Innovating the Party’s leadership methods regarding foreign affairs in the context of expanding international cooperation
TS. Nguyễn Thị Phương
ThS. Thái Văn Nam
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, công tác đối ngoại giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình và nâng cao vị thế đất nước. Thực tiễn đó đòi hỏi Đảng phải không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo đối với công tác đối ngoại theo hướng khoa học, linh hoạt, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Bài viết làm rõ những yêu cầu mới đặt ra; đồng thời, đề xuất một số giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại trong thời kỳ mới.
Từ khóa: Đổi mới; phương thức lãnh đạo của Đảng; công tác đối ngoại; hợp tác quốc tế.
Abstract: Amidst deepening globalization and international integration, and a rapidly changing and complex global and regional landscape, foreign affairs play a pivotal role in safeguarding national interests, maintaining a peaceful environment, and enhancing the country’s international standing. This reality necessitates that the Party continuously innovate its leadership methods in foreign affairs, ensuring they are scientific, flexible, and effective, while aligning with new development requirements. The article analyzes these emerging demands and proposes several solutions to innovate the Party’s leadership methods in foreign affairs in the new era.
Keywords: Innovation; Party’s leadership method; external relations work; international cooperation.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và cục diện thế giới có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, công tác đối ngoại trở thành một trong những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế không chỉ tạo điều kiện thu hút nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội mà còn góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Trước yêu cầu mới, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại là nhiệm vụ cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, bảo đảm sự thống nhất trong hoạch định chủ trương và tổ chức thực hiện giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Đồng thời, quá trình đổi mới cần hướng tới phát huy tính chủ động, sáng tạo, nâng cao năng lực dự báo chiến lược, khả năng thích ứng với những biến động của môi trường quốc tế và xử lý hiệu quả các vấn đề đối ngoại phát sinh. Đây là cơ sở quan trọng để thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, góp phần xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
2. Thực trạng phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Phương thức lãnh đạo của Đảng được hiểu là “tổng hợp các phương pháp, cách thức và biện pháp mà Đảng sử dụng để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình với tư cách là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội” (Hà Đăng, 10/3/2020). Theo đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại là quá trình điều chỉnh, hoàn thiện cách thức, cơ chế và biện pháp lãnh đạo nhằm nâng cao hiệu quả hoạch định, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác đối ngoại, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc trong tình hình mới.
Những năm qua, cùng với quá trình đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại đã không ngừng được đổi mới, hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước.
Thứ nhất, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại ngày càng được đổi mới theo hướng khoa học, toàn diện và phù hợp với yêu cầu của tình hình mới. Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về đối ngoại, hội nhập quốc tế, xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Việc lãnh đạo được thực hiện thông qua định hướng chiến lược, tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết thực tiễn và kịp thời bổ sung, phát triển chủ trương phù hợp với bối cảnh quốc tế. Do đó, công tác đối ngoại luôn giữ vững định hướng chính trị, bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức và hành động giữa các cấp, các ngành.
Thứ hai, cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân ngày càng đồng bộ, hiệu quả. Dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, các lực lượng làm công tác đối ngoại đã tăng cường phối hợp trong nghiên cứu, tham mưu, triển khai các hoạt động đối ngoại và xử lý các vấn đề quốc tế. Sự kết hợp chặt chẽ giữa các trụ cột đối ngoại góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao Việt Nam, nâng cao hiệu quả bảo vệ độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia – dân tộc; đồng thời, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Thứ ba, hiệu quả lãnh đạo đối với công tác đối ngoại được thể hiện rõ qua việc nâng cao vị thế, uy tín và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã mở rộng quan hệ đối ngoại với hầu hết các quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu; đồng thời, đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách quốc tế.
Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và là một trong số ít nước có quan hệ ngoại giao với toàn bộ 193 thành viên Liên hợp quốc. Từ đầu năm 2025, Việt Nam nâng cấp quan hệ với gần 20 đối tác, đưa tổng số Đối tác Chiến lược Toàn diện lên 15, trong đó có 5/5 thành viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (UNSC) và Liên minh châu Âu (EU). Đồng thời, Việt Nam trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm và có năng lực triển khai các hoạt động bảo vệ, duy trì hòa bình, cứu nạn, cứu hộ… ở nhiều quốc gia gặp phải địch họa, thiên tai (An Khang, 10/6/2026).
Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, thực tế cho thấy, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế vẫn còn có một số hạn chế cần được khắc phục nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng về công tác đối ngoại ở một số cấp, ngành còn chậm và chưa đồng bộ. Mặc dù Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận và định hướng quan trọng về đối ngoại, song trong quá trình triển khai vẫn còn tình trạng chưa thực sự thống nhất giữa nhận thức và hành động. Một số cơ quan, đơn vị chưa chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện phù hợp với đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của mình. “Phối hợp giữa các cấp, các ngành trong triển khai hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, thường xuyên” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 317-318), làm giảm hiệu quả trong tổ chức thực hiện và chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị.
“Công tác nghiên cứu, tham mưu dự báo chiến lược có mặt còn chưa theo kịp với chuyển biến nhanh, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 338). Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và các thách thức an ninh phi truyền thống, yêu cầu đặt ra đối với công tác tham mưu ngày càng cao. Tuy nhiên, ở một số cơ quan, chất lượng nghiên cứu, phân tích và dự báo còn hạn chế; việc nắm bắt xu hướng mới chưa thật sự kịp thời; khả năng đề xuất các giải pháp mang tính đột phá còn chưa nhiều. Điều này ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và khả năng chủ động trong xử lý các vấn đề đối ngoại phát sinh.
3. Những yêu cầu mới đặt ra trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường, quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, hiệu quả và vị thế đối ngoại. Thực tiễn đó đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Một là, sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo của tình hình thế giới đòi hỏi phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại phải được đổi mới theo hướng chủ động, linh hoạt và nhạy bén hơn. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, những xung đột khu vực, các thách thức an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh mạng và chuyển đổi số đang tác động sâu sắc đến môi trường an ninh và phát triển của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh đó, nếu phương thức lãnh đạo chậm đổi mới sẽ khó theo kịp tốc độ vận động của tình hình quốc tế. Vì vậy, Đảng cần tiếp tục nâng cao năng lực dự báo chiến lược, kịp thời định hướng các hoạt động đối ngoại, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu trước mắt và lợi ích lâu dài của quốc gia – dân tộc.
Hai là, yêu cầu đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng đòi hỏi phải hoàn thiện phương thức lãnh đạo theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo của các chủ thể làm công tác đối ngoại. Hiện nay, Việt Nam tham gia ngày càng nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu; đồng thời, mở rộng quan hệ với nhiều đối tác chiến lược và đối tác toàn diện. Điều này làm cho nội dung, phạm vi và hình thức hoạt động đối ngoại ngày càng đa dạng, vượt ra ngoài khuôn khổ ngoại giao truyền thống. Đảng cần đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng tăng cường phân cấp hợp lý, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; đồng thời, khuyến khích sự chủ động của các bộ, ngành, địa phương trong triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế.
Ba là, yêu cầu xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại và chuyên nghiệp đòi hỏi phương thức lãnh đạo phải gắn với chuyển đổi số, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đối ngoại. Trong thời đại công nghệ số, ngoại giao số, truyền thông quốc tế và ngoại giao công chúng ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quảng bá hình ảnh đất nước, bảo vệ lợi ích quốc gia và xử lý các vấn đề phát sinh. Vì vậy, Đảng cần lãnh đạo việc ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu số vào quản lý, điều hành hoạt động đối ngoại; đồng thời, chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, ngoại ngữ tốt và tư duy hội nhập quốc tế.
