Vận dụng mô hình phân tích diễn ngôn ba chiều Norman Fairclough trong quản trị thông tin báo chí về ứng phó thiên tai

Applying Norman Fairclough’s three-dimensional critical discourse analysis model to the governance of press information on disaster response

TS. Phan Văn Kiền
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Đỗ Bích Phương
Báo Vietnamnet
Email: kienpv@vnu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Mô hình phân tích diễn ngôn ba chiều của Norman Fairclough là khung lý thuyết có giá trị đối với quản trị thông tin báo chí vì cho phép đánh giá đồng thời sản phẩm ngôn ngữ, quy trình tạo lập thông tin và các điều kiện thể chế chi phối hoạt động truyền thông. Qua trường hợp minh họa là tiêu đề về cảnh báo, sơ tán, cứu hộ và khắc phục hậu quả bão lũ, bài viết cho thấy, mô hình có thể hỗ trợ nhận diện cách báo chí phân bổ vai trò tác nhân, biểu hiện trách nhiệm của cơ quan công quyền, tổ chức nguồn tin và định vị người dân trong quản trị rủi ro. Trên cơ sở đó, mô hình Norman Fairclough có thể góp phần đánh giá chất lượng thông tin, hoàn thiện quy trình biên tập và tăng cường trách nhiệm giải trình của báo chí trong môi trường số.

Từ khóa: Phân tích diễn ngôn phê phán; mô hình ba chiều; Norman Fairclough; tiêu đề báo chí; ứng phó thiên tai; quản trị thông tin.

Abstract: Norman Fairclough’s three-dimensional discourse analysis model is a valuable theoretical framework for journalism information management because it allows for the simultaneous evaluation of linguistic products, information-production processes, and the institutional conditions that govern media activities. Using the illustrative case of headlines regarding warnings, evacuations, rescue operations, and post-disaster recovery following storms and floods, this article demonstrates that the model can help identify how the press allocates the roles of various actors, portrays the responsibilities of public authorities and news sources, and positions the public within risk management. Based on this, Norman Fairclough’s model can contribute to evaluating the quality of information, refining editorial processes, and strengthening the media’s accountability in the digital environment.

Keywords: Critical discourse analysis; three-dimensional model; Norman Fairclough; news headlines; disaster response; information governance.

1. Đặt vấn đề

Trong môi trường truyền thông số, tiêu đề không chỉ làm nhiệm vụ gọi tên một văn bản báo chí. Đó là đơn vị thông tin xuất hiện sớm nhất trên trang chủ, công cụ tìm kiếm, mạng xã hội và thông báo đẩy; nhiều khi cũng là phần duy nhất công chúng đọc trước khi hình thành nhận định về sự kiện. Với thông tin ứng phó thiên tai, mỗi lựa chọn về chủ thể, động từ, cấu trúc chủ động hay bị động đều có thể làm nổi bật mức độ rủi ro, xác định cơ quan chịu trách nhiệm hoặc định hướng hành động của cộng đồng. Vì vậy, nghiên cứu tiêu đề chỉ ở phương diện đúng – sai ngữ pháp, độ ngắn gọn hay khả năng thu hút chưa đủ để giải thích vai trò xã hội và quản trị của nó.

Phân tích diễn ngôn phê phán – Critical Discourse Analysis (CDA), cung cấp một hướng tiếp cận phù hợp để kết nối ngôn ngữ với xã hội. Trong số các khung nghiên cứu CDA, mô hình ba chiều của Norman Fairclough có ưu điểm nổi bật là tạo ra một lộ trình phân tích tương đối rõ: mô tả đặc điểm văn bản, diễn giải quá trình sản xuất và tiếp nhận văn bản, sau đó giải thích những điều kiện xã hội chi phối quá trình đó. Mô hình không coi ngôn ngữ chỉ phản ánh hiện thực mà nhấn mạnh khả năng của diễn ngôn trong việc kiến tạo hiện thực, duy trì hoặc thách thức quan hệ quyền lực.

