Institutional assessment Index for management and water Use in hydraulic engineering work systems serving water security in Viet Nam
PGS.TS. Lê Văn Chính
Trường Đại học Thủy lợi, Hà Nội
TS. Vũ Ngọc Thanh
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: vungocthanh@hcma.vn
TS. Nguyễn Thị Phương Thảo
Trường Đại học Thủy lợi, Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – An ninh nguồn nước phụ thuộc vào cả hạ tầng thủy lợi và năng lực thể chế vận hành hạ tầng đó. Bài viết làm rõ tính cấp thiết, luận giải cơ sở khoa học trên nền lý thuyết thể chế của D.C.North và E.Ostrom, khung kinh tế học thể chế ngành nước của R.M.Saleth và A.Dinar, kế thừa khung quản trị nước của OECD cùng khung An ninh nguồn nước của Ngân hàng Phát triển châu Á; cơ sở thực tiễn từ quốc tế cùng thực tiễn điển hình tại Việt Nam; cơ sở pháp lý của việc xây dựng bộ chỉ số đánh giá thể chế quản lý, sử dụng nước cho hệ thống công trình thủy lợi phục vụ an ninh nguồn nước ở cả hai lĩnh vực thiết kế và thực thi thể chế.
Từ khóa: Chỉ số thể chế; thể chế quản trị nước; an ninh nguồn nước; quản lý nước tổng hợp; đánh giá đa tiêu chí.
Abstract: Water security depends on both water infrastructure and the institutional capacity for its operation. This article clarifies the urgency of the issue and elucidates the scientific basis—drawing upon the institutional theories of D.C.North and E.Ostrom, the water sector institutional economics framework of R.M.Saleth and A.Dinar, and the water governance and water security frameworks of the OECD and the Asian Development Bank. It also examines international and Vietnamese case studies, as well as the legal basis for developing a set of indicators to assess the institutions governing the management and use of water infrastructure systems in support of water security, covering two areas of design and implementation of such institutions.
Keywords: Water institution index; water governance institutions; water security; Iintegrated water management; multi-criteria assessment.
1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế nhanh cùng biến đổi khí hậu đặt hệ thống công trình thuỷ lợi trước ba áp lực mà Ngân hàng Thế giới khái quát là “quá ít, quá nhiều và quá bẩn” (World Bank, 2019). Hạ tầng đã được đầu tư lớn, song hiệu quả khai thác phụ thuộc vào năng lực thể chế – yếu tố chủ yếu được đánh giá định tính. Bài viết trả lời bốn câu hỏi: vì sao lượng hóa năng lực thể chế là cấp thiết; khung lý thuyết nào bảo đảm tính khoa học; thực tiễn đặt ra yêu cầu gì; hành lang pháp lý cho phép triển khai đến đâu.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Phương pháp nghiên cứu
Về thiết kế, đây là nghiên cứu định tính dạng xây dựng khung phân tích, không kiểm định giả thuyết định lượng. Đơn vị phân tích là tổ chức quản lý, khai thác hệ thống công trình thuỷ lợi – cấp có trách nhiệm vận hành khai thác được quy định cụ thể nhưng năng lực chưa được đo.
Về dữ liệu, nghiên cứu dùng ba nguồn: 11 văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chỉ đạo giai đoạn 2017 – 2026, chọn theo tiêu chí trực tiếp điều chỉnh nghĩa vụ của tổ chức khai thác hoặc xác lập nghĩa vụ định lượng chuyển được thành chỉ báo; bốn khung chỉ số quốc tế, chọn theo tiêu chí đã áp dụng đa quốc gia, có cấu trúc phân tầng và đo trực tiếp thuộc tính thể chế; dữ liệu thứ cấp về hai hệ thống liên tỉnh.
Về phương pháp, nghiên cứu vận dụng ba phương pháp cụ thể: phân tích nội dung văn bản theo bốn nhóm thuộc tính – chủ thể chịu trách nhiệm, nghĩa vụ cụ thể, cơ chế bảo đảm thực hiện – cho phép neo mỗi chỉ báo vào một nghĩa vụ pháp lý; tổng quan có hệ thống rút gọn các khung chỉ số, loại ra khung chỉ đo trạng thái tài nguyên; và phân tích trường hợp đối chứng: sông Hồng, Bắc Hưng Hải cùng là hệ thống liên tỉnh chịu chung khung pháp lý nhưng biểu hiện hai loại thất bại khác nhau – thất bại điều phối vận hành nguồn nước và thất bại kiểm soát ngoại ứng chất lượng nước.