Bốn là, yêu cầu bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng đồng thời phát huy hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị trong công tác đối ngoại đặt ra đòi hỏi tiếp tục đổi mới cơ chế lãnh đạo theo hướng rõ chức năng, rõ trách nhiệm và tăng cường kiểm tra, giám sát. Công tác đối ngoại hiện nay liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực, như: chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, khoa học, công nghệ và địa phương. Do đó, phương thức lãnh đạo cần bảo đảm sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, tránh chồng chéo, nâng cao trách nhiệm giải trình và khả năng xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng khoa học, dân chủ, linh hoạt và phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, lấy cơ sở lý luận và thực tiễn làm nền tảng cho việc hoạch định chủ trương, chính sách đối ngoại. Mọi quyết sách cần được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu, dự báo chiến lược, phân tích đầy đủ xu thế phát triển của tình hình quốc tế, lợi ích quốc gia – dân tộc và yêu cầu phát triển đất nước trong từng giai đoạn.
Bên cạnh đó, cần phát huy dân chủ trong quá trình lãnh đạo công tác đối ngoại. Việc xây dựng chủ trương, chính sách cần được thực hiện theo hướng mở rộng tham vấn ý kiến của các cơ quan chuyên môn, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, địa phương và các tổ chức có liên quan nhằm huy động trí tuệ tập thể, bảo đảm tính khách quan và toàn diện trong quá trình hoạch định chính sách. Đồng thời, tiếp tục thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phân định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ đối ngoại, tạo sự thống nhất trong lãnh đạo nhưng vẫn phát huy tính chủ động, sáng tạo của các chủ thể thực hiện.
Một yêu cầu quan trọng khác là tăng cường tính linh hoạt trong phương thức lãnh đạo. Trong điều kiện môi trường quốc tế biến động nhanh, Đảng cần tiếp tục đổi mới cơ chế chỉ đạo theo hướng chủ động, kịp thời, sát thực tiễn; nâng cao năng lực dự báo, khả năng xử lý các tình huống phát sinh và điều chỉnh chủ trương, biện pháp phù hợp với diễn biến mới. Sự linh hoạt không đồng nghĩa với thay đổi nguyên tắc mà là sự vận dụng sáng tạo đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Cùng với đó, cần hoàn thiện phương thức lãnh đạo theo hướng phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Đảng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; tăng cường sự liên kết giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác nhằm tạo sức mạnh tổng hợp trong triển khai đường lối đối ngoại.
Thứ hai, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược và tham mưu đối ngoại.
Tiếp tục đổi mới phương pháp nghiên cứu, dự báo theo hướng hiện đại, khoa học và dựa trên cơ sở dữ liệu lớn. Việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, AI, phân tích dữ liệu và các mô hình dự báo hiện đại sẽ giúp nâng cao chất lượng thu thập, xử lý và phân tích thông tin, từ đó, nhận diện sớm các xu hướng phát triển, những cơ hội và thách thức đối với lợi ích quốc gia – dân tộc. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung về đối ngoại, bảo đảm kết nối thông tin giữa các cơ quan nghiên cứu, các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để tạo nguồn dữ liệu đầy đủ, chính xác, phục vụ hiệu quả công tác tham mưu.
Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu, cơ quan tham mưu của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, các bộ, ngành, lực lượng vũ trang, các viện nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học. Cơ chế phối hợp cần được thực hiện thường xuyên, đồng bộ, bảo đảm chia sẻ thông tin, trao đổi học thuật và phản biện khoa học nhằm tạo ra những đánh giá khách quan, đa chiều, có cơ sở thực tiễn và giá trị dự báo cao. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc cung cấp thông tin, nhận diện sớm các biến động của tình hình khu vực và thế giới.
Ngoài ra, cần nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược theo hướng chủ động, kịp thời, chính xác và có tầm nhìn dài hạn. Công tác tham mưu không chỉ dừng lại ở việc phản ánh tình hình mà phải đề xuất được các phương án xử lý linh hoạt, phù hợp với từng kịch bản phát triển của môi trường quốc tế. Việc thường xuyên cập nhật, bổ sung các phương án ứng phó với các tình huống phức tạp sẽ góp phần giúp Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại một cách chủ động, giữ vững lợi ích quốc gia – dân tộc, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế trong thời kỳ mới.
Thứ ba, tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân theo phương châm thống nhất về mục tiêu, linh hoạt trong phương thức triển khai.