Bài viết giới thiệu nội dung cốt lõi của mô hình ba chiều và đề xuất cách sử dụng mô hình như một công cụ quản trị thông tin báo chí, từ đánh giá tiêu đề, kiểm soát nguồn tin đến rà soát quy trình biên tập và trách nhiệm giải trình. Tiêu đề về cảnh báo, sơ tán, cứu hộ và khắc phục hậu quả bão lũ chỉ được sử dụng như trường hợp minh họa cho thao tác lý thuyết. Mục đích không phải đánh giá một cơ quan báo chí cụ thể, mà làm rõ cách khung phân tích hỗ trợ nhà quản lý và tòa soạn đi từ dấu hiệu ngôn ngữ đến quy trình nghề nghiệp, cơ chế phối hợp thông tin và điều kiện quản trị tạo ra dấu hiệu ấy.

2. Từ phân tích diễn ngôn đến phân tích diễn ngôn phê phán

Khái niệm diễn ngôn được hình thành và phát triển trong nhiều truyền thống học thuật. Ở nghĩa ngôn ngữ học, diễn ngôn thường được hiểu là ngôn ngữ đang được sử dụng trong một tình huống giao tiếp cụ thể, vượt ra ngoài phạm vi của câu riêng lẻ. Brown và Yule (1983) cho rằng, phân tích diễn ngôn là phân tích ngôn ngữ trong hành chức; vì vậy, nhà nghiên cứu không thể chỉ mô tả hình thức mà bỏ qua mục đích và chức năng của ngôn ngữ trong hoạt động của con người. Ở hướng tiếp cận xã hội học, Foucault (1972) nhấn mạnh, diễn ngôn như một hệ thống quy tắc tạo ra đối tượng tri thức, xác lập điều gì có thể được nói, ai có quyền nói và phát ngôn nào được thừa nhận là có giá trị. Hai hướng tiếp cận này gặp nhau ở nhận thức rằng văn bản luôn gắn với điều kiện sử dụng và trật tự xã hội.

CDA phát triển từ nhận thức đó nhưng đặt trọng tâm rõ hơn vào quan hệ giữa ngôn ngữ, hệ tư tưởng và quyền lực. Fairclough (1989, 1992, 1995) cho rằng, diễn ngôn vừa được cấu trúc xã hội định hình, vừa góp phần tái tạo hoặc biến đổi cấu trúc xã hội. Quan hệ này mang tính biện chứng. Thiết chế, quy tắc nghề nghiệp và vị thế của các chủ thể ảnh hưởng đến cách phát ngôn; ngược lại, việc lặp lại một kiểu định danh, một trật tự thông tin hay một cách quy trách nhiệm có thể củng cố nhận thức xã hội và làm cho một trật tự quyền lực trở nên hiển nhiên.

Tính “phê phán” của CDA không đồng nghĩa với việc nhà nghiên cứu mặc định phủ nhận văn bản hoặc tìm lỗi trong mọi cách diễn đạt. Phê phán trước hết là làm lộ ra những giả định đã bị tự nhiên hóa, những quan hệ bất đối xứng và hệ quả xã hội của lựa chọn ngôn ngữ. Một tiêu đề có thể đúng về sự kiện nhưng vẫn tổ chức sự kiện theo một góc nhìn nhất định. Chẳng hạn, “mưa lớn gây ngập nhiều khu dân cư” biểu hiện thiên tai như tác nhân chính, còn “hệ thống thoát nước quá tải khiến nhiều khu dân cư ngập sâu” đưa năng lực hạ tầng vào quan hệ nguyên nhân. Tương tự, “hàng nghìn người được sơ tán” nhấn mạnh kết quả nhưng làm mờ chủ thể tổ chức, trong khi “chính quyền địa phương sơ tán hàng nghìn người khỏi vùng nguy hiểm” biểu hiện rõ hơn trách nhiệm công quyền.

