Socialist ethics in the transitional period
ThS. Nguyễn Hoài Sơn và ThS. Trịnh Thị Phượng
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Email: sonhn1087@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong nhiều tác phẩm kinh điển, C. Mác và Ăng-ghen đã tiên đoán sự cáo chung của lịch sử sẽ xảy ra khi sự phát triển của xã hội đạt đến giai đoạn cao nhất của chủ nghĩa cộng sản. Trong hình thái đó, sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người. Lao động trong giai đoạn đó không chỉ là một phương tiện để sinh sống mà còn là một nhu cầu bậc nhất của đời sống. Nhận thức đầy đủ và đúng đắn về vấn đề này không chỉ phản biện lại những định đề, vốn được nhiều học giả phương Tây nhận định là điểm kết thúc của cuộc tiến hóa tư tưởng của loài người mà còn là nền tảng để tiếp tục kiên định xây dựng nền đạo đức trong và sau thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Từ khóa: Đạo đức; tự do; thời kỳ quá độ; xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Abstract: In many of their classic works, Karl Marx and Friedrich Engels predicted that the end of history would occur when the development of society reached the highest stage of communism. In that form of society, the free development of each individual is the condition for the free development of all. Labor in that stage is not merely a means of subsistence but also a primary necessity of life. A full and correct understanding of this issue not only helps refute the tenets of liberalism and the free-market economy which many Western scholars regard as the culmination of humanity’s intellectual evolution but also serves as the foundation for steadfastly continuing to build a moral framework during and after the transitional period toward socialism.
Keywords: Ethics; freedom; transitional period; communist society.
1. Đặt vấn đề
Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gotha, C. Mác tiên đoán sự cáo chung của lịch sử xảy ra “khi mà lao động không những là một phương tiện để sinh sống mà bản thân nó còn là một nhu cầu bậc nhất của sự sống” (C. Mác, 1875, tr.480). Mác đã phân biệt sự khác nhau giữa một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa với một giai đoạn cao hơn của xã hội cộng sản chủ nghĩa “khi sự phụ thuộc có tính chất nô dịch của họ đối với sự phân công lao động không còn nữa”. Ông cũng lưu ý không nên chỉ tập trung vào việc hàng hóa được phân phối như thế nào trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa, vì vấn đề cốt lõi là sản xuất. Bởi lẽ “khi mà cùng với sự phát triển toàn diện của các cá nhân, năng suất của họ cũng ngày càng tăng lên và tất cả các nguồn của cải xã hội đều tuôn ra dồi dào” (C. Mác, 1875, tr.480), khi đó sự phân phối của cải xã hội tự nó sẽ được bảo đảm.
Quan niệm xem lao động là nhu cầu bậc nhất của sự sống của C. Mác, một mặt, đặt ra vấn đề về luân lý của tiến trình phát triển, trong đó có cả trước và trong giai đoạn phát triển của xã hội cộng sản. Mặt khác, C.Mác khẳng định trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản rằng sự vận động của lịch sử sẽ chưa dừng lại cho đến khi “xuất hiện một liên hợp trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người” (C.Mác và Ăng-ghen, 1848, tr.569). Nói cách khác, trong xã hội cộng sản, lao động được xem là nhu cầu bậc nhất và con người đạt tới sự tự do thực sự, không mâu thuẫn với lợi ích chung của cộng đồng xã hội.
2. Đạo đức của chủ nghĩa tự do trong nền kinh tế thị trường tự do
Mùa hè năm 1989, trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh chuẩn bị kết thúc, Francis Fukuyama xuất bản bài viết “Sự cáo chung của lịch sử?”. Fukuyama, dựa trên quan niệm của triết gia người Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831), cho rằng thời điểm đó có thể được coi là lịch sử đã cáo chung, khi nền dân chủ tự do và chủ nghĩa tư bản với nền kinh tế thị trường tự do bắt đầu xác lập vị thế trên thế giới. Nói cách khác, theo Fukuyama “đó là điểm kết thúc trong cuộc tiến hóa tư tưởng của loài người và sự phổ quát hóa của dân chủ tự do phương Tây với tư cách là thể thức cuối cùng của sự cai trị con người” (Fukuyama, 1989, tr. 1). Quan điểm của Fukuyama đã tạo ra rất nhiều cuộc tranh luận trong gần bốn thập kỷ qua và cũng có không ít công trình, học giả đã chỉ ra những sai lầm trong nhận định của ông.
