Phát huy nội lực văn hóa thành sức mạnh nội sinh – động lực cốt lõi bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Leveraging cultural internal resources into endogenous strength – the core driving force for safeguarding the Party’s ideological foundation in the contemporary context

ThS. Nguyễn Thị Hồng
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng đang đối mặt với nguy cơ xâm lăng văn hóa. Bài viết làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và chính trị; khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành bản sắc văn hóa dân tộc. Bằng phương pháp phân tích, bài viết chỉ ra rằng, việc kiến tạo thế trận lòng dân” trên không gian số và thực hành đạo đức là cấp thiết. Phát huy nội lực văn hóa thành sức mạnh nội sinh chính là cơ chế phòng thủ vững chắc từ sớm, từ xa.

Từ khóa: Nội lực văn hóa; sức mạnh nội sinh; nền tảng tư tưởng; xâm lăng văn hóa; Đại hội XIV.

Abstract: As the nation enters a new era of national advancement, the task of safeguarding the ideological foundation is increasingly challenged by the peril of cultural invasion. This article elucidates the dialectical relationship between culture and politics, affirming that Marxism-Leninism and Ho Chi Minh Thought have fundamentally integrated into the national cultural identity. Employing analytical methods, the research demonstrates the imperative of establishing a posture of public consensus in cyberspace, coupled with rigorous ethical practice. Ultimately, leveraging internal cultural resources into endogenous strength serves as a robust, proactive, and early defense mechanism.

Keywords: Cultural internal resources; endogenous strength; ideological foundation; cultural invasion; The 14th national congress.

1. Đặt vấn đề

Sự vận động của cục diện địa chính trị toàn cầu và sự thâm nhập sâu rộng của không gian số đang làm thay đổi căn bản phương thức tác động đến nhận thức và tư tưởng của con người. Đối với Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đánh dấu một bước ngoặt mang tính lịch sử, tập trung cao độ ý chí và quyết tâm đưa đất nước tiến mạnh vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Trong bối cảnh đó, mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang phải đối mặt với nguy cơ “xâm lăng văn hóa” vô cùng tinh vi. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã chuyển dịch chiến lược từ chống phá chính trị trực diện sang việc triệt để lợi dụng các nền tảng truyền thông xuyên biên giới để gieo rắc lối sống thực dụng, bóp méo lịch sử, nhằm làm phai nhạt lý tưởng cách mạng và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong.

Trước những thách thức hiện nay, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng không thể chỉ hoàn toàn dựa vào hệ thống phòng thủ kỹ thuật hay các biện pháp hành chính đơn thuần, mà cốt lõi phải được thiết lập từ sức đề kháng của văn hóa dân tộc. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, tư duy lý luận của Đảng tại Đại hội XIV đã khẳng định một sự định vị chiến lược: “phát triển văn hoá, con người là nền tảng”, kết hợp chặt chẽ, đồng bộ với nhiệm vụ xây dựng Đảng là then chốt (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.26). Sự dịch chuyển nhận thức này tiếp tục được làm rõ khi văn hóa được xác định “vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực và sức mạnh nội sinh của phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.204).

Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng chính là quá trình biến các giá trị khoa học, cách mạng của học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành một bộ phận hữu cơ của văn hóa dân tộc, bởi lẽ: “Việt Nam có thể và cần làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành bản sắc văn hóa chính trị trong quá trình phát triển” (Vũ Hoàng Công, 2020, tr.6).

Xuất phát từ cơ sở lý luận và đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, bài viết phân tích và giải mã cơ chế biện chứng của quá trình chuyển hóa “nội lực văn hóa” thành “sức mạnh nội sinh”. Qua đó, nhằm chứng minh và khẳng định trong kỷ nguyên phát triển mới, việc khơi dậy và phát huy hệ giá trị văn hóa quốc gia chính là một cơ chế phòng thủ phi đối xứng, là động lực cốt lõi và mang tính bền vững nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ sớm, từ xa.

2. Cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và nền tảng tư tưởng

2.1. Hệ thống khái niệm: “nội lực văn hóa”, “sức mạnh nội sinh” và “an ninh văn hóa tư tưởng”

Để thiết lập cơ sở phương pháp luận vững chắc cho nghiên cứu, các biến số cốt lõi cần được thao tác hóa. “Nội lực văn hóa” là tổng thể các giá trị tinh thần, tri thức, niềm tin, đạo đức và truyền thống lịch sử được dân tộc Việt Nam kết tinh, lưu truyền và tái tạo liên tục trong quá trình dựng nước và giữ nước. Khi nội lực này được kích hoạt, chuyển hóa thành động lực thúc đẩy hành động thực tiễn của toàn xã hội, nó trở thành “sức mạnh nội sinh” – nguồn năng lượng tự thân của quốc gia. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đúc kết định hướng mang tính hệ quy chiếu về vấn đề này: “Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” (Nguyễn Phú Trọng, 2022, tr.157).

Từ nền tảng đó, khái niệm “an ninh văn hóa tư tưởng” được định nghĩa là trạng thái an toàn, bất khả xâm phạm của hệ giá trị cốt lõi và nền tảng lý luận của Đảng. Trạng thái này không mang tính tĩnh tại mà là khả năng chủ động tự bảo vệ, chống lại sự “xâm lăng văn hóa”, sự thẩm thấu của các hệ tư tưởng tư sản, bảo đảm sự kiên định về định hướng xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên số.

2.2. Bản chất văn hóa của nền tảng tư tưởng – sự hòa quyện thành bản sắc văn hóa chính trị

Dưới góc nhìn nhận thức luận, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là một hệ thống giáo điều tư biện áp đặt từ bên ngoài, mà là một thực thể sống động mang đậm bản chất văn hóa. Quá trình tiếp biến chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam chính là quá trình hội tụ, giao thoa một cách biện chứng với dòng chảy văn hóa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn và tinh thần đại đoàn kết của dân tộc, được kết tinh rực rỡ trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Khi được vận dụng vào thực tiễn cách mạng, hệ thống lý luận khoa học này đã vượt ra khỏi khuôn khổ của triết học chính trị thuần túy để bám rễ sâu vào đời sống tinh thần của nhân dân, trở thành một bộ phận cấu thành bản sắc văn hóa chính trị của dân tộc. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng về bản chất sâu xa chính là bảo vệ chiều sâu văn hóa của Đảng, bảo vệ những giá trị cốt lõi làm nên bản ngã của dân tộc Việt Nam.

2.3. Cơ chế phòng thủ phi đối xứng – khả năng “tự soi, tự sửa” và đề kháng văn hóa

Trong bối cảnh bùng nổ của truyền thông xã hội và trí tuệ nhân tạo, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng sức mạnh công nghệ xuyên biên giới nhằm tiến hành các chiến dịch thao túng tâm lý. Trước các cuộc tấn công này, việc chỉ sử dụng công cụ ngăn chặn kỹ thuật hay hành chính là sự đối phó thụ động. Thay vào đó, nội lực văn hóa thiết lập một “cơ chế phòng thủ phi đối xứng” – sử dụng sức mạnh tinh thần, đạo đức và sự tự giác để trung hòa, bẻ gãy sự xâm thực của các luồng thông tin lai căng, độc hại.

Cơ chế này hoạt động dựa trên nguyên lý tạo ra “hệ miễn dịch xã hội”. Khi văn hóa được nội tâm hóa thành đạo đức cách mạng, nó cung cấp cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân một màng lọc nhận thức sắc bén. Trong tổ chức bộ máy, sức mạnh nội sinh từ văn hóa được thể chế hóa thành văn hóa liêm chính, đòi hỏi tính tự giác cao độ: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa; giữ mình trước cám dỗ; phải biết xấu hổ khi dân còn khó khăn, nghèo đói; phải coi danh dự là điều thiêng liêng, cao quý” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.35). Đây chính là vũ khí nội sinh sắc bén nhất để vô hiệu hóa mọi mưu đồ “diễn biến hòa bình”, phòng, chống hiệu quả sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong tổ chức.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Nhận diện mưu đồ “xâm lăng văn hóa” nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kỷ nguyên kỹ thuật số, không gian mạng đã trở thành “miền chiến sự thứ năm”, nơi các thế lực thù địch chuyển hướng chiến lược sang mưu đồ “xâm lăng văn hóa” một cách tinh vi và thâm độc. Thông qua các sản phẩm công nghiệp văn hóa, truyền thông số và mạng xã hội, chúng liên tục tung ra các chiến dịch thao túng tâm lý nhằm gieo rắc lối sống thực dụng, cổ xúy chủ nghĩa cá nhân và tư tưởng tiêu dùng hoang phí (Vũ Hoàng Công, 2020, tr.147). Sự xâm thực này có mục tiêu sâu xa là làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, triệt tiêu động lực cống hiến của cán bộ, đảng viên, từ đó phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng từ gốc rễ.