3. Nội dung cốt lõi của mô hình phân tích diễn ngôn ba chiều

Fairclough (1992) hình dung mọi sự kiện diễn ngôn đồng thời tồn tại ở ba phương diện: một văn bản; một trường hợp của thực hành diễn ngôn, bao gồm sản xuất, phân phối và tiêu thụ văn bản; và một bộ phận của thực hành xã hội. Ba phương diện không phải ba bước tách biệt tuyệt đối mà là ba lớp lồng ghép. Văn bản mang dấu vết của quá trình sản xuất; quá trình sản xuất diễn ra trong thiết chế; thiết chế lại chịu tác động của quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa và lịch sử. Tương ứng với ba chiều là ba thao tác: mô tả, diễn giải và giải thích.

Thứ nhất, chiều văn bản.

Chiều thứ nhất tập trung vào các đặc điểm có thể quan sát trong văn bản như từ vựng, ngữ pháp, liên kết, cấu trúc thông tin, tình thái và tổ chức thể loại. Đối với tiêu đề báo chí, những câu hỏi cơ bản gồm: chủ thể nào được đưa lên đầu; ai được biểu hiện như tác nhân; hành động nào được gọi tên; ai chịu tác động; động từ mang sắc thái mạnh hay giảm nhẹ; câu chủ động hay bị động; nguồn phát ngôn nào được ưu tiên; và chi tiết nào bị lược bỏ. Mục tiêu không phải lập danh sách hình thức ngôn ngữ, mà nhận diện cách các hình thức đó xây dựng một phiên bản của sự kiện.

Ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday là công cụ bổ trợ hữu ích ở tầng này. Halliday và Matthiessen (2014) cho rằng ngôn ngữ đồng thời thực hiện ba “siêu chức năng”: kiến tạo kinh nghiệm, thiết lập quan hệ liên nhân và tổ chức thông điệp. Trong nghiên cứu tiêu đề, hệ thống chuyển tác thuộc siêu chức năng kinh nghiệm giúp xác định ai làm gì với ai và sự kiện được biểu hiện như hành động, phát ngôn, trạng thái hay sự tồn tại. Quá trình vật chất tái hiện các hoạt động cảnh báo, sơ tán, cứu hộ và khắc phục; quá trình phát ngôn phân bổ thẩm quyền cho cơ quan dự báo hoặc người chỉ huy; quá trình quan hệ gán mức độ nguy hiểm, khẩn cấp hay an toàn cho hiện tượng và địa bàn. Việc lựa chọn loại quá trình có thể làm nổi bật năng lực hành động, tư cách phát ngôn và trách nhiệm của từng chủ thể.

Phân tích từ vựng cần chú ý cả ý nghĩa biểu vật và giá trị đánh giá. Các động từ, như “cảnh báo”, “yêu cầu”, “khuyến cáo”, “di dời”, “sơ tán” hay “cưỡng chế” có thể cùng hướng tới giảm thiểu rủi ro nhưng khác về thẩm quyền, mức độ bắt buộc và quan hệ giữa cơ quan công quyền với người dân. Danh hóa cũng đáng lưu ý: khi hành động được chuyển thành danh từ như “công tác sơ tán” hoặc “việc khắc phục”, tác nhân thực hiện có thể bị nén lại. Tuy nhiên, không thể suy ra cách định khung chỉ từ một từ riêng lẻ. Cần khảo sát mẫu hình lặp lại, vị trí của từ trong cấu trúc tiêu đề và sự kết hợp của nó với chủ thể, nguồn tin và bối cảnh.

Thứ hai, chiều thực hành diễn ngôn.

Chiều thứ hai xem xét văn bản được tạo ra, lưu chuyển và tiếp nhận như thế nào. Trong báo chí, đây là không gian của quy trình chọn sự kiện, sử dụng nguồn tin, viết, dịch, biên tập, đặt tiêu đề, xuất bản, phân phối và cập nhật. Một tiêu đề có thể do phóng viên viết, nhưng cũng có thể được biên tập viên sửa theo phong cách tòa soạn, được rút gọn khi hiển thị trên nền tảng hoặc được điều chỉnh sau khi có thông tin mới. Vì vậy, không nên đồng nhất mọi lựa chọn trong tiêu đề với ý định cá nhân của tác giả.

