để phát triển đột phá vẫn cần tháo gỡ những điểm nghẽn về nhân lực, thể chế, thị trường và cơ chế phân bổ lợi ích.

3.2. Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Thứ nhất, điểm nghẽn trong nhận diện và định giá nguồn lực văn hóa. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống, di sản, lễ hội, làng nghề, biểu tượng văn hóa hay kỹ năng của nghệ nhân chủ yếu được tiếp cận, như: đối tượng bảo tồn tĩnh hoặc khai thác du lịch ngắn hạn, chưa được nhận diện như tài sản văn hóa có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Vì vậy, khả năng chuyển hóa từ “giá trị văn hóa” thành “giá trị phát triển” còn hạn chế, thiếu hệ thống đo lường, định giá, bảo hộ và khai thác phù hợp.

Thứ hai, chất lượng và cơ cấu nhân lực công nghiệp văn hóa  chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng cho công nghiệp văn hóa là một hệ sinh thái, gồm: cả đội ngũ sáng tác, biểu diễn, thực hành, nghệ nhân, truyền dạy di sản và các chủ thể có năng lực quản trị, kinh doanh, truyền thông, công nghệ, thiết kế, sở hữu trí tuệ, phát triển thị trường và cả nhân lực hoạch định chính sách. Tuy nhiên, trong nhiều lĩnh vực nhân lực còn phân tán, thiếu tính chuyên nghiệp và thiếu khả năng kết nối giữa sáng tạo văn hóa với công nghệ và thương mại. Thị trường văn hóa phát triển chưa đồng đều, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn hạn chế, năng lực truyền thông và phân phối sản phẩm văn hóa ra thị trường quốc tế còn yếu.

Thứ ba, điểm nghẽn nằm ở thể chế và cơ chế thực thi chính sách. Các chủ trương phát triển văn hóa, công nghiệp văn hóa và hỗ trợ nhân lực văn hóa đã được quan tâm nhiều hơn, nhưng giữa định hướng chính sách và tổ chức thực hiện vẫn còn khoảng cách. Chính sách phân tán dàn trải giữa các ngành, một số công cụ chính sách vẫn thiên về hỗ trợ hành chính hoặc khuyến khích mở rộng quy mô mà chưa chú trọng đến đặc thù dễ tổn thương của nguồn lực văn hóa, nhất là nguồn lực văn hóa truyền thống. Việc thương mại hóa thiếu kiểm soát có thể làm biến dạng, tầm thường hóa hoặc khai thác quá mức chính những giá trị tạo nên lợi thế văn hóa.

Những điểm nghẽn này cho thấy, để giải phóng nguồn lực văn hóa, Việt Nam không chỉ cần đầu tư thêm, mà còn cần đổi mới cách tổ chức, phân bổ và bảo vệ nguồn lực văn hóa trên cơ sở thể chế phát triển phù hợp.

3.3. Những mâu thuẫn đặt ra dưới góc nhìn kinh tế chính trị

Trước hết, Việt Nam có kho tàng di sản, lễ hội, làng nghề, tri thức bản địa và bản sắc văn hóa vùng miền rất đa dạng. Tuy nhiên, nhiều giá trị vẫn chưa được tổ chức thành sản phẩm, dịch vụ và tạo ra giá trị gia tăng. Mâu thuẫn không nằm ở thiếu hụt tài nguyên mà nằm ở năng lực tổ chức, chuyển hóa nguồn lực thành giá trị kinh tế, giá trị xã hội và sức mạnh mềm quốc gia.

Thứ hai, mâu thuẫn giữa tính đặc thù, khó tái tạo của nguồn lực văn hóa với yêu cầu khai thác nhanh trong nền kinh tế thị trường. Trong khi đó, thị trường luôn yêu cầu mở rộng quy mô, tăng tốc độ khai thác, tiêu chuẩn hóa các sản phẩm và tối đa lợi nhuận. Vì văn hóa không phải là hàng hóa thông thường, nếu để thị trường tự phát chi phối sẽ khiến công nghiệp văn hóa chạy theo thị hiếu thấp, giá trị ngắn hạn. Do vậy, nếu thiếu cơ chế điều tiết, quá trình thương mại hóa có thể làm suy giảm tính xác thực, làm đứt gãy không gian văn hóa và làm xói mòn chính nguồn lực tạo nên lợi thế của công nghiệp văn hóa.