Adam Smith (1723-1790), người được xem là cha đẻ của kinh tế học hiện đại và đặt nền móng cho kinh tế thị trường tự do đã viết trong tác phẩm Sự thịnh vượng của các quốc gia, rằng: “Mỗi cá nhân đều không ngừng nỗ lực để tìm ra công việc có lợi nhất trong phạm vi mà người đó có thể sử dụng” và “thực ra, cá nhân đó không hề có ý định làm gia tăng lợi ích công cộng và cũng không biết là có thể tăng lợi ích đó lên được bao nhiêu”, “… anh ta được dẫn dắt bởi một bàn tay vô hình để thúc đẩy một mục đích không nằm trong dự định;… anh ta chỉ có ý định là thu về nhiều lợi ích nhất cho bản thân” (Smith, 2025, tr. 504-505). Adam Smith cho rằng bàn tay vô hình sẽ dẫn dắt việc phân bổ nguồn lực cho những mục đích mang lại lợi ích lớn nhất cho xã hội. Tác phẩm của Adam Smith được xem là chuyên luận tổng hợp đầu tiên mô tả cách nền kinh tế thị trường vận hành với những trụ cột cốt lõi là lợi ích cá nhân, phân công lao động và tích lũy vốn.
Điều mấu chốt trong học thuyết của Adam Smith và hầu hết các học giả theo trường phái kinh tế thị trường tự do cho đến tận ngày nay là dựa trên một nhận định cơ bản về bản chất con người: sự vị kỷ. Con người, trong nền kinh tế thị trường và nền dân chủ tự do, được mặc định là luôn theo đuổi lợi ích cá nhân và cố gắng hành động hợp lý để tối ưu hóa lợi ích của chính mình. Điều này là hợp lý dưới góc nhìn của học thuyết này, miễn là xã hội được vận hành theo cơ chế bàn tay vô hình.
Cho dù đã đặt ra những chuẩn mực về đạo đức của chủ nghĩa tư bản, chính Adam Smith cũng không ngờ rằng thế giới đã tiếp tục diễn biến theo hướng tranh đoạt và xung đột; thay vì con người quan hệ với nhau bằng cách hợp tác, họ lại thông qua cạnh tranh, tình yêu và sự tin cậy, buôn bán và trao đổi đã thay thế. Cạnh tranh thương mại và xung đột vũ trang đã diễn ra liên miên kể từ sau khi ông qua đời; trong đó, một trong những nguyên nhân cơ bản là con người được hợp lý hóa/thiết chế hóa để theo đuổi những lợi ích cá nhân, của cộng đồng hoặc của quốc gia. Nền dân chủ mà Fukuyama tuyên bố sẽ lấn át các loại hình nhà nước khác thực chất là sự pha trộn giữa giá trị tự do và lợi ích kinh tế cá nhân; hay nói một cách chân thực, con người được tự do theo đuổi sự vị kỷ của mình trong khuôn khổ một khế ước xã hội, đồng thời cố gắng dung hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
Trong khi đó, C.Mác và Ăng-ghen đã dành trọn đời mình cho sự tự do của con người. Sự tự do này khác về bản chất với định đề về sự tự do của con người trong nền kinh tế thị trường tự do. C. Mác đã viết rành mạch trong Chương 48 (Ba công thức), quyển III của bộ Tư bản, như: “Vương quốc của sự tự do hiện thực chỉ bắt đầu ở nơi nào không còn có lao động bị quy định bởi tính tất yếu và những lối xem xét trần tục” (C. Mác, 2020). Theo quan điểm của C.Mác, trong xã hội cộng sản chủ nghĩa, nhà nước sẽ tiêu vong như một thực thể chính trị và xung đột giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng sẽ chấm dứt. Sự chấm dứt này sẽ kéo theo sự cáo chung của mọi nguy cơ xung đột với khế ước xã hội, vốn được sinh ra để kiểm soát đời sống và sự tự do của cá nhân.
Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, C.Mác và Ăng-ghen đã nhận định: “Trong xã hội tư sản, lao động sống chỉ là một phương tiện để tăng thêm lao động tích lũy. Trong xã hội cộng sản, lao động tích lũy chỉ là một phương diện để mở rộng, làm phong phú và làm đẹp thêm đời sống của những người lao động” (C. Mác và Ăng-ghen, 1848, tr. 560). Sự phân biệt giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng chỉ là đặc trưng của một giai đoạn trong sự phát triển của con người, xuất hiện kể từ khi các xã hội sơ khai sống theo chế độ cộng đồng, chưa có sở hữu tư nhân, và bị tan vỡ. Chủ nghĩa tư bản đã khiến cho sự xung đột này thêm trầm trọng bằng cách quy mọi thứ thành hàng hóa và cạnh tranh; nói như C.Mác và Ăng-ghen, “không để lại giữa người với người một mối quan hệ nào khác, ngoài mối lợi lạnh lùng và lối trả tiền ngay, không tình không nghĩa” (C.Mác và Ăng-ghen, 1848, tr. 544). Những cuộc chiến tranh thương mại, áp đặt thuế quan cho đến những xung đột giữa các quốc gia kể cả vũ trang đương đại vì các lợi ích kinh tế, địa chính trị đã được Mác tiên lượng từ rất sớm trong Các bản thảo kinh tế và triết học (1844) bởi “Những động cơ duy nhất và kinh tế chính trị học vận dụng là lòng tham của cải và chiến tranh giữa những kẻ có lòng tham, tức là cạnh tranh” (C. Mác, 1844, tr.108).
Mặt khác, lý thuyết của Mác cũng nhìn nhận bản chất con người không phải là một phạm trù bất biến mà thay đổi, vận động theo các điều kiện kinh tế – xã hội của từng giai đoạn. Trong bức thư viết bằng tiếng Pháp gửi An-nen-cốp, đề ngày 28/12/1846, C.Mác đã phát biểu quan niệm về sự vận động của lịch sử. Theo đó, bánh xe lịch sử sẽ không dừng lại và sự ích kỷ, tính tham lam của con người cũng sẽ biến đổi khi cơ sở kinh tế của xã hội thay đổi. Việc xóa bỏ nền sở hữu tư nhân, tức là cơ sở của nền kinh tế thị trường tự do, sẽ làm thay đổi bản tính con người, khiến con người sống vì muốn điều tốt đẹp cho tất cả thay vì chỉ vì muốn lợi cho riêng mình. Qua đó, lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng được dung hòa mà không có xung đột hay mâu thuẫn.
Thực ra, C.Mác đã nhìn thấu bản thể thực sự của con người, đó là sự tự do lương thiện, không tham lam ích kỷ, như người phương Đông thường quan niệm: “nhân chi sơ, tính bản thiện”. Nói cách khác, sự vị kỷ không phải là bản tính thâm căn cố đế vĩnh viễn trong tính cách của con người. Các công dân của xã hội cộng sản sẽ tìm được hạnh phúc và sự tự do cho riêng mình bằng việc làm lợi cho mọi người và vì thế, xã hội cộng sản sẽ có một cơ sở luân lý mới. Ở đó, con người vượt qua tình trạng tha hóa và đạt đến trạng thái cuối cùng của sự tự do hoàn chỉnh.
Những ý kiến của C. Mác là viển vông khi ông viết rằng nguyên tắc phân phối đặc trưng trong giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, bởi ông luôn mặc định bản tính con người là vị kỷ. Chính ở luận điểm này, C.Mác đã chỉ ra rằng cấu trúc xã hội với cơ sở kinh tế tư bản khiến họ trở nên vị kỷ. Những hiểu biết hời hợt như vậy về chủ nghĩa C.Mác cũng là bởi vì không nắm vững rằng chủ nghĩa xã hội của C.Mác là một mô hình khoa học dựa trên các quy luật lịch sử khách quan.
Trong các bản thảo kinh tế và triết học (1844), C.Mác đã khẳng định chủ nghĩa cộng sản là “câu đố của lịch sử đã được giải quyết”. Sự giải quyết các mâu thuẫn khác nhau đã tồn tại trong toàn bộ lịch sử trước đó, gồm các xung đột giữa con người và giới tự nhiên, giữa con người với nhau, giữa tự do và tất yếu, giữa cá thể và toàn loài. Ngoài ra, cũng chính trong các bản thảo kinh tế và triết học, C.Mác đã phê phán các nhà kinh tế học cổ điển (như Adam Smith và David Ricardo) cho rằng, tư bản là lao động tích lũy và là tự nhiên chứ không phải là một quy định xã hội.
Theo C.Mác, họ đã không nhìn thấy toàn bộ điều này chỉ đúng trong một nhóm quan hệ xã hội; lao động được tích lũy chỉ có thể trở thành tư bản trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Bộ tác phẩm Tư bản (4 quyển) của C.Mác đã vạch rõ các quá trình mà con người đang sống trong trạng thái tha hóa: sự sáng tạo, thay vì được kiểm soát, lại bị các sản phẩm do chính mình tạo ra kiểm soát. Tình hình này có vẻ đang đúng với nhiều nhóm, cộng đồng và quốc gia trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo (AI) ngày nay.