Tính liên văn bản là khái niệm quan trọng ở chiều này. Tin thiên tai thường chứa hoặc tái diễn đạt thông tin của cơ quan khí tượng, chính quyền địa phương, lực lượng cứu hộ, chuyên gia và người dân tại địa bàn. Việc lựa chọn nguồn nào để dẫn, đặt lời của ai trong dấu ngoặc kép và dùng động từ dẫn nào đều ảnh hưởng đến vị thế của phát ngôn. “Cảnh báo”, “dự báo”, “khuyến cáo” và “yêu cầu” không tạo ra cùng một mức độ chắc chắn và bắt buộc. Khi tòa soạn chuyển một bản tin dự báo hoặc công điện điều hành thành tiêu đề báo chí, thông tin đã được tái ngữ cảnh hóa: từ văn bản chuyên môn hoặc hành chính sang thông điệp đại chúng cần ngắn gọn, dễ hiểu và có khả năng thúc đẩy hành động.

Đối tượng độc giả cũng tham gia định hình diễn ngôn. Lý thuyết thiết kế hướng tới độc giả của Bell (1991) gợi ý rằng, người làm báo điều chỉnh phong cách theo hình dung về công chúng đích. Một cơ quan báo địa phương có thể ưu tiên địa danh, thời điểm và chỉ dẫn cụ thể cho người dân trong vùng ảnh hưởng; một cơ quan báo chí có phạm vi toàn quốc có thể nhấn mạnh quy mô, khả năng phối hợp liên vùng và quyết định điều hành. Báo dành cho công chúng phổ thông cần giải thích thuật ngữ dự báo khác với ấn phẩm chuyên ngành. Các giả thuyết này cần được kiểm tra bằng quy chuẩn biên tập, mô hình nguồn tin, phỏng vấn người làm báo hoặc so sánh nhiều nhóm văn bản, chứ không chỉ suy đoán từ một tiêu đề.

Thứ ba, chiều thực hành xã hội.

Chiều thứ ba giải thích sự kiện diễn ngôn trong quan hệ với cấu trúc và thực tiễn xã hội rộng hơn. Trong truyền thông thiên tai, những yếu tố thường được xem xét gồm hệ thống quản lý rủi ro, phân cấp trách nhiệm, mô hình sở hữu truyền thông, quan hệ nhà nước – báo chí – người dân, năng lực dự báo, điều kiện hạ tầng và quan niệm về trách nhiệm cộng đồng. Ở tầng này, nhà nghiên cứu đi từ câu hỏi “văn bản nói gì và được làm ra như thế nào” đến câu hỏi “vì sao cách nói này có điều kiện xuất hiện, được chấp nhận và lặp lại”.

Đối với quản trị thông tin báo chí, chiều thực hành xã hội giúp chuyển trọng tâm từ kiểm tra câu chữ riêng lẻ sang đánh giá hệ thống điều kiện tạo ra thông tin. Chất lượng truyền thông không chỉ phụ thuộc vào năng lực viết tiêu đề của một phóng viên mà còn liên quan đến cơ chế kiểm chứng, sự đa dạng nguồn tin, quy trình sửa sai, áp lực thị trường, năng lực dữ liệu và nguyên tắc trách nhiệm giải trình của cơ quan báo chí. Đây là điểm nối quan trọng giữa một lý thuyết ngôn ngữ – xã hội với các vấn đề quản lý nhà nước và quản trị truyền thông hiện nay.