Đặc biệt, một thủ đoạn mang tính ngụy biện cao độ là việc các thế lực cơ hội chính trị mượn danh “tự do học thuật”, “tự do sáng tác” để tiến hành xét lại lịch sử. Dưới vỏ bọc nghiên cứu khách quan, chúng xuất bản các ấn phẩm bóp méo sự thật, “hạ bệ thần tượng”, bôi đen những trang sử hào hùng và sự hy sinh của các thế hệ đi trước. Hậu quả của mưu đồ này là tạo ra sự “đứt gãy thế hệ”, làm cho giới trẻ hoài nghi, mất phương hướng và suy giảm niềm tin vào chế độ. Nhận diện sâu sắc và trực diện nguy cơ này, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu cấp bách phải: “tăng cường sức đề kháng của văn hoá, chống lại mọi sự ‘xâm lăng’ về văn hoá; bài trừ các hình thức văn hoá lai căng, hủ lậu… đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử, văn hoá và truyền thống cách mạng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.100).  

3.2. Vai trò động lực cốt lõi của nội lực văn hóa trong bảo vệ nền tảng tư tưởng

Trong cuộc chiến bảo vệ tư tưởng, nội lực văn hóa không chỉ là bệ đỡ tinh thần thụ động mà đã vươn lên thành động lực cốt lõi, kiến tạo sức mạnh phòng thủ vững chắc từ bên trong. Cơ chế vận hành của động lực này được thể hiện rõ qua hai phương diện biện chứng:

Về nhận thức: sức mạnh nội sinh được kích hoạt thông qua việc đánh thức lòng tự hào dân tộc và tinh thần độc lập, tự chủ. Định hướng chiến lược của Đảng tại Đại hội XIV khẳng định và yêu cầu: “khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.26). Sự tự tôn văn hóa này chuyển hóa khát vọng phát triển thành hành động thực tiễn, tạo ra một “hệ miễn dịch” chủ động giúp quần chúng nhân dân tự động nhận diện và đề kháng trước các luồng tư tưởng độc hại.

Về thể chế: sức mạnh văn hóa được thể chế hóa thành văn hóa liêm chính và văn hóa công vụ trong hệ thống chính trị. Điểm nhấn mang tính đột phá là Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị, trong đó xác lập yêu cầu “thực hành đạo đức suốt đời”. Trong môi trường không gian số và quyền lực phức tạp, đạo đức cách mạng hoạt động như một “màng lọc” (bộ lọc) thể chế nghiêm ngặt nhằm bảo đảm tính nhân văn và sự trong sạch. Việc đề cao danh dự cá nhân kết hợp với nguyên tắc “tự soi, tự sửa” chính là vũ khí tiêu diệt tận gốc mầm mống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ Đảng vững mạnh từ bên trong.

3.3. Phân tích khoảng trống và điểm nghẽn

Bên cạnh những thành tựu mang tính lịch sử, việc đánh giá cơ sở thực tiễn cũng chỉ ra những khoảng trống và điểm nghẽn cấu trúc cần được tháo gỡ để phát huy trọn vẹn nội lực văn hóa.