2.2. Sự cần thiết khách quan của việc xây dựng bộ chỉ số
Thứ nhất, yêu cầu thích ứng biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước.
Phần lớn hệ thống công trình thuỷ lợi ở Việt Nam được quy hoạch trên chuỗi số liệu thủy văn của các thập niên trước, với giả định về tính dừng của chế độ dòng chảy – giả định không còn phù hợp khi tần suất và cường độ của bão, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn đều thay đổi (Asian, 2025). Ở đồng bằng sông Cửu Long, xâm nhập mặn tiến sâu 60 – 90 km, số điểm sạt lở tăng từ 99 điểm năm 2014 lên 681 điểm năm 2024 (Hồ Thị Hà và cộng sự (18/12/2025) – vượt xa biên độ mà công trình được thiết kế để chịu đựng.
Báo cáo Triển vọng phát triển nước châu Á nhận định hạ tầng đơn thuần không tự động chuyển hóa thành kết quả kinh tế và sức khỏe; hiệu quả dài hạn phụ thuộc vào tính bao trùm, bảo trì và trạng thái hệ sinh thái (Asian, 2025). Nếu cùng mức đầu tư hạ tầng cho kết quả khác nhau tùy chất lượng vận hành, phần chênh lệch đó phải quy cho năng lực thể chế và cần đo lường tách biệt.
Thứ hai, suy thoái hệ thống dẫn dòng và ô nhiễm hệ thống công trình thủy lợi.
Đáy sông Hồng đoạn Sơn Tây – Hưng Yên đã hạ thấp 2 – 3 m so với đầu những năm 2000. Với cùng lưu lượng 1.497m³/s tại trạm thủy văn Hà Nội, mực nước năm 1993 đạt +4,01m, nhưng năm 2009 chỉ còn +2,21m; cống Liên Mạc có thời điểm chỉ đạt +0,43m, thấp hơn thiết kế 3,34m (Cục Quản lý tài nguyên nước, 2026). Khi cao trình lấy nước không được bảo đảm, lượng xả bổ sung từ hồ chứa thượng nguồn không chuyển thành lượng nước thực tế vào hệ thống.
Về chất lượng nước, khảo sát 13 hệ thống thủy lợi ở ba miền cho thấy ô nhiễm trong hệ thống thủy lợi đã là vấn đề phổ biến chứ không cá biệt (Vũ Thị Thanh Hương và cộng sự, 2018). Bắc Hưng Hải tiếp nhận khoảng 300.000 m³ nước thải mỗi ngày đêm, phần lớn chưa qua xử lý; năng suất lúa giảm 15 – 40% tại một số khu vực (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam). Cả hai trường hợp cho thấy nguyên nhân không ở thiếu hụt công trình mà ở cơ chế điều phối giữa các chủ thể có thẩm quyền khác nhau trên cùng một hệ thống.
Thứ ba, khoảng trống trong công cụ đánh giá thể chế quản lý, sử dụng nước.
Cần nói rõ rằng Việt Nam không thiếu công cụ đo quản trị nước. Chỉ tiêu 6.5.1 đo mức độ thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên thang 0 – 100 theo bốn cấu phần; báo cáo quốc gia năm 2023 đạt 56 điểm, trong đó môi trường thể chế 69 điểm nhưng công cụ quản lý và tài chính chỉ 50 điểm (UN-Water, 2023). Trong nước, bộ chỉ số đánh giá quản lý khai thác hệ thống công trình thuỷ lợi đã ban hành từ năm 2013 (Tổng cục Thủy lợi, 2013) và phương pháp màng bao dữ liệu đã được thử nghiệm (Đinh Văn Đạo và cộng sự, 2022).
Khoảng trống vì vậy nằm ở ba điểm sau:
(1) Cấp áp dụng. Chỉ tiêu 6.5.1 đo cấp quốc gia; khung của OECD và Ngân hàng Phát triển châu Á đo cấp quốc gia hoặc lưu vực. Trong khi đó, chủ thể chịu trách nhiệm trực tiếp là doanh nghiệp khai thác, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã và tổ chức thủy lợi cơ sở. Điểm số quốc gia 56 không cho biết đơn vị nào vận hành tốt, đơn vị nào không.