Thứ ba, là mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh công nghiệp văn hóa với độ trễ của thể chế. Thực tiễn sáng tạo số, tài sản trí tuệ, sản phẩm phái sinh, kinh tế nền tảng, dữ liệu văn hóa và thị trường nội dung xuyên biên giới đang thay đổi nhanh chóng. Trong khi đó, cơ chế chính sách quản lý, bảo hộ bản quyền, đầu tư, đào tạo và phân phối lợi ích chung còn chậm thích ứng. Mâu thuẫn này cho thấy, vai trò đặc biệt của Nhà nước trong kiến tạo thể chế phát triển, đó là định hướng, điều tiết, bảo vệ sáng tạo, bảo đảm công bằng lợi ích và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

4. Một số giải pháp giải phóng nguồn lực văn hóa cho phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam

Một là, đổi mới nhận thức về văn hóa như một nguồn lực phát triển đặc biệt.

Cần chuyển mạnh tư duy từ “quản lý văn hóa” sang tư duy “kiến tạo phát triển văn hóa”. Văn hóa không chỉ cần được bảo tồn mà còn cần được sáng tạo, tổ chức, đầu tư, khai thác và lan tỏa như một nguồn lực phát triển đặc biệt. Điều này không có nghĩa là thương mại hóa văn hóa bằng mọi giá mà là tạo lập điều kiện để các giá trị văn hóa được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu, việc làm, thu nhập và giá trị xã hội bền vững. Nói cách khác, phải nhìn nhận văn hóa trong sự thống nhất giữa giá trị tinh thần và giá trị kinh tế, giữa bản sắc dân tộc và năng lực cạnh tranh, giữa bảo tồn và phát triển. Vì vậy, khai thác nguồn lực văn hóa không thể theo lối tận thu, ngắn hạn hoặc chỉ chạy theo lợi nhuận thị trường.

Hai là, hoàn thiện thể chế phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng kiến tạo và khơi thông nguồn lực.

Nhà nước không chỉ giữ vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động văn hóa mà cần chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo thông qua việc xây dựng hành lang pháp lý, thiết kế cơ chế phân bổ nguồn lực, bảo vệ quyền sáng tạo, điều tiết quan hệ lợi ích và tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể tham gia thị trường văn hóa.

(1) Cần hoàn thiện thể chế về nhận diện, định giá và bảo hộ tài sản văn hóa. Nhiều giá trị văn hóa hiện nay vẫn tồn tại dưới dạng tiềm năng, chưa được xác lập đầy đủ về quyền sở hữu, quyền khai thác, quyền hưởng lợi và trách nhiệm bảo vệ. Vì vậy, cần có cơ chế rõ ràng về các quyền ấy; đồng thời, xác lập chỉ dẫn địa lý, tri thức truyền thống, dữ liệu văn hóa và sản phẩm sáng tạo số.

(2) Cần thiết kế chính sách tài chính phù hợp với đặc thù của công nghiệp văn hóa. Đây là lĩnh vực dựa nhiều vào tài sản vô hình, ý tưởng sáng tạo, bản quyền, thương hiệu và năng lực biểu tượng nên rất khó tiếp cận các kênh vốn truyền thống nếu thiếu cơ chế hỗ trợ. Nhà nước cần nghiên cứu hình thành quỹ hỗ trợ sáng tạo văn hóa, chính sách tín dụng ưu đãi, ưu đãi thuế, đặt hàng công, hợp tác công – tư và cơ chế đầu tư mạo hiểm cho các dự án công nghiệp văn hóa  có tiềm năng.