4. Cơ chế liên kết ba chiều trong phân tích tiêu đề tin tức

Giá trị của mô hình Fairclough nằm ở mối liên kết giữa ba chiều, không phải ở việc áp dụng ba danh mục độc lập. Có thể hình dung chuỗi phân tích, như sau: trước hết nhận diện một mẫu hình văn bản; tiếp đó truy tìm quy trình diễn ngôn tạo ra mẫu hình; cuối cùng giải thích quy trình ấy trong bối cảnh thiết chế và xã hội. Sau khi có lời giải thích ở tầng xã hội, nhà nghiên cứu quay lại văn bản để kiểm tra xem diễn giải đó có nhất quán với toàn bộ dữ liệu hay không. Phân tích vì thế mang tính tuần hoàn, cho phép điều chỉnh giả thuyết thay vì áp đặt sẵn kết luận.

Chẳng hạn, nếu một nhóm tiêu đề thường đặt chính quyền địa phương ở vị trí chủ ngữ đi kèm các động từ “chỉ đạo”, “yêu cầu”, “huy động” và “sơ tán”, chiều văn bản ghi nhận sự nổi trội của chủ thể công quyền và trường từ vựng điều hành. Chiều thực hành diễn ngôn sẽ kiểm tra nguồn tin có chủ yếu đến từ cơ quan chỉ huy phòng, chống thiên tai hay không, tiêu đề có được biên tập từ thông báo hành chính không và thông tin của người dân có được phản ánh hay không. Chiều thực hành xã hội xem xét cơ chế phân cấp, yêu cầu phản ứng khẩn cấp và kỳ vọng của cộng đồng khiến cách mô tả ấy có tính ưu thế. Nếu dữ liệu nguồn tin không ủng hộ giả thuyết ban đầu, nhà nghiên cứu phải tìm cách giải thích khác.

Một ma trận phân tích gồm ba cột có thể được sử dụng để tổ chức chứng cứ. Cột văn bản ghi dấu hiệu ngôn ngữ và tần suất; cột thực hành diễn ngôn ghi nguồn, thể loại, quy trình biên tập, kênh phân phối và công chúng đích; cột thực hành xã hội ghi thiết chế, chính sách, quan hệ quyền lực và bối cảnh lịch sử có liên quan. Mỗi kết luận quan trọng cần có chứng cứ ở ít nhất hai tầng và tốt nhất là được đối chiếu ở cả ba tầng. Cách làm này giúp hạn chế tình trạng gán động cơ chính trị cho văn bản chỉ dựa trên cảm nhận của người phân tích (Bảng 1).

Bảng 1. Khung liên kết ba chiều trong phân tích diễn ngôn báo chí

Chiều phân tíchCâu hỏi trung tâmDữ liệu ưu tiênKết quả cần đạt
Văn bảnSự kiện được biểu hiện bằng lựa chọn ngôn ngữ nào?Từ vựng, chuyển tác, tác nhân, tình thái, cấu trúc thông tinMẫu hình kiến tạo chủ thể, hành động và trách nhiệm
Thực hành diễn ngônVăn bản được sản xuất, lưu chuyển và tiếp nhận ra sao?Nguồn tin, biên tập, dịch, liên văn bản, nền tảng, công chúngCơ chế nghề nghiệp và thiết chế tạo ra mẫu hình
Thực hành xã hộiĐiều kiện xã hội nào làm cách diễn đạt trở nên khả hữu?Phân cấp, chính sách, hạ tầng, quan hệ quyền lực và văn hóa rủi roGiải thích có căn cứ về quan niệm quản trị và hệ quả xã hội

5. Vận dụng mô hình trong quản trị thông tin báo chí

Để vận dụng mô hình ba chiều một cách minh bạch, nghiên cứu có thể bắt đầu bằng việc xác định rõ vấn đề diễn ngôn và đơn vị phân tích. Nếu đối tượng là tiêu đề về một đợt bão hoặc mưa lũ, cần quy định khoảng thời gian theo các giai đoạn trước, trong và sau thiên tai; loại bài; địa bàn; phiên bản hiển thị; và nguyên tắc xử lý tiêu đề được cập nhật. Dữ liệu nên được lưu cùng ngày giờ, đường dẫn, nội dung dẫn nhập, nguồn tin và ảnh chụp màn hình khi cần thiết. Đây là yêu cầu quan trọng trong môi trường số, nơi tiêu đề có thể thay đổi theo diễn biến và cấp độ cảnh báo.