Thứ nhất, sự bất cập trong nhận thức và phân bổ nguồn lực. Nhìn nhận một cách khách quan, Văn kiện Đại hội XIV đã thẳng thắn chỉ rõ: “Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hoá trong sự nghiệp phát triển đất nước của một số cấp uỷ đảng còn hạn chế, chưa tương xứng với vai trò của văn hoá trong điều kiện mới; chưa đặt văn hoá ngang hàng với kinh tế, xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.124).Chính sự bất cập trong nhận thức này dẫn đến việc đầu tư các thiết chế văn hóa chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo ra “độ trễ văn hóa” – mảnh đất màu mỡ cho các giá trị thực dụng nảy mầm.

Thứ hai, sự lúng túng trong việc thiết lập hệ sinh thái văn hóa trên không gian số. Dù internet là mặt trận tư tưởng khốc liệt nhất, năng lực số hóa các giá trị truyền thống và kiến tạo một hệ sinh thái văn hóa số vẫn còn nhiều lúng túng. Chúng ta chưa có nhiều sản phẩm công nghiệp văn hóa mang thông điệp chính trị đủ sức cạnh tranh, dẫn đến những “khoảng trống thông tin”. Điều này vô hình trung tạo kẽ hở cho các thuật toán truyền thông xuyên biên giới thao túng nhận thức, khiến công tác đấu tranh, phản bác có lúc rơi vào thế phòng ngự thụ động. Nhận diện và lấp đầy các điểm nghẽn này chính là chìa khóa để kiến tạo trận địa tư tưởng vững chắc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

4. Một số giải pháp

Để khơi thông các điểm nghẽn, chuyển hóa trọn vẹn nội lực văn hóa thành sức mạnh nội sinh và thiết lập vành đai bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cần triển khai đồng bộ hệ thống các giải pháp chiến lược sau:

Thứ nhất, giải pháp về nhận thức và thể chế.

Thể chế hóa định hướng phát triển văn hóa và tiêu chuẩn hóa “sức đề kháng” của cán bộ – khởi điểm của mọi sự chuyển biến chiến lược là nhận thức. Cần khẩn trương thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo cốt lõi của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, trong đó xác định rõ “phát triển văn hoá, con người là nền tảng” cùng với nhiệm vụ “xây dựng Đảng là then chốt” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.26).  

Đầu tư cho văn hóa phải được coi là đầu tư cho an ninh tư tưởng, bảo đảm tương xứng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Về mặt thể chế, điểm đột phá là cần đưa tiêu chí “sức đề kháng văn hóa”, tức là năng lực nhận diện, miễn nhiễm và đấu tranh trước các trào lưu tư tưởng độc hại, lai căng trở thành một chỉ số đo lường hiệu suất (KPI) bắt buộc trong công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá và quy hoạch cán bộ cấp chiến lược.

Thứ hai, giải pháp về chuyển đổi số và không gian mạng.

Kiến tạo “văn hóa số” và làm chủ không gian truyền thông trong bối cảnh không gian mạng đã trở thành mặt trận tư tưởng khốc liệt nhất. Giải pháp cấp bách là phải xây dựng “văn hóa số” và nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các cơ quan quản lý và lực lượng tham mưu cần chủ động ứng dụng công nghệ lõi của cách mạng công nghiệp 4.0, như: trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để nắm bắt, dự báo xu hướng dư luận và tự động hóa việc bóc gỡ các luồng thông tin chống phá. Quan trọng hơn, cần sử dụng chính nền tảng công nghệ này để lan tỏa mạnh mẽ hệ giá trị quốc gia, chuẩn mực con người Việt Nam, chủ động lấp đầy các “khoảng trống thông tin” trên internet, tuyệt đối không để các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng để thao túng tâm lý công chúng. Hệ thống báo chí, truyền thông và thông tin đối ngoại trong kỷ nguyên số phải chủ động chiếm lĩnh không gian mạng, sử dụng công nghệ để lan tỏa hệ giá trị quốc gia và chuẩn mực con người Việt Nam. Việc lấp đầy khoảng trống thông tin được xác định là giải pháp then chốt để phòng chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn các chiến dịch thao túng tâm lý và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên internet.

Thứ ba, giải pháp về thực tiễn và hành động.