Trước hết, cần “triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại trên cả 3 trụ cột: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân thống nhất từ Trung ương đến địa phương” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 118) nhằm “tạo sức mạnh tổng hợp của đối ngoại, đưa đối ngoại trở thành một mặt trận thống nhất, vững mạnh” (Tô Lâm, 2026).
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan làm công tác đối ngoại theo hướng rõ chức năng, rõ trách nhiệm, rõ cơ chế chia sẻ thông tin và phối hợp hành động. Việc xây dựng các quy chế phối hợp liên ngành cần bảo đảm tính đồng bộ từ khâu nghiên cứu, tham mưu, dự báo tình hình đến tổ chức thực hiện và tổng kết thực tiễn. Thông tin giữa các cơ quan đối ngoại cần được cập nhật thường xuyên, kịp thời, bảo đảm sự thống nhất trong đánh giá tình hình, xác định ưu tiên đối ngoại và xử lý các vấn đề phát sinh.
Một nội dung quan trọng khác là phát huy tính linh hoạt của từng kênh đối ngoại trên cơ sở thống nhất về mục tiêu chiến lược. Đối ngoại Đảng cần tiếp tục củng cố quan hệ với các chính đảng, tổ chức chính trị trên thế giới nhằm tăng cường sự tin cậy chính trị và trao đổi kinh nghiệm xây dựng, phát triển đất nước. Ngoại giao Nhà nước cần chủ động thúc đẩy hợp tác song phương và đa phương trên các lĩnh vực, tận dụng hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế để phục vụ phát triển đất nước. Trong khi đó, đối ngoại nhân dân cần mở rộng giao lưu văn hóa, giáo dục, khoa học, hợp tác giữa các tổ chức xã hội và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần tăng cường sự hiểu biết, củng cố tình hữu nghị và tạo nền tảng xã hội vững chắc cho quan hệ đối ngoại của đất nước.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý, điều hành và chia sẻ dữ liệu đối ngoại, tạo điều kiện để ba trụ cột đối ngoại phối hợp nhanh chóng, hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Đảng trong thời kỳ mới.
Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, tư duy đổi mới và năng lực hội nhập quốc tế.
Cần chú trọng “xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại “vừa hồng, vừa chuyên”: “toàn diện” về bản lĩnh, phẩm chất và trí tuệ, “hiện đại” về tư duy, phương pháp làm việc, “chuyên nghiệp” về lề lối, tác phong” (Tô Lâm, 2026). Trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, cán bộ đối ngoại thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều luồng thông tin, quan điểm và lợi ích khác nhau. Do đó, nếu không có nền tảng chính trị vững chắc sẽ dễ dao động, thiếu bản lĩnh trong xử lý các tình huống phức tạp. Việc tăng cường giáo dục lý luận chính trị, bồi dưỡng nhận thức về tình hình quốc tế, nâng cao khả năng nhận diện và xử lý các vấn đề nhạy cảm cần được tiến hành thường xuyên, gắn với thực tiễn công tác.
Bên cạnh đó, cần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ toàn diện cho đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại. Cán bộ không chỉ cần nắm vững kiến thức về quan hệ quốc tế, luật pháp quốc tế, ngoại giao, kinh tế quốc tế mà còn phải hiểu biết sâu về chuyển đổi số, AI, kinh tế số, ngoại giao số và các xu hướng phát triển mới của thế giới. Đồng thời, chú trọng nâng cao trình độ ngoại ngữ, kỹ năng đàm phán, giao tiếp quốc tế, nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu và xử lý tình huống trong môi trường đa phương. Việc đào tạo cần được thực hiện theo hướng hiện đại, kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, giữa đào tạo trong nước với bồi dưỡng ở nước ngoài và học tập kinh nghiệm từ các tổ chức quốc tế.