Bước tiếp theo là xây dựng bộ mã ở chiều văn bản. Các nhóm biến có thể bao gồm chủ thể xuất hiện, vị trí cú pháp, loại quá trình chuyển tác, thể chủ động hoặc bị động, động từ đánh giá, phương thức định danh, nguồn phát ngôn, cấp độ cảnh báo, thiệt hại, nhóm dễ bị tổn thương và dấu hiệu tình thái. Bộ mã cần có định nghĩa thao tác, ví dụ bao gồm và loại trừ, quy tắc xử lý trường hợp mơ hồ. Nếu có nhiều người mã hóa, nên thử nghiệm trên một phần dữ liệu, thảo luận sai khác và báo cáo độ tin cậy. Định lượng hỗ trợ nhận diện mẫu hình, nhưng các ví dụ định tính vẫn cần thiết để giải thích cơ chế tạo nghĩa.

Ở chiều thực hành xã hội, chỉ nên chọn những yếu tố bối cảnh có khả năng giải thích trực tiếp cho mẫu hình đã phát hiện. Việc trình bày toàn bộ lịch sử thiên tai hoặc hệ thống hành chính có thể làm nghiên cứu dàn trải nhưng không tăng sức giải thích. Những dữ liệu phù hợp hơn là cơ chế phân cấp ứng phó, vị trí của cơ quan báo chí trong hệ thống truyền thông, nguyên tắc cung cấp thông tin khẩn cấp, năng lực hạ tầng và các tranh luận công khai về trách nhiệm phòng ngừa, cứu hộ, khắc phục hậu quả. Nguồn bối cảnh cần đa dạng, ưu tiên văn bản chính sách, tài liệu của tổ chức và nghiên cứu học thuật có thể kiểm chứng.

Sau cùng là tích hợp ba tầng bằng những mệnh đề giải thích có điều kiện. Thay vì viết “tờ báo dùng câu bị động để che giấu tác nhân”, nên diễn đạt thận trọng hơn: “mẫu hình bị động làm giảm mức độ hiển thị của tác nhân; sự phân bố không cân xứng của mẫu hình, kết hợp với cấu trúc nguồn tin và định hướng thể chế, cho thấy khả năng diễn ngôn ưu tiên cách nhìn nhất định”. Cách diễn đạt này phân biệt dữ liệu, suy luận và mức độ chắc chắn, đồng thời tránh biến CDA thành công cụ khẳng định định kiến sẵn có.

6. Giá trị và những giới hạn cần lưu ý

Mô hình ba chiều có ba giá trị nổi bật. Trước hết, mô hình khắc phục sự tách rời giữa phân tích ngôn ngữ và phân tích xã hội, cho phép giải thích vì sao một chi tiết nhỏ trong tiêu đề có thể liên quan đến quy trình nghề nghiệp và quan hệ quyền lực. Thứ hai, mô hình có tính linh hoạt, có thể kết hợp với ngôn ngữ học chức năng hệ thống, lý thuyết đóng khung, phân tích liên văn bản, thống kê ngữ liệu và phỏng vấn. Thứ ba, mô hình tạo cầu nối giữa nghiên cứu và thực hành quản trị: phát hiện về diễn ngôn có thể gợi ý sửa đổi quy trình nguồn tin, biên tập, đào tạo và đánh giá chất lượng truyền thông.