Một số học giả phương Tây nhận xét rằng sự thấu hiểu tư bản của Mác tinh tế hơn so với sự hiểu biết của Adam Smith (George Soros, 1998). C.Mác hiểu rằng, tiền và các hàng hóa không có tính chất tư bản hơn so với các tư liệu sản xuất và phương tiện sinh sống; chính chúng ta muốn chuyển hóa chúng thành tư bản (Eugene Kamenka, 1993). Quyền sở hữu là vấn đề cốt lõi của chế độ tư bản chủ nghĩa tự do, bởi vì những người chiếm hữu tài sản nhận được nhiều thuộc tính vật chất của nó. Chính vì thế, khi thế giới tư bản càng phát triển và quyền sở hữu tư nhân được bảo vệ mạnh mẽ, tài sản, của cải xã hội lại càng tập trung ngày càng nhiều vào tay các nhà tư bản.
Kể từ khi Fukuyama viết “Sự cáo chung của lịch sử?”, bất bình đẳng về tài sản trên quy mô toàn cầu ngày càng gia tăng. Fukuyama cũng cho rằng chủ nghĩa tân tự do và bảo vệ chủ nghĩa tự do cổ điển, với các nguyên tắc tôn trọng cá nhân, quyền tự chủ, bảo vệ quyền sở hữu và quyền giao dịch, đưa công dân vào quy trình chính trị thông qua bầu cử,… Điều này cũng tương tự như việc ông viện dẫn bản sắc không được thừa nhận đã dẫn đến sự suy tàn của nền chính trị dân chủ tự do kiểu Âu Mỹ trong cuốn sách Bản sắc – Nhu cầu phẩm giá và chính trị phẫn nộ.
Trong quyển Capital in the Twenty-First Century (Tư bản trong Thế kỷ XXI), Thomas Piketty cho thấy, thị trường tự do không chỉ làm tăng khoảng cách giàu nghèo mà còn làm giảm thu nhập trung bình ở cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển.
3. Đạo đức chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ
Trở lại với tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gotha, C.Mác đã chỉ rõ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội khi viết: “Cái xã hội mà chúng ta nói ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội, về mọi phương diện – kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra” và “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa, là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và Nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản” (C. Mác, 1875, tr. 477, 491). Vậy câu hỏi đặt ra là đạo đức của xã hội trong thời kỳ quá độ là gì và đó có phải là đạo đức mà chủ nghĩa tự do và nền kinh tế thị trường tự do theo mô hình phương Tây bấy lâu nay theo đuổi không?
Trong thời kỳ quá độ, đạo đức xã hội rõ ràng hướng đến mục tiêu tự do của con người. Con người trong thời kỳ quá độ chưa được tự do thực sự vì hình thái kinh tế – xã hội này chưa được tổ chức để đời sống đáp ứng các nhu cầu của con người và phát triển toàn bộ năng lực của họ. Kinh tế thị trường, dù là một sáng tạo của con người và giúp mang lại của cải và sự giàu có, nhưng lại thống trị và trói buộc con người, khiến họ trở nên lệ thuộc. Do đó, nền kinh tế thị trường phải được đặt dưới định hướng xã hội chủ nghĩa; nói cách khác, phải được đặt trong khuôn khổ đạo đức, với những nguyên tắc và mục tiêu của xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Trong hệ tư tưởng Đức, C. Mác và Ăng-ghen gợi ý rằng, sự tự do, hạnh phúc của cá nhân không thể tách rời, xung đột với lợi ích chung khi viết: “Chỉ có trong cộng đồng với những người khác thì mỗi cá nhân mới có những phương tiện để phát triển toàn diện những năng khiếu của mình; chỉ có trong cộng đồng mới có thể có tự do cá nhân… Trong những cộng đồng thật sự, các cá nhân có được tự do, ngay khi họ liên hợp lại và nhờ sự liên hợp ấy” (C. Mác và Ăng-ghen, 1846, tr.345). Điều này hoàn toàn phù hợp với bối cảnh phát triển thực tiễn của Việt Nam hiện nay, khi nước ta luôn tôn trọng và đề cao sự phát triển của cá nhân trong cộng đồng, đồng thời duy trì khối đại đoàn kết dân tộc. Điều này cũng giúp lý giải tại sao văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác định việc tiếp tục hoàn thiện và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ.