(2) Đối tượng đo lường. Bộ chỉ số năm 2013 và chỉ tiêu ngành hiện hành đo đầu ra của công trình – kênh mương kiên cố hóa, diện tích tưới tiêu, công suất trạm bơm – chứ không đo năng lực tổ chức vận hành. Khi cùng một hệ thống cho kết quả khác nhau qua các năm, không có căn cứ tách phần biến động do thủy văn khỏi phần do quản trị.
(3) Liên kết với nghĩa vụ pháp lý. Luật Tài nguyên nước năm 2023 và Luật Thủy lợi năm 2017 đặt nhiều nghĩa vụ định lượng – dòng chảy tối thiểu, quy chuẩn chất lượng nước, công khai thông tin – nhưng chưa có công cụ tổng hợp thành thang đo thống nhất để so sánh mức tuân thủ giữa các đơn vị.
Ba khoảng trống này quy định ba đặc điểm bắt buộc của bộ chỉ số: lấy tổ chức khai thác làm đơn vị đánh giá, phân tầng theo cấp quản lý và neo chỉ báo vào nghĩa vụ pháp lý.
2.3. Cơ sở khoa học của bộ chỉ số
Một là, nền tảng lý thuyết.
D.C.North phân biệt thể chế – các luật lệ chính thức và phi chính thức – với tổ chức là chủ thể vận hành trong khuôn khổ luật lệ đó, đồng thời chỉ ra hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào chi phí thực thi chứ không chỉ nội dung quy định (North, D. C. 1990). Đây là cơ sở lý thuyết cho cặp phạm trù bài viết sử dụng: chất lượng thiết kế, ban hành và hiệu quả thực thi thể chế. Một quy định đúng nhưng chi phí thực thi vượt năng lực tổ chức sẽ thất bại không kém một quy định sai.
E.Ostrom, qua khảo sát nhiều hệ thống tưới tự quản, rút ra tám nguyên tắc thiết kế của thể chế quản lý tài nguyên chung bền vững, trong đó ranh giới rõ ràng, giám sát của chính người sử dụng và cơ chế giải quyết xung đột chi phí thấp liên quan trực tiếp đến tổ chức thủy lợi cơ sở (Ostrom, 1990). Đây là căn cứ để mức độ tham gia của người dùng nước trở thành nhóm tiêu chí độc lập.
Tiền lệ gần nhất về phương pháp là công trình của R.M.Saleth và A.Dinar: phân rã thể chế ngành nước thành ba cấu phần – luật nước, chính sách nước, bộ máy hành chính về nước – rồi lượng hóa quan hệ giữa chúng với hiệu năng ngành qua khảo sát chuyên gia ở 43 quốc gia (Saleth, R. M. and Dinar, 2004). Công trình chứng minh thể chế nước lượng hóa được, đồng thời cho thấy giới hạn của cách tiếp cận cấp quốc gia mà bài viết khắc phục bằng cách hạ đơn vị phân tích xuống cấp tổ chức khai thác.
Hai là, bộ nguyên tắc quản trị nước của OECD.
OECD xác định khủng hoảng nước chủ yếu là khủng hoảng quản trị. Bộ nguyên tắc quản trị nước thông qua tháng 6/2015 gồm 12 nguyên tắc thuộc ba trụ cột: tính hiệu lực, tính hiệu quả, sự tin cậy và tham gia (OECD, 2015). Năm 2018, OECD công bố Khung chỉ số quản trị nước, cụ thể hóa thành 36 chỉ báo và hơn 100 câu hỏi kiểm định, vận hành như công cụ tự đánh giá đa bên theo thang đèn giao thông (OECD, 2018) – tức công cụ chẩn đoán, không phải công cụ xếp hạng thi đua.