Tuy nhiên, tính mở của mô hình cũng là một giới hạn. Fairclough không cung cấp một bộ mã cố định cho mọi nghiên cứu; người sử dụng phải lựa chọn công cụ ngôn ngữ và dữ liệu bối cảnh phù hợp. Quá nhiều khái niệm có thể khiến phân tích dàn trải, trong khi quá ít chứng cứ lại dẫn đến suy diễn. CDA cũng thường bị phê bình về tính chủ quan, xu hướng chọn văn bản phù hợp với lập trường của người nghiên cứu và nguy cơ xem mọi khác biệt ngôn ngữ đều là biểu hiện của thống trị. Để khắc phục, cần công khai tiêu chí chọn mẫu, quy trình mã hóa, trường hợp ngoại lệ và khả năng giải thích thay thế.

7. Kết luận

Mô hình ba chiều của Norman Fairclough cho phép nhìn văn bản báo chí như điểm giao giữa lựa chọn ngôn ngữ, quy trình truyền thông và cấu trúc xã hội. Ở chiều văn bản, nhà nghiên cứu mô tả cách chủ thể, hành động, trách nhiệm và giá trị được biểu hiện. Ở chiều thực hành diễn ngôn, các dấu hiệu đó được giải thích thông qua nguồn tin, biên tập, liên văn bản, phân phối và công chúng. Ở chiều thực hành xã hội, phân tích làm rõ điều kiện thể chế, chính trị và hệ tư tưởng khiến một cách diễn đạt có khả năng trở thành phổ biến. Sự liên kết của ba chiều giúp tránh cả hai cực đoan: chỉ đếm từ ngữ mà không lý giải xã hội, hoặc suy luận về quyền lực mà thiếu chứng cứ văn bản.

Trong nghiên cứu tiêu đề báo chí về ứng phó thiên tai, mô hình có thể làm rõ cách báo chí định danh chủ thể, phân bổ vị trí tác nhân, tổ chức tiếng nói, biểu hiện mức độ khẩn cấp và kiến tạo trách nhiệm công. Đối với quản trị thông tin báo chí và truyền thông công, mô hình còn cung cấp cơ sở để đánh giá không chỉ sản phẩm cuối cùng mà cả quy trình và môi trường tạo ra sản phẩm. Việc vận dụng có hiệu quả đòi hỏi bộ mã minh bạch, dữ liệu đa nguồn, diễn giải có điều kiện và thái độ phản tư. Khi những yêu cầu đó được đáp ứng, phân tích diễn ngôn phê phán trở thành công cụ nhận diện cơ chế, cải thiện chất lượng cảnh báo và tăng cường trách nhiệm giải trình trong quản trị rủi ro thiên tai.

Tài liệu tham khảo:
Bell, A. (1991). The language of news media. Oxford: Blackwell.
Brown, G. & Yule, G. (1983). Discourse analysis. Cambridge: Cambridge University Press.
Fairclough, N. (1989). Language and power. London: Longman.
Fairclough, N. (1992). Discourse and social change. Cambridge: Polity Press.
Fairclough, N. (1995). Critical discourse analysis: The critical study of language. London: Longman.
Foucault, M. (1972). The archaeology of knowledge and the discourse on language. New York: Pantheon Books.
Halliday, M. A. K. & Matthiessen, C. M. I. M. (2014). Halliday’s introduction to functional grammar (4th ed.). London: Routledge.
Nguyễn Hòa (2008). Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lý luận và phương pháp. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguyễn Hòa (2024). Phân tích diễn ngôn phê phán là gì? VNU Journal of Foreign Studies, 40(5), 1-22.
Nguyễn Thị Hải Hà (2025). Áp dụng thuyết đóng khung và phân tích diễn ngôn phê phán trong phân tích hệ tư tưởng: Trường hợp The New York Times. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 9/2025.
Teo, P. (2000). Racism in the news: A critical discourse analysis of news reporting in two Australian newspapers. Discourse & Society, 11(1), 7-49.
Van Dijk, T. A. (2011). Discourse and ideology. In T. A. van Dijk (Ed.). Discourse studies: A multidisciplinary introduction (2nd ed., pp. 379-407). London: Sage.
Wodak, R. & Meyer, M. (Eds.). (2016). Methods of critical discourse studies (3rd ed.). London: Sage.