(3) Cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cấp và các chủ thể. công nghiệp văn hóa  liên quan đồng thời với văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, du lịch, thương mại, truyền thông, tài chính, đối nội, đối ngoại. Vì vậy, nếu thể chế bị chia cắt theo tư duy quản lý hẹp thì nguồn lực sẽ khó được khơi thông.

(4) Thể chế phát triển công nghiệp văn hóa  phải bảo đảm sự cân bằng giữa khai thác và bảo vệ, giữa hiệu quả kinh tế và giá trị xã hội. Tạo điều kiện để văn hóa được bảo tồn trong phát triển, được phát triển trong kế thừa và được phân bổ lợi ích công bằng giữa các chủ thể.

Ba là, phát triển nhân lực công nghiệp văn hóa chất lượng cao.

Nếu thay đổi nhận thức là nền tảng, thể chế tạo hành lang phát triển, thì nhân lực là chủ thể trực tiếp có mặt trong hầu hết các khâu của công nghiệp văn hóa. Phát triển công nghiệp văn hóa phải dựa trên đội ngũ nhân lực có năng lực sáng tạo, năng lực quản trị, năng lực công nghệ và khả năng tham gia vào chuỗi giá trị văn hóa hiện đại.

(1) Cần đổi mới tư duy đào tạo nhân lực văn hóa theo hướng liên ngành. Chương trình đào tạo cần kết hợp giữa văn hóa, nghệ thuật, kinh tế, quản trị, truyền thông, công nghệ, du lịch và sở hữu trí tuệ. Đây là điều kiện để hình thành đội ngũ nhân lực có khả năng vừa hiểu sâu giá trị văn hóa, vừa biết tổ chức sản xuất, phân phối và thương mại sản phẩm văn hóa một cách chuyên nghiệp.

(2) Cần đặc biệt quan tâm đến nghệ nhân – đội ngũ nắm giữ tri thức truyền thống và kỹ năng thực hành di sản. Vì nguồn lực nghệ nhân không thể tái tạo nhanh chóng, nếu không có cơ chế bảo vệ, đãi ngộ, tôn vinh và truyền nghề phù hợp thì nguồn lực này có thể bị suy giảm, đứt gãy hoặc mất tính xác thực.

(3) Đào tạo nhân lực công nghiệp văn hóa  không thể tách rời thị trường thực tiễn. Do vậy, cần tăng cường liên kết giữa các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, địa phương, hiệp hội nghề nghiệp và cộng đồng sáng tạo nhằm tổ chức thực hành, thực tập, ươm tạo dự án và phát triển khởi nghiệp văn hóa.

Khi nhân lực được đào tạo bài bản, được bảo vệ quyền lợi và được kết nối với thị trường, nguồn lực văn hóa mới có thể được chuyển hóa thành giá trị phát triển một cách hiệu quả, nhân văn và bền vững.

Bốn là, phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa dựa trên liên kết Nhà nước – thị trường – cộng đồng.

Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa là không gian tổ chức, phân bổ và điều phối các nguồn lực văn hóa, nhân lực, công nghệ, tài chính, thị trường và thể chế nhằm chuyển hóa giá trị văn hóa thành giá trị phát triển bền vững.

(1) Nhà nước cần giữ vai trò kiến tạo, định hướng và điều tiết. Vai trò của Nhà nước là xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, bảo vệ quyền sáng tạo, đầu tư hạ tầng văn hóa, hỗ trợ các lĩnh vực có giá trị xã hội cao nhưng khó sinh lợi nhanh, đồng thời, điều tiết để quá trình thương mại hóa không làm tổn hại bản sắc văn hóa dân tộc.

(2) Cần phát huy vai trò của doanh nghiệp và thị trường trong tổ chức, phân phối và mở rộng giá trị sản phẩm văn hóa. Để công nghiệp văn hóa phát triển bền vững, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào sản phẩm văn hóa có chiều sâu, có bản sắc và có năng lực tham gia thị trường quốc tế.