Bảng 1. Mười hai nguyên tắc quản trị nước của OECD và hướng vận dụng trong quản lý công trình thủy lợi ở Việt Nam
| Trụ cột | Nguyên tắc cốt lõi (OECD) | Hướng vận dụng trong điều kiện Việt Nam |
| Tính hiệu lực | – Phân định rõ vai trò, trách nhiệm – Quản lý theo quy mô lưu vực phù hợp – Tính mạch lạc của chính sách – Năng lực thực thi | – Xác lập lại ranh giới trách nhiệm giữa cấp bộ, tỉnh và xã. – Đo hoạt động thực chất của tổ chức lưu vực sông. |
| Tính hiệu quả | – Dữ liệu mở, minh bạch, dễ tiếp cận – Tài chính bền vững và thu hồi chi phí – Khung pháp lý vững chắc – Thúc đẩy đổi mới sáng tạo | – Đo mức độ bù đắp chi phí vận hành, bảo dưỡng. – Đo tỷ lệ diện tích có thiết bị đo đếm, tỷ lệ dữ liệu quan trắc liên thông. |
| Sự tin cậy và tham gia | – Liêm chính và minh bạch – Tương tác với các bên liên quan – Quản lý các đánh đổi giữa người dùng nước và giữa thế hệ – Giám sát và đánh giá thường xuyên | – Đo mức độ hài lòng, tỷ lệ kiến nghị giải quyết đúng hạn. – Đánh giá cơ chế công khai thông tin vận hành. |
Ba là, khung an ninh nguồn nước AWDO của Ngân hàng Phát triển châu Á.
Nếu khung OECD mô tả cấu trúc và quá trình quản trị, thì Báo cáo Triển vọng phát triển nước châu Á cung cấp khung đo kết quả, đánh giá an ninh nguồn nướcnăm chiều: nước sinh hoạt nông thôn, nước kinh tế, nước đô thị, nước môi trường và an ninh trước rủi ro thiên tai. Báo cáo ghi nhận khoảng 2,7 tỷ người đã thoát khỏi tình trạng mất an ninh nước nghiêm trọng trong 12 năm qua, song cảnh báo thành quả này chịu rủi ro từ suy thoái hệ sinh thái và thiếu hụt tài chính (Asian, 2025).
Ở cấp hệ thống công trình, bộ hướng dẫn định chuẩn hiệu năng ngành tưới tiêu của FAO đề xuất bốn nhóm chỉ số: hiệu suất cung cấp dịch vụ, hiệu suất tài chính, hiệu suất sản xuất và hiệu suất môi trường (Malano, H. và Burton, M. 2001) – khung có cấp áp dụng gần nhất với đơn vị phân tích của bài viết. Lồng ghép cả ba khung đặt ra một ràng buộc thiết kế: nhóm chỉ tiêu an ninh nước kinh tế không tách rời nhóm an ninh nước môi trường. Từ đó, suy ra quy tắc xếp loại: đơn vị đạt hiệu suất tưới cao nhưng làm suy giảm dòng chảy môi trường không được xếp vào nhóm quản trị tốt.
2.4. Cơ sở thực tiễn: yêu cầu khách quan đối với việc đánh giá thể chế
Chất lượng thể chế được quyết định ở cả khâu thiết kế, ban hành lẫn khâu thực thi; khoảng cách giữa hai khâu là nơi hình thành điểm nghẽn thể chế.
Thứ nhất, yêu cầu từ phương diện thiết kế, ban hành thể chế.
Quy định được ban hành mà chưa kèm điều kiện đo lường. Luật Thủy lợi năm 2017 (Quốc hội, 2017) và Nghị định số 96/2018/NĐ-CP (Chính phủ, 2018) xác lập nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí đối với giá dịch vụ thủy lợi. Song phân tích thực thi cho thấy nguyên tắc bù đắp chi phí khó vận hành khi thiếu hệ thống đo đếm và phương pháp định giá chưa gắn với khối lượng dịch vụ thực tế (Nguyễn Trung Dũng, 2017). Một cơ chế giá dựa trên khối lượng, ban hành khi không đo được khối lượng, không vận hành như thiết kế.
Phân cấp được điều chỉnh nhanh trong khi tiêu chí đánh giá năng lực của chủ thể nhận phân cấp chưa được xây dựng. Thông tư số 20/2025/TT-BNNMT (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025a) và Công văn số 9644/BNNMT-TL (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025b) chuyển giao một phần công trình cho cấp xã và tổ chức thủy lợi cơ sở, trong khi khảo sát cho thấy phần lớn tổ chức này còn thiếu tính tự nguyện của người dùng nước và kinh phí ổn định (Đoàn Tuấn và Trần Việt Dũng, 2020). Thiếu công cụ đo năng lực tiếp nhận, phân cấp có thể chuyển giao trách nhiệm nhanh hơn tốc độ hình thành năng lực.