Cũng trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Mác và Ăng-ghen kiến giải rằng trong xã hội cộng sản chủ nghĩa, sự phân công lao động sẽ không còn trói buộc con người vào những vai trò nghề nghiệp hạn hẹp và tình trạng tách rời giữa lợi ích riêng của cá nhân và lợi ích chung của xã hội cũng sẽ không còn. Điểm này có phần tương đồng với triết học về luân lý của Plato, khi triết gia này quan niệm con người đi tìm hạnh phúc cá nhân của mình thông qua hành vi ứng xử theo đức hạnh và việc phụng sự cộng đồng, vì thế, đạt được sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân và hạnh phúc với các nhu cầu của cộng đồng. Nhận thức rõ vấn đề này để tránh sự lầm lẫn giữa nền luân lý thời kỳ quá độ và nền luân lý trong xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Đối với C. Mác và Ăng-ghen, trong các xã hội trước xã hội cộng sản chủ nghĩa, luân lý là bộ phận của kiến trúc thượng tầng thuộc về tư tưởng xã hội, được quy định bởi cơ sở kinh tế và phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị. Điều đó không đồng nghĩa với việc toàn bộ nền luân lý của xã hội phải bị bác bỏ, mà cái bị bác bỏ là nền luân lý phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị. Mặt khác, trong thời kỳ quá độ, luân lý và các thiết chế xã hội không được đặt ra ngoài sự phát triển tổng thể của xã hội và không phải kinh tế quyết định mọi thứ như những người chống chủ nghĩa Mác thường diễn giải một cách cố chấp. Những điều này đã được C. Mác trình bày trong các tập ghi chép chưa được xuất bản khi ông còn sống có tên là Grundrisse.
Sau thời kỳ quá độ, chủ nghĩa cộng sản được thiết lập với nền sản xuất cộng sản chủ nghĩa, nơi không có sự bóc lột nào bị khuất lấp. Mọi thứ sẽ hiện diện một cách chân thực đúng như bản thân chúng. Đạo đức mới sẽ là sự chân thành phục vụ lợi ích của mọi người, thay vì che đậy các lợi ích cục bộ bằng những tấm màn khác nhau. Nền luân lý mới này có tính chất hoàn toàn khác với các nền luân lý trước kia, ngay cả nền luân lý của chủ thuyết công lợi vốn đang được đề cao ở nhiều nước tư bản hiện nay. Hình thức phổ quát của nó sẽ phù hợp với nội dung phổ quát của hình thái kinh tế – xã hội phi giai cấp nhằm tối đa hóa hạnh phúc của mọi người, như Mác đã kiến giải trong Quyển 1 của Tư bản. Khi đó, luân lý xã hội sẽ vượt qua nền luân lý giai cấp để đến với nền luân lý mà Ăng-ghen (trong tác phẩm Chống Đuy-rinh) gọi là “một nền luân lý nhân bản hiện thực”.
Tài liệu tham khảo:
Adam Smith (1759). The Theory of Moral Sentiment. https://www.ibiblio.org/ml/libri/s/SmithA_MoralSentiments_p.pdf)
Adam Smith (2025). Sự thịnh vượng của các quốc gia. Nxb Thế giới.
Ăng-ghen (1980). Chống Đuy-rinh. Tuyển tập Mác Ăng-ghen (Tập V). Nxb Sự Thật.
C. Mác (1980). Các bản thảo về kinh tế học và triết học. Tuyển tập Mác Ăng-ghen (Tập I). Nxb Sự Thật.
C. Mác (1980). Mác gửi Pa-ven Vát-xi-li-ê-vích An-nen-cốp, Tuyển tập Mác Ăng-ghen (Tập I). Nxb Sự Thật.
C. Mác (1980). Phê phán Cương lĩnh Gotha trong Tuyển tập Mác – Ăngghen (Tập IV). Nxb Sự Thật.
C. Mác (2020). Tư bản – Phê phán khoa học kinh tế chính trị, Quyển III. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
C. Mác và Ăng-ghen (1980). Hệ tư tưởng Đức (trích), Tuyển tập Mác – Ăngghen (Tập I). Nxb Sự Thật.
C. Mác và Ăngghen (1980). Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Tuyển tập Mác- Ăngghen (Tập I). Nxb Sự Thật.
Eugene Kamenka, ed (1993). The Portable Marx, Viking Penguin, New York, p.463.
Francis Fukuyama (1989). The End of History? National Interest, No.16 (Summer), pp 3–18.
Francis Fukuyama (2020). Bản sắc – Nhu cầu về phẩm giá và chính trị phẫn nộ. Nxb Đà Nẵng.
George Soros (1998). The Crisis of Global Capitalism: Open Society Endangered, New York Public Affairs, P.xxviii.
Thomas Piketty (2013). Capital in the Twenty-First Century. http://piketty.pse.ens.fr/en/capital21c2)