(3) Phải đặt cộng đồng, nghệ nhân, nghệ sĩ và người sáng tạo là trung tâm của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, vì nhiều nguồn lực văn hóa nằm trong đời sống của họ. Do đó, phát triển công nghiệp văn hóa  phải bảo đảm cộng đồng không chỉ là đối tượng được khai thác mà còn là chủ thể tham gia, đồng sáng tạo và hưởng lợi công bằng từ quá trình phát triển.

Khi các chủ thể được kết nối trong một hệ sinh thái thống nhất thì nguồn lực văn hóa sẽ không còn bị phân tán, tự phát mà được tổ chức thành sức mạnh tổng hợp, góp phần đưa công nghiệp văn hóa Việt Nam theo hướng hiện đại, bền vững, giàu bản sắc dân tộc.

Năm là, gắn phát triển công nghiệp văn hóa với định hướng xã hội chủ nghĩa.

Gắn phát triển công nghiệp văn hóa với định hướng xã hội chủ nghĩa là yêu cầu có tính nguyên tắc trong quá trình giải phóng nguồn lực văn hóa ở Việt Nam. Vì phát triển công nghiệp văn hóa không thể chỉ đo bằng doanh thu, tốc độ tăng trưởng hay quy mô thị trường mà còn phải được đánh giá bằng khả năng góp phần xây dựng con người Việt Nam, lan tỏa giá trị tiến bộ và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và điều tiết, đưa văn hóa tham gia vào thị trường nhưng không thể bị đồng nhất với hàng hóa thông thường. Sản phẩm văn hóa luôn chứa đựng giá trị tư tưởng, thẩm mỹ, đạo đức, ký ức dân tộc và bản sắc cộng đồng. Do đó, nếu để thị trường tự phát chi phối hoàn toàn thì công nghiệp văn hóa  có thể chạy theo thị hiếu nhất thời, lợi nhuận ngắn hạn sẽ làm suy giảm tính nhân văn và bản sắc dân tộc. Ngược lại, nếu quản lý cứng nhắc, thiếu tôn trọng quy luật thị trường sẽ khó phát triển năng động, khó thu hút nhân lực, doanh nghiệp và nguồn lực xã hội. Vì vậy, định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển công nghiệp văn hóa cần kết hợp hài hoà giữa hiệu quả kinh tế và giá trị xã hội, giữa hội nhập quốc tế và gìn giữ bản sắc dân tộc. Đây chính là cơ sở để công nghiệp văn hóa Việt Nam phát triển nhanh, phát triển bền vững, nhân văn, giàu bản sắc và phù hợp với mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

5. Kết luận

Từ góc nhìn kinh tế chính trị, giải phóng nguồn lực văn hóa cho phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam hiện nay vừa là quá trình khai thác các giá trị văn hóa sẵn có, vừa là quá trình tổ chức, bảo vệ, phân bổ và chuyển hóa nguồn lực ấy thành giá trị phát triển bền vững. Nguồn lực văn hóa chỉ có thể trở thành động lực tăng trưởng, sức mạnh mềm và lợi thế cạnh tranh quốc gia khi được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với nhân lực sáng tạo chất lượng cao và thể chế phát triển phù hợp. Vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới nhận thức về văn hóa như một nguồn lực đặc biệt; hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực; phát triển nhân lực công nghiệp văn hóa  chuyên nghiệp; xây dựng hệ sinh thái liên kết Nhà nước – thị trường – cộng đồng; đồng thời, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển công nghiệp văn hóa.

Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh (2026). Chương trình hành động số 18-CTrHĐ/TU về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
2. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp (2026). Chương trình hành động số 26-CTr/TU về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
3. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
5. Hesmondhalgh, D., & Pratt, A. C. (2005). Cultural industries and cultural policy. International Journal of Cultural Policy.
6. Nguyễn Phú Trọng (2021). Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, ngày 24/11/2021.
7. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
8. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2026). Kế hoạch số 142/KH-UBND ngày 30/4/2026 về hội nhập quốc tế về văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026 – 2030.
9. Valiati, L. (2025). The political economy of the creative and cultural industries: Stitching perspectives for research, policy and practice. London/New York: Routledge.