Chưa có quy định về nghĩa vụ tự đánh giá và công bố kết quả theo thang đo thống nhất.
Thứ hai, yêu cầu từ phương diện thực thi thể chế.
Ở khâu thực thi, khoảng cách giữa quy định và kết quả bộc lộ rõ nhất trên hệ thống liên tỉnh, nơi tài nguyên nước vận hành theo lưu vực còn thẩm quyền phân định theo địa giới hành chính – nguồn gốc của ngoại ứng tiêu cực xuyên ranh giới: chi phí ô nhiễm chuyển cho hạ lưu, lợi ích thuộc về thượng lưu.
Ví như trên sông Hồng, vận hành chuỗi hồ chứa thượng nguồn làm thay đổi chế độ bùn cát và dòng chảy, đặt ra bài toán phân chia lợi ích giữa phát điện, nông nghiệp và giao thông thủy (Cục Quản lý tài nguyên nước , 2026). Nghiên cứu về tổ chức quản lý khai thác công trình quy mô lớn chỉ ra bài toán này cần thiết kế lại cấu trúc tổ chức theo nguyên tắc phù hợp giữa phạm vi công trình và phạm vi thẩm quyền, chứ không giải được bằng mệnh lệnh hành chính (Lê Văn Chính, 2023).
Còn trên hệ thống Bắc Hưng Hải, cải cách hành chính năm 2025 đã thay đổi căn bản điều kiện thực thi. Các đơn vị hành chính mới vận hành từ ngày 01/7/2025 (Quốc hội, 2025), theo đó địa bàn hệ thống hiện thuộc Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Phòng; việc hợp nhất bộ quản lý ngành chấm dứt phân tách thẩm quyền ở trung ương giữa quản lý công trình và quản lý chất lượng nước. Thay đổi này loại bỏ phân mảnh ở trung ương nhưng chưa giải quyết phân mảnh theo địa giới ở địa phương, đồng thời đặt ra yêu cầu xác định lại ranh giới trách nhiệm giữa cấp bộ, tỉnh và xã. Chỉ thị số 02/CT-TTg đặt mốc định lượng về thu gom, xử lý nước thải cho lưu vực trọng điểm (Thủ tướng Chính phủ, 2025) – cơ sở chuyển cam kết thành chỉ báo giám sát.
Thứ ba, vai trò của việc đánh giá thể chế quản lý, sử dụng nước.
Việc đánh giá thể chế đảm nhận bốn vai trò. Một là, chẩn đoán: bộ chỉ số phân biệt trường hợp thiếu quy định với trường hợp có quy định nhưng thiếu điều kiện thực thi – hai loại vấn đề đòi hỏi hai loại giải pháp. Hai là, phân bổ nguồn lực: điểm số thể chế là căn cứ gắn tiến độ giải ngân dự án cải tạo với năng lực quản trị của đơn vị tiếp nhận. Ba là, tạo trách nhiệm giải trình: điểm số công khai làm cơ sở cho giám sát của cơ quan dân cử và phản hồi của người dùng nước, phù hợp nguyên tắc giám sát nội sinh (Ostrom, 1990). Bốn là tiệm cận chuẩn mực quốc tế, bổ khuyết cho chỉ tiêu 6.5.1 ở cấp dưới quốc gia.
Thứ tư, kinh nghiệm quốc tế và giá trị tham khảo cho Việt Nam
Ba trường hợp dưới đây tương đồng với Việt Nam ở ba phương diện: Trung Quốc về áp lực dân số và phát triển, Hà Lan về rủi ro ngập lụt, Ôx-trây-li-a về biến động thủy văn cực đoan (Trường Đại học Thủy lợi, 2025).