Gắn kết môi trường văn hóa với thực hành đạo đức theo Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị và kiến tạo “thế trận lòng dân” – sức mạnh bảo vệ nền tảng tư tưởng phải được định hình từ cơ sở. Cần gắn kết chặt chẽ giữa việc xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh với việc thực thi nghiêm ngặt Quy định số 144-QĐ/TW. Việc “thực hành đạo đức suốt đời” phải trở thành nhu cầu tự thân của mỗi cá nhân, biến các chuẩn mực “cần, kiệm, liêm, chính” thành kháng thể nội sinh để loại trừ triệt để sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trên nền tảng sự liêm chính và gương mẫu của đội ngũ cán bộ, Đảng sẽ củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng, từ đó kiến tạo một “thế trận lòng dân” vững chắc. Khi sự đồng thuận xã hội được thiết lập dựa trên lòng tin vào đường lối của Đảng, mọi âm mưu chia rẽ, phá hoại từ bên ngoài đều sẽ bị vô hiệu hóa.

Thứ tư, giải pháp về đấu tranh trực diện.

 Nâng cao năng lực phản bác và đa dạng hóa sản phẩm công nghiệp văn hóa Song song với việc xây dựng thành lũy phòng thủ từ bên trong, cần chuyển sang trạng thái đấu tranh chủ động, trực diện. Cần liên tục đào tạo, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực lập luận khoa học cho lực lượng nòng cốt nhằm đấu tranh, phản bác kịp thời, sắc bén các quan điểm sai trái, thù địch. Mặt khác, một phương thức đấu tranh mềm dẻo nhưng mang sức mạnh lan tỏa sâu rộng là nguyên tắc “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Cần ban hành các cơ chế, chính sách đột phá nhằm phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp văn hóa, tạo ra các sản phẩm truyền thông, văn học nghệ thuật, điện ảnh mang thông điệp chính trị đúng đắn, hiện đại và hấp dẫn giới trẻ. Đây chính là vũ khí sắc bén nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng và giành thế chủ động trên mặt trận văn hóa, tư tưởng hiện nay.

5. Kết luận

Sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh bùng nổ truyền thông số và hội nhập quốc tế không chỉ đơn thuần là một cuộc đấu tranh trên mặt trận lý luận hay các biện pháp hành chính, công nghệ, mà cốt lõi phải bắt nguồn từ cội rễ văn hóa. Khi đất nước đang tự tin tiến bước với khát vọng “vươn mình trong kỷ nguyên mới”, việc khơi dậy và phát huy nội lực văn hóa thành sức mạnh nội sinh chính là phương thức phòng thủ phi đối xứng căn bản, sâu xa và mang tính bền vững nhất. Sức mạnh tinh thần đó đã tạo ra một màng lọc đạo đức, một hệ miễn dịch tự nhiên giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân chủ động nhận diện, tự giác đề kháng trước mọi âm mưu “xâm lăng văn hóa”, gieo rắc lối sống thực dụng và sự chống phá tinh vi của các thế lực thù địch.

Thực tiễn này một lần nữa minh chứng sinh động cho sự đúng đắn và tầm nhìn chiến lược vượt thời đại của Đảng ta trước thềm Đại hội XIV. Việc Đảng tiếp tục định vị văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh mà còn là “động lực quan trọng, hệ điều tiết để phát triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.252) đã giải quyết triệt để bài toán biện chứng giữa giữ gìn bản sắc và hội nhập vươn tầm. Chỉ khi các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp hòa quyện sâu sắc với nền tảng lý luận của Đảng, thẩm thấu vào đạo đức công vụ và đời sống xã hội thì nền tảng tư tưởng mới thực sự bám rễ vững chắc vào thế trận lòng dân. Đó chính là cội nguồn sức mạnh vô tận để bảo vệ thành quả cách mạng, kiến tạo sự đồng thuận xã hội và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, phồn vinh, hạnh phúc.

Tài liệu tham khảo:
Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng. (2020). Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Bộ Chính trị. (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Bộ Chính trị. (2024). Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Vũ Hoàng Công (2020). Chân lý và sự thật. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.