Một yêu cầu quan trọng khác là phát triển tư duy đổi mới, sáng tạo và khả năng thích ứng nhanh trước những biến động của môi trường quốc tế. Cán bộ đối ngoại cần chủ động cập nhật tri thức mới, đổi mới phương pháp làm việc, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong quản lý, phân tích dữ liệu, dự báo và truyền thông đối ngoại. Đồng thời, cần hình thành phong cách làm việc chuyên nghiệp, chủ động, linh hoạt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy toàn cầu nhưng luôn gắn với lợi ích và điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Để thực hiện hiệu quả giải pháp này, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sử dụng và đánh giá cán bộ đối ngoại theo hướng công khai, minh bạch, dựa trên năng lực, phẩm chất và hiệu quả công tác. Đồng thời, xây dựng môi trường làm việc hiện đại, tạo điều kiện để cán bộ được rèn luyện qua thực tiễn, tham gia các diễn đàn quốc tế, tích lũy kinh nghiệm và phát huy năng lực sáng tạo. Có như vậy mới hình thành được đội ngũ cán bộ đối ngoại vừa “hồng” vừa “chuyên”, đủ năng lực tham mưu chiến lược và triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh tổng hợp của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát và tổng kết thực tiễn trong lãnh đạo công tác đối ngoại.
Cần thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong toàn bộ quy trình lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện công tác đối ngoại. Việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số thống nhất, đồng bộ về hoạt động đối ngoại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật, khai thác và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các tổ chức có liên quan. Đồng thời, cần ứng dụng AI, dữ liệu lớn (Big Data) và các nền tảng quản trị hiện đại trong công tác nghiên cứu, dự báo tình hình thế giới, phân tích chính sách đối ngoại của các quốc gia, từ đó, hỗ trợ quá trình hoạch định chủ trương, quyết sách một cách khoa học, kịp thời và chính xác hơn.
Bên cạnh đó, cần đổi mới toàn diện công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai các nghị quyết, chỉ thị và chủ trương của Đảng về đối ngoại theo hướng chủ động, thường xuyên, công khai, minh bạch và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số. Hệ thống kiểm tra, giám sát cần được số hóa nhằm theo dõi tiến độ thực hiện nhiệm vụ theo thời gian thực, kịp thời phát hiện những hạn chế, bất cập, nguy cơ phát sinh cũng như những biểu hiện thiếu thống nhất trong quá trình triển khai. Việc kết hợp giữa kiểm tra trực tiếp với giám sát thông qua nền tảng số sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục hành chính và tăng tính khách quan trong đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ đối ngoại.
5. Kết luận
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại trong bối cảnh mở rộng hợp tác quốc tế là yêu cầu khách quan, cấp thiết nhằm đáp ứng sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Thực tiễn cho thấy, chỉ khi phương thức lãnh đạo được đổi mới theo hướng khoa học, dân chủ, linh hoạt, hiện đại và bám sát tình hình quốc tế thì công tác đối ngoại mới phát huy đầy đủ vai trò là một trong những động lực quan trọng bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, thu hút nguồn lực phát triển và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo chiến lược, xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường phối hợp giữa các lực lượng đối ngoại và nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát sẽ tạo nền tảng vững chắc để thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa. Đây cũng là điều kiện quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế toàn diện của đất nước trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo:
1. An Khang. (10/6/2026). Dấu ấn nước Việt Nam trong kỷ nguyên mới. https://cand.vn/dau-an-nuoc-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi-post813150.html
2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Hà Đăng. (10/3/2020). Cái nhìn tổng quát về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. https://hvctcand.bocongan.gov.vn/cai-nhin-tong-quat-ve-doi-moi-phuong-thuc-lanh-dao-cua-dang-1061
4. Nguyễn Thế Anh (06/01/2026). Đổi mới tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại nhân dân từ năm 1986 đến nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/06/doi-moi-tu-duy-cua-dang-cong-san-viet-nam-ve-doi-ngoai-nhan-dan-tu-nam-1986-den-nay
5. Tô Lâm. (11/6/2026). Triển khai đường lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước, góp phần hiện thực hoá các mục tiêu chiến lược của đất nước. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/trien-khai-duong-loi-doi-ngoai-cua-dang-trong-giai-doan-moi-tuong-xung-voi-tam-voc-lich-su-van-hoa-va-vi-the-cua-dat-nuoc-gop-phan-hien-thuc-hoa-cac-m
6. Vũ Văn Ninh (19/9/2023). Một số giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/09/19/mot-so-giai-phap-doi-moi-phuong-thuc-lanh-dao-cua-dang