Trung Quốc dùng khung DPSIR (động lực – áp lực – trạng thái – tác động – ứng phó) để tổ chức hệ thống chỉ số; Đông Hoản xây dựng 23 chỉ số theo khung đó. Đáng chú ý, khi Dự án chuyển nước Nam – Bắc được đánh giá bằng khung ba trụ cột kinh tế – xã hội – môi trường, kết luận về tính bền vững tổng thể là “nghi vấn nghiêm trọng” dù các chỉ tiêu kỹ thuật đều đạt. Bài học thứ nhất: bộ chỉ số cần đặt trong khung nhân quả để chỉ ra nguyên nhân, không dừng ở mô tả trạng thái.
Hà Lan đạt 100% dân số dùng dịch vụ nước uống được quản lý an toàn và 100% nước thải sinh hoạt được xử lý; nước không doanh thu chỉ khoảng 6%. Hiệp hội các công ty nước uống công bố định kỳ chỉ tiêu vận hành, tài chính toàn ngành. Ở lĩnh vực đê điều, Hà Lan chuyển từ tiêu chuẩn thiết kế cố định sang chuẩn dựa trên rủi ro, giới hạn xác suất tử vong do lũ ở vùng sau đê không quá 1/100.000 mỗi năm vào 2050. Bài học thứ hai: hiệu lực của bộ chỉ số phụ thuộc vào chế độ đánh giá bắt buộc kèm công khai dữ liệu, không phụ thuộc độ tinh vi của phép đo.
Ở Ôx-trây-li-a, hệ thống chỉ số phát triển qua ba lớp: hiệu quả kỹ thuật, năng suất nước và tính bền vững quy mô lưu vực. Kinh nghiệm Ôx-trây-li-a chỉ ra hai giới hạn của phép đo: hiệu ứng hồi phục – cải thiện hiệu quả kỹ thuật tại mặt ruộng không tự động giảm tổng lượng nước tiêu thụ ở quy mô lưu vực nếu phần tiết kiệm được dùng mở rộng diện tích tưới; và chỉ báo lý hóa truyền thống không đủ phản ánh sức khỏe hệ sinh thái, cần bổ sung chỉ số sinh học, môi trường sống, dòng chảy. Bài học thứ ba: chỉ số phải phân lớp từ hiệu quả kỹ thuật đến năng suất và tính bền vững.
Việt Nam không thiếu tiền lệ: bộ chỉ số năm 2013 (Tổng cục Thủy lợi, 2013) và chương trình định chuẩn hiệu năng ngành tưới tiêu theo hướng dẫn của FAO (Malano, H. và Burton, M. 2001) đều đã được tiếp cận, nhưng không được duy trì thành chuỗi số liệu liên tục và không gắn với quyết định phân bổ nguồn lực. Bài học thứ tư, quan trọng nhất: khó khăn không nằm ở thiết kế và ban hành bộ chỉ số mà ở cơ chế duy trì – nghĩa vụ pháp lý về báo cáo định kỳ, hạ tầng dữ liệu bảo đảm tính liên tục và sự gắn kết giữa điểm số với quyết định quản lý.
Bảng 2. Một số kinh nghiệm quốc tế về khung đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng nước và giá trị tham khảo cho Việt Nam
| Quốc gia | Thách thức chính | Khung đánh giá và chỉ số đại diện | Giá trị tham khảo |
| Trung Quốc | Chưa đến 6% tài nguyên nước toàn cầu cho khoảng 1/5 dân số thế giới. | – Khung DPSIR; Đông Hoản áp dụng 23 chỉ số. – Đánh giá dự án lớn bằng khung ba trụ cột. | – Chỉ số phải nằm trong khung nhân quả để chỉ ra nguyên nhân, không chỉ mô tả trạng thái. |
| Hà Lan | Phần lớn lãnh thổ thấp hơn mực nước biển. | – Đánh giá hiệu suất bắt buộc, số liệu công bố định kỳ; nước không doanh thu khoảng 6%. – Đê điều theo chuẩn rủi ro: xác suất tử vong ≤ 1/100.000 mỗi năm vào 2050. | – Nghĩa vụ báo cáo bắt buộc và công khai dữ liệu tạo áp lực so sánh chuẩn. – Chuyển từ chuẩn thiết kế sang chuẩn rủi ro. |
| Úc | Hạn hán kéo dài; nông nghiệp chiếm khoảng 3/4 lượng nước sử dụng. | – Ba lớp chỉ số: hiệu quả kỹ thuật – năng suất – bền vững lưu vực. – Chất lượng nước đo bằng bốn nhóm. | – Phân lớp chỉ số để nhận diện hiệu ứng hồi phục; chỉ báo lý hóa cần bổ sung bằng chỉ báo sinh thái. |
Thứ năm, về cơ sở pháp lý.
Luật Tài nguyên nước năm 2023, chuyển trọng tâm từ cấp phép hành chính sang quản trị bằng công cụ kinh tế, dữ liệu và phục hồi nguồn nước (Quốc hội, 2023). Bốn nhóm quy định cung cấp căn cứ trực tiếp cho bộ chỉ số: nguyên tắc quản lý tổng hợp giữa nước mặt và nước dưới đất, giữa thượng lưu và hạ lưu (Điều 3) – cho nhóm phối hợp liên vùng; chính sách ưu đãi phục hồi nguồn nước cùng danh mục hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có làm sai lệch dữ liệu (Điều 4, Điều 8) – cho nhóm năng lực thực thi và minh bạch; dòng chảy tối thiểu và ngưỡng khai thác nước dưới đất (Điều 2) – cho nhóm an ninh sinh thái, với ngưỡng chất lượng nước mặt theo QCVN 08:2023/BTNMT (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2023); và Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia (Điều 7) – vừa là căn cứ cho nhóm chuyển đổi số, vừa là nguồn dữ liệu chính thức để tính toán. Kinh nghiệm giám sát tài nguyên nước bằng công nghệ số ở Cộng hòa Pháp cho thấy giá trị của hệ thống dữ liệu tập trung, cập nhật liên tục (Đinh Thị Ngọc Linh, 08/09/2026).
Luật Thủy lợi năm 2017 nghiêm cấm xả nước thải, chất thải vào phạm vi bảo vệ công trình và vận hành trái quy trình (Điều 8); xác định bản chất sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và thẩm quyền quyết định giá (Điều 2, Điều 35) (Quốc hội, 2017). Từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp và Thông tư số 20/2025/TT-BNNMT phân định lại thẩm quyền: Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý công trình đầu mối, kênh trục chính liên tỉnh; cấp tỉnh quản lý hoặc phân cấp công trình trên địa bàn; cấp xã và tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý công trình quy mô nhỏ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025). Phân định này tạo ba nhóm chủ thể chịu đánh giá với năng lực và điều kiện dữ liệu khác nhau, đòi hỏi bộ chỉ số có ba phiên bản dùng chung khung trụ cột nhưng khác tập chỉ báo và ngưỡng tham chiếu.
Về định hướng chiến lược, Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 của Bộ Chính trị xác định an ninh nông nghiệp là vấn đề an ninh quốc gia (Bộ Chính trị, 2022); Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục xếp an ninh nông nghiệp trong nhóm thành tố của an ninh quốc gia (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Thực hiện các chủ trương này đòi hỏi cơ chế giám sát dựa trên bằng chứng, bởi kết quả hoàn thiện thể chế chỉ bộc lộ qua hành vi của chủ thể thực thi ở cơ sở.
3. Kết luận
Bảo đảm an ninh nông nghiệp ở Việt Nam đang chuyển từ bài toán đầu tư hạ tầng sang bài toán năng lực thể chế. Hai trường hợp sông Hồng và Bắc Hưng Hải cho thấy tổn thất về hiệu quả dùng nước nhất là nước trong sản xuất nông nghiệp và chất lượng nước bắt nguồn chủ yếu từ cơ chế điều phối giữa các chủ thể cùng khai thác.
Đóng góp của bài viết là luận chứng sự cần thiết, cơ sở khoa học, thực tiễn và pháp lý của bộ chỉ số đánh giá thể chế quản lý, sử dụng nước cho hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ an ninh nông nghiệp cho hai lĩnh vực thiết kế và thực thi thể chế.
Tài liệu tham khảo:
* Bài viết trình bày một phần kết quả nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu, xây dựng bộ chỉ số và bộ công cụ đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng nước cho các hệ thống công trình thủy lợi phục vụ an ninh nguồn nước”, mã số KC.14/21-30, theo Quyết định số 1010/QĐ-BKHCN ngày 21/5/2024, do Trường Đại học Thủy lợi chủ trì.
Asian (2025). Water Development Outlook 2025: The Index of Water Security for Asia and the Pacific. Asian Development Bank, Manila, 2025, tr. 4–11.
Bộ Chính trị (2022). Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Thông tư số 20/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực thủy lợi.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Công văn số 9644/BNNMT-TL ngày 26/11/2025 về định hướng sắp xếp tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2023). QCVN 08:2023/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt.
Chính phủ (2018). Nghị định số 96/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 quy định chi tiết về giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi.
Cục Quản lý tài nguyên nước (2026). Quản lý bền vững lòng dẫn sông Hồng: giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn công trình thủy lợi.
Collective Action. Cambridge University Press, tr. 88–102.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đoàn Tuấn và Trần Việt Dũng (2020). Nghiên cứu đề xuất mô hình, cơ chế hoạt động của tổ chức thủy lợi cơ sở. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi, số 58/2020.
Đinh Văn Đạo, Nguyễn Tùng Phong và Trần Văn Đạt (2022). Cơ sở khoa học áp dụng phương pháp màng bao dữ liệu DEA trong đánh giá hiệu quả quản lý vận hành hệ thống tưới bằng động lực quy mô nhỏ. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi, số 71/2022, tr.1-10.
Đinh Thị Ngọc Linh (08/09/2026). Ứng dụng công nghệ số trong giám sát tài nguyên nước tại Cộng hòa Pháp và gợi mở cho Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/09/08/ung-dung-cong-nghe-so-trong-giam-sat-tai-nguyen-nuoc-tai-cong-hoa-phap-va-goi-mo-cho-viet-nam/
Hồ Thị Hà và Nguyễn Thị Bạch Tuyết (18/12/2025). Một số giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước vùng đồng bằng sông Cửu Long. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/18/mot-so-giai-phap-bao-dam-an-ninh-nguon-nuoc-vung-dong-bang-song-cuu-long/.
Lê Văn Chính (2023). Cơ sở khoa học cải thiện mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi quy mô lớn ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi, số 77/2023, tr. 64-74.
Malano, H. và Burton, M. Guidelines for Benchmarking Performance in the Irrigation and Drainage Sector. IPTRID Secretariat, FAO, Rome, 2001, tr. 11–24.
North, D. C. Institutions, Institutional Change and Economic Performance (1990). Cambridge University Press, tr. 3-6, 47-53.
Nguyễn Trung Dũng (2017). Định giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi trên cơ sở bù đắp chi phí – ý kiến đóng góp khi thực thi Luật Thủy lợi. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường, số 59/2017.
Ostrom (1990). E. Governing the Commons: The Evolution of Institutions for
OECD (2015). Principles on Water Governance. OECD Publishing. Paris, tr.4–7.
OECD (2018). Water Governance Indicator Framework. OECD Publishing, Paris, tr. 9-14.
Quốc hội (2017). Luật Thủy lợi năm 2017.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025.
Quốc hội (2023). Luật Tài nguyên nước năm 2023.
Saleth, R. M. and Dinar A. (2004). The Institutional Economics of Water: A Cross-Country Analysis of Institutions and Performance. Edward Elgar và World Bank, tr. 27–44.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 24/01/2025 về các giải pháp cấp bách nhằm tăng cường công tác kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường.
Tổng cục Thủy lợi (2013). Quyết định số 2212/QĐ-BNN-TCTL ngày 30/9/2013 ban hành Bộ chỉ số đánh giá quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi.
Trường Đại học Thủy lợi (2025). Báo cáo cơ sở thực tiễn về xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng nước cho các hệ thống công trình thủy lợi phục vụ an ninh nguồn nước, đề tài KC.14/21-30, 2025.
UN-Water (2023). Chỉ tiêu 6.5.1 – Mức độ thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước (thang 0-100). Báo cáo quốc gia của Việt Nam, 2023.
Vũ Thị Thanh Hương, Vũ Quốc Chính và Phạm Thị Phương Thảo (2018). Nghiên cứu hiện trạng và một số định hướng về quản lý môi trường nước trong hệ thống thủy lợi. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi, số 50, 2018, tr. 1-10.
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam. Đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm nước hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải đến sản xuất, đời sống dân cư. https://vawr.org.vn.
World Bank (2019). Vietnam: Toward a Safe, Clean, and Resilient Water System. Washington D.C., 2019, tr. 15-